BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN XUÂN AN VIỆT
THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM
(Khảo sát trên báo Nhân dân, Tuổi trẻ, Thanh niên, Giáo dục và Thời đại
từ 2005 đến 2010)
LUẬN ÁN TIẾN SỸ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN XUÂN AN VIỆT
THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM
(Khảo sát trên báo Nhân dân, Tuổi trẻ, Thanh niên, Giáo dục và Thời đại
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Báo chí,
khoa Phát thanh- truyền hình, Học viện Báo chí Tuyên truyền đã truyền tải tri
thức, tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn
thành luận án. Đồng thời, tôi xin cảm ơn các nhà quản lý, lãnh đạo, các phóng
viên các cơ quan báo chí đã chuyển tải những thông tin quý báo giúp tôi có cơ
sở tin cậy để hoàn thành luận án.
Tác giả xin đặc biệt cảm ơn TS. Nguyễn Tuấn Phong và TS. Lưu Hồng
Minh - đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận
án này.
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, song luận án không tránh khỏi những
khiếm khuyết. Tác giả mong sẽ tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các
thầy cô để luận án được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Xuân An Việt
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ĐT
: Đào tạo
GD
: Giáo dục
“Nhân Dân” (ND), Tuổi trẻ (TT),” Thanh niên” (TN), “Giáo dục và Thời đại”
(GDTĐ) từ năm 2005 đến năm 2010 .......................................................... 77
Bảng 2.4. Tương quan giữa tính chất bài viết với các chủ trương, chính sách về
giáo dục .................................................................................................... 80
Bảng 2.5. Thông tin về hoạt động đổi mới giáo dục các bậc học trên các báo .. 93
Bảng 2.6:Tần suất thể loại được sử dụng trên các báo ..................................... 102
Bảng 2.7. Ngôn ngữ bài viếtvới thông tin về GDĐT ........................................ 105
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ ý kiến về mục đích tiếp cận thông tin trên báo in (%) .......... 82
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ ý kiến về mức độ quan tâm đến các loại thông tin GDĐT trên
báo in (%) ................................................................................................. 83
Biểu đồ 2.3. Tỷ lệ nhân vật được nhắc đến trong thông tin phản biện chính sách.... 84
Biểu đồ 2.4. Tỷ lệ % bài viết có giải thích mô hình giảng dạy ........................... 88
Biểu đồ 2.5. Người đưa ra các mô hình giảng dạy.............................................. 88
Biểu đồ 2.6. Nguyên nhân của các câu chuyện tích cực ..................................... 91
Biểu đồ 2.7. Bài viết có hoặc không đề cập đến hướng giải quyết ..................... 93
Biểu đồ 2.8. Tương quan giới tính và đánh giá nội dung thông tin trên báo in
hiện nay (%) ............................................................................................. 98
Biểu đồ 2.9: Nhận xét chung về chất lượng nội dung TT GDĐT trên báo in ............ 108
Biểu đồ 2.10. Đánh giá mức độ thiết thực của thông tin trên báo in(%) .......... 114
Biểu đồ 2.11: Đề xuất kiến nghị đối với TT GDĐT trên báo in ................................. 116
Hình 3.1 . Mô hình thông tin GDĐT trên báo in .............................................. 141
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI .......................................................... 18
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRÊN BÁO IN ................................................................................................................33
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài .................................................... 33
Quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng, trong đó có những
nội dung cơ bản là: Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư
tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng
thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện phù hợp với
yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt
Nam. Cụ thể Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII xác định, phát triển giáo dục
và đào tạo cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu,
do vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển
giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan
trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục
ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ
người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, bên
cạnh những thành tựu, kết quả, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong
đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Chính sách về
GDĐT trong thời gian qua thiếu đồng bộ, còn chắp vá; nhiều cơ chế, giải pháp
2
về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợp với giai đoạn
phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh, bổ sung.
Nghị quyết Số: 29-NQ/TW ban hành ngày 4/11/2013 “Về đổi mới căn
lưỡng về nội dung này, cung cấp cho độc giả mọi thông tin về từng bước phát
triển, thực hiện đổi mới giáo dục. Các báo đã góp phần tuyên truyền, quán triệt
sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các định hướng và
nhiệm vụ chủ yếu của ngành giáo dục; góp phần mở rộng tầm nhìn cho công
4
chúng, cung cấp thông tin nhằm giúp công chúng nắm được tiến trình đổi mới
giáo dục ở nước ta; thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự
tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc phát
triển giáo dục. Nhưng bên cạnh đó, các báo vẫn còn những hạn chế nhất định
trong thông tin về GDĐT như hình thức thông tin còn kém hấp dẫn, thông tin
còn hời hợt, kém chất lượng.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Thông tin về giáo dục và đào tạo
trên báo in ở Việt Nam” (khảo sát báo Nhân dân, Tuổi trẻ , Thanh niên, Giáo
dục và Thời đại từ năm 2005 đến 2010), đồng thời với thời điểm hoàn thành
luận án của tác giả vào năm 2017 nên tác giả đã mở rộng nghiên cứu thông tin
về giáo dục và đào tạo từ năm 2010 đến 2017 để nghiên cứu. Có thể nói, đây là
một yêu cầu bức xúc và cần thiết, nhằm phát huy được hiệu quả thông tin về
lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên báo chí, đặc biệt là công cuộc đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay đang được thực hiện.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận thông tin về giáo dục và
đào tạo trên báo, khảo sát thực trạng, đánh giá ưu điểm hạn chế về nội dung và hình
thức của thông tin về GDĐT trên báo in, từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị
nhằm nâng cao chất lượng thông tin về GDĐT, và đề xuất mô hình thông tin về
giáo dục và đào tạo để có thể ứng dụng trên báo in ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận án thực hiện nhiệm vụ cụ thể như sau:
trang giáo dục và có ảnh hưởng mạnh trong xã hội với số lượng phát hành báo
hơn 300.000 bản/ngày, có thời điểm lên đến 400.000 bản/ngày.
- Tuổi trẻ là tờ báo của Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh. Báo có chuyên
trang giáo dục riêng và cũng là một trong những tờ báo có ảnh hưởng với xã hội,
đặc biệt là công chúng phía Nam với số lượng phát hành 400.000 bản/ngày
Tổng hợp các tin bài phản ánh trên 4 tờ báo trên, ngành Giáo dục cơ bản
có thể tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề về thông tin giáo dục và đào tạo đang
cần có thêm ý kiến của dư luận xã hội. Tất nhiên, trước những vấn đề đổi mới
mạnh mẽ, vấn đề nhạy cảm của giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục các cấp
không chỉ dựa vào 4 tờ báo trên để nắm thông tin, mà còn phải lắng nghe ý kiến
từ công chúng, từ nhiều loại hình báo chí khác.
Phạm vi nghiên cứu đề tài là thông tin về GDĐT trên loại hình báo in.
6
Thời gian khảo sát: từ tháng 01/ 2005 đến tháng 12/ 2010 (Thông tin mở
rộng đến năm 2017)
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận của
chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách pháp
luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về báo chí và giáo dục và đào tạo cũng
như các ngành khoa học liên quan.
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở các lý thuyết như:
-Lý thuyết truyền thông
Một số lý thuyết truyền thông: lý thuyết xâm nhập xã hội; lý thuyết xét
đoán xã hội; lý thuyết học tập; lý thuyết truyền bá cái mới; lý thuyết thuyết
phục; lý thuyết truyền thông điệp cho đối tượng; lý thuyết sử dụng; lý thuyết
sử dụng và hài lòng...
Trong môi trường thông tin, lý thuyết “Sử dụng và hài lòng” coi việc có
Trong môi trường thông tin, lý thuyết “sử dụng và hài lòng” đóng vai trò
quan trọng, có thể giúp chúng ta hiểu sâu hơn về công chúng hiện đại, từ đó giúp
các cơ quan báo chí thay đổi các phương thức tác nghiệp, cung cấp cho xã hội
những sản phẩm báo chí truyền thông phù hợp với thời đại.
Bản chất xã hội của truyền thông quá trình giao tiếp xã hội, quá trình liên
kết xã hội và quá trình can thiệp xã hội. Nói cách khác, đó là quá trình biện
chứng. Con người sau khi được truyền thông xã hội hóa có thể trở nên văn minh
hơn và khi con người, xã hội càng phát triển thì nhu cầu, năng lực và khả năng
đáp ứng của truyền thông càng cao [ 37; tr.120]
Quá trình truyền thông là sự truyền đi của các thông điệp (ý nghĩ, thông
tin, tư tưởng, ý tưởng, ý kiến, kiến thức...) từ một người hay một nhóm người
đến người khác hay một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc
các tín hiệu khác. Chính vì vậy, truyền thông liên quan đến việc làm thế nào để
liên kết các yếu tố như người nhận, người gửi, cách mã hóa và cách giải mã, các
kênh và các phương tiện truyền thông nhằm đảm bảo cho tính chính xác và hiệu
quả của quá trình truyền thông.
- Lý thuyết xã hội học truyền thông đại chúng
Dưới góc độ của xã hội học thì truyền thông đại chúng được coi như là
một quá trình xã hội. Đó là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi ra
công chúng trong xã hội thông qua các PTTTĐC như báo in, phát thanh, truyền
hình, báo mạng điện tử.
8
Nhà xã hội học Max Weber đã chỉ rõ tác động của truyền thông đại
chúng. Theo ông, truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội do nó có sự
liên kết bởi nhiều yếu tố như: nguồn tin, thông điệp và người nhận và chúng có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. [ 59 ]
Một số tác giả khác cho rằng truyền thông đại chúng là một quá trình xã
hội, đó là quá trình truyền tải thông tin ra công chúng thông qua các phương tiện
cách thức hoạt động của nhà truyền thông.
- Lý thuyết báo chí học
Theo Siebert trong cuốn sách về Bốn lý thuyết về báo chí, báo chí mang
hình thức và màu sắc của các cấu trúc xã hội và chính trị trong đó nó hoạt động.
Báo chí và các phương tiện truyền thông khác, trong quan điểm của họ, sẽ phản
ánh “niềm tin căn bản và giả định rằng xã hội nắm giữ”. Để nhìn nhận sự khác
biệt của hệ thống báo chí giữa các nước một cách toàn diện nhất, phải nhìn vào
hệ thống xã hội mà chúng đang hoạt động. Để xem xét hệ thống xã hội trong
mối quan hệ với báo chí, phải xem xét những niềm tin và quan niệm cơ bản của
xã hội đó: đặc tính của con người, xã hội, đất nước, mối quan hệ giữa con người
và đất nước đó, của tri thức và sự thật.
Báo chí biểu hiện vai trò trong đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực như:
Chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội.
Chức năng của báo chí: Thông tin, tư tưởng, khai sáng, giải trí quản lý,
giám sát và phản biện xã hội, kinh tế, dịch vụ.
- Lý thuyết thiết lập chƣơng trình nghị sự
Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda setting) do hai chuyên
gia truyền thông Maxwell McCombs và D.Shaw (Mỹ) đưa ra. Lý thuyết này mô
tả khả năng ảnh hưởng của giới truyền thông đối với công chúng thông qua các
phương tiện truyền thông. Trong xã hội, nếu một tin tức nào đó được nhắc tới
thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới và coi nó quan trọng
hơn những thông tin khác. Do vậy, chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là
một giả thiết quan trọng trong các lý thuyết truyền thông. Điểm nổi bật của lý
thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đặt “chương trình
nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí
truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những “chuyện
đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng bằng cách làm cho
các “chương trình” nét nổi bậtkhác nhau, từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫn
đường trong tương lai.Lý thuyết cho rằng Truyền thông đại chúng (trong đó có
in; đặc điểm, vai trò TT GDĐT trên báo in; mô hình TT GDĐT trên báo in và
những yêu cầu về TT GDĐT trên báo in. Đồng thời, tác giả tìm hiểu kết quả
nghiên cứu của một số công trình khoa học có thể hữu ích cho việc đối chiếu và
11
tham khảo trong khuôn khổ công trình nghiên cứu này, các công trình đó có thể
làm cơ sở cho việc đánh giá các kết qua khảo sát, tìm ra các giải pháp khoa học
cho vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Mục tiêu của phương pháp này là thu
nhận các nhận xét, đánh giá của các nhóm công chúng khi tiếp nhận thông tin
GDĐT trên các báo trong diện khảo sát. Tìm hiểu TT về GDĐT trên báo in đã
đáp ứng nhóm công chúng ở mức độ nào. Chúng tôi đề ra một bảng câu hỏi
(anket) phát cho đối tượng tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, tổng
số phiếu là 500 phiếu, bao gồm: Hà Nội 180 phiếu, Đà Nẵng 140 phiếu, thành
phố Hồ Chí Minh 180 phiếu. Số phiếu thu về sau điều tra là 483 phiếu.
Các đối tượng cụ thể: Ở mỗi thành phố chúng tôi lựa chọn đối tượng để
phát phiếu như sau: học sinh (chọn 1 trường THPT, 1 trường THCS, mỗi trường
1 lớp), sinh viên (chọn 3 trường đại học ở 3 thành phố thuộc 3 khối A, B, C, mỗi
trường 1 lớp), giáo viên (chọn 1 số giáo viên Tiểu học, Phổ thông và đại học),
cán bộ quản lý giáo dục (Hiệu trưởng đại học, phổ thông, sở Giáo dục và Đào
tạo, Vụ trưởng Vụ chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo), người dân (phụ
huynh học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, đại học), theo
đó có các cứ liệu và cơ sở giúp tác giả thực hiện luận án.
Với những phiếu điều tra bằng bảng hỏi (anket), chúng tôi sử dụng phần
mềm xử lý số liệu định lượng SPSS 16.0.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (Phỏng vấn chuyên gia): với hình thức
phỏng vấn đặt câu hỏi với 20 đến 30 người trả lời là những đối tượng: lãnh đạo
cơ quan quản lý báo chí (Tổng biên tập một tờ báo, trưởng, phó ban giáo dục
của báo): 04 mẫu; phóng viên theo dõi giáo dục (các phóng viên hiện đang theo
xem xét những gì. Tất nhiên, việc quyết định phải xem xét cái gì trong quá trình
phân tích nội dung bị ảnh hưởng các câu hỏi nghiên cứu. Các vấn đề chung
thường được tính đến khi phân tích là: (1) Các nhân vật quan trọng (Ai viết, ai là
tiêu điểm- đặc điểm nổi bật nhất về họ là gì, ai có những ý kiến khác. Trong ngữ
cảnh đưa tin của phương tiện truyền thông đại chúng, các nhận vật chủ yếu
trong các tin bài và đặc điểm của họ là những yếu tố quan trọng để mã hoá; (2)
Từ ngữ- việc đếm tần số xuất hiện của một số từ đôi khi được thực hiện trong
phân tích nội dung có thể mang lại một số ý nghĩa nào đó vì nó có thể chỉ ra xu
hướng giật gân hoá một số sự kiện; (3) Chủ đề và ý nghĩa – đó là việc phân loại
các hiện tượng và các hiện tượng được quan tâm. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu
không chỉ phân loại dựa vào nội dung hiển nhiên mà còn cả những nội dung ẩn
ý. Cần dò tìm dưới bề mặt để đặt câuhoir sâu hơn về những sự việc đang diễn ra;
13
(4) Khuynh hướng cũng là vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm tìm kiếm khi
phân tích nội dung. Đó là sự thay đổi, mối quan tâm, niềm tin hay các nguyên
tắc.
Mã hoá là bước trung tâm và đặc biệt nhất của phân tích nội dung. Có 2
yếu tố chính trong bước này là thiết một một bảng mã và thiết kế một sổ tay mã
hoá. Bảng mã là một biểu/ bảng mẫu trong đó có tất cả các số liệu kiên quan tới
một vấn đề được mã hoá được điền vào. Bảng này được đơn giản hoá để hỗ trợ
các tranh luận về các nguyên tắc mã hoá trong phân tích nội dung và nguyên tắc
xây dựng bảng mã nói riêng. Mỗi cột trong bảng mã sẽ là một khía cạnh được
mã hoá. Đầu đề của các cột sẽ là các khía cạnh được mã hoá, các cột sẽ được
đánh số. Mỗi mẫu sẽ dùng cho một bài được mã hoá. Các mã số sau đó có thể
được chuyển thành một tệp sữ liệu máy tính cho việc phân tích bằng phần mềm
SPSS. Để giúp điềm thông tin đúng và thống nhất vào bảng mã này, cần có sổ
tay mã hoá. Sổ tay mã hoá là các hướng dẫn chi tiết cho người thực hiện mã hoá.
Trong luận án này, tất cả các bài viết về Giáo dục đào tạo được xem xét
nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực. Thứ hai, diễn ngôn là một
nhóm các diễn ngôn cụ thể, được qui ước theo một cách thức nào đó và có một
mạch lạc hoặc một hiệu lực nói chung, “được nhóm lại với nhau bởi một áp lực
mang tính thiết chế nào đó, bởi sự tương tự giữa xuất xứ và bối cảnh hay bởi
chúng cùng hành động theo một cách gần giống nhau”. Ví dụ, diễn ngôn nữ giới
là một nhóm các diễn ngôn có chung một hiệu lực là nhằm phản kháng lại diễn
ngôn về phụ nữ của đàn ông, diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc là nhóm các diễn
ngôn có chung một hiệu lực là áp đặt quyền lực thực dân lên những xứ sở thuộc
địa… Thứ ba, diễn ngôn là một thực tiễn sản sinh ra vô số các nhận định và chi
phối việc vận hành của chúng. Diễn ngôn không chỉ được coi như “một cái gì
tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập, là những qui
tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thể. Đó là một
hệ thống của “những tư tưởng, quan điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành
xử, những cái được hình thành trong một bối cảnh xã hội cụ thể”, có một hiệu
lực chung đối với cách suy nghĩ và nói năng của mỗi nhóm người cũng như mỗi
cá nhân.
Thông qua phương pháp phân tích diễn ngôn, luận án làm sáng tỏ những vấn
đề của thời đại thông qua thông tin GDĐT, làm rõ hơn góc nhìn quyền lực truyền
thông thông qua vấn đề được đề cập; làm sáng tỏ chủ thể thể hiện thông điệp về
GDĐT, đó là những thông tin mà nhà hoạch định chính sách kỳ vọng, hay những
thông tin phản biện từ vấn đề bất cập của thực tiễn triển khai chính sách.
15
- Ngoài ra luận án còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương
pháp so sánh; Phương pháp tổng hợp...
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu gồm:
- Thông tin về GDDT là gì và vai trò của thông tin về GDDT trên báo in?
của Đảng, Nhà nước, kiến thức hiểu biết giáo dục của phóng viên được phân
công theo dõi còn hạn chế, công tác truyền thông của ngành Giáo dục còn yếu.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thông tin về giáo dục và
đào tạo, báo chí nói chung, báo in nói riêng và vai trò của thông tin về giáo dục
và đào tạo trên báo in; những yêu cầu cần có đối với thông tin về giáo dục và
đào tạo trên báo in…Khung lý thuyết cộng với cơ sở thực tiễn làm nền tảng cho
việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề liên quan đến công tác thực hiện ở mảng
đề tài thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in.
- Luận án chỉ ra được thực trạng thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo
in hiện nay, về thế mạnh, điểm tích cực, hạn chế để từ đó có nhận định khái quát
về thực trạng thông tin lĩnh vực này. Luận án khẳng định vai trò của thông tin về
giáo dục và đào tạo trênbáo in.
- Luận án nêu những vấn đề đặt ra của thông tin về giáo dục và đào tạo
trên báo in trong bối cảnh sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đồng
thời khuyến nghị những giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về giáo dục và
đào tạo trên báo in hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn củaluận án
7.1. Ý nghĩa lý luận
Hiện nay, việc tìm hiểu TT về GDĐT trên báo chí nói chung và báo in nói
riêng chưa được quan tâm đúng mức vì nhiều lý do khác nhau. Việc tìm hiểu
thông điệp về GDĐT chưa được thực hiện nhiều và còn nhiều bất cập. Luận án
này xác định những ưu điểm và hạn chế cụ thể của TT về GDĐT trên báo in .
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên hệ thống một cách tổng quát,
chuyên sâu, cập nhật về yêu cầu nâng cao chất lượng, vai trò của thông tin về
giáo dục và đào tạo trên báo in ở Việt Nam hiện nay.
Các cơ quan báo in trước đây thường sản xuất các tác phẩm theo cách
truyền thống, thiếu sự sinh động, tương tác, nay cần lưu ý đến sự cạnh tranh đối
với các loại hình báo chí mới. Công chúng sẽ lựa chọn tiếp nhận dòng thông tin
gì và bằng các phương tiện nào.
Chương 2: Thực trạng thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in ở Việt
Nam.
Chương 3: Những vấn đề đặt ra, giải pháp và khuyến nghị thông tin về
giáo dục đào tạo trên báo in ở Việt Nam hiện nay.
18
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
-Trên thế giới
+ Nhóm tài liệu nghiên cứu về báo chí và thông tin trên báo chí
Loic Hervouet (1999) Viết cho độc giả. Tác giả nghiên cứu việc tìm hiểu
người đọc báo. Khi độc giả cầm tờ báo, quá trình dẫn đến việc đọc trọn vẹn một
bài báo thường diễn ra 3 giai đoạn: xem lướt, quyết định lựa chọn, chọn và ưu
tiên các thông tin. Để gây sự chú ý độc giả đối với một bài báo, tác giả đã nêu ra
nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn từ thích đáng phù hợp với độc giả.
Ông tìm hiểu thói quen của người đọc báo và đã chứng minh rằng mắt người
không nhìn vào thứ tự từng chữ cái trong từ để rồi tạo thành từ. Cặp mắt- bộ óccảm nhận một cách tổng quan khoảng 10 ký tự, sau đó chuyển sang nhóm ký tự
tiếp theo. Mỗi lần cảm nhận như vậy kéo dài khoảng 1/3 đến 1/4 giây. Thời gian
chuyển từ nhóm này sang nhóm khác dài 1/40 giây. Từ năm 1673, nhà văn Pháp
Bossuet đã viết: “Người ta không đọc từng chữ cái một, mà hình ảnh chung của
toàn bộ từ (gồm nhiều chữ cái) đập vào được não bộ cảm nhận”. Khi một trong
số các chữ cái bị thay đổi vì một lý do nào đó, hình ảnh của toàn bộ từ đột ngột
thay đổi làm cho não bộ không thể cảm nhận được ngay lập tức: người đọc cảm
thấy bị vấp và buộc phải suy nghĩ xem chữ cái nào bị đặt sai chỗ, và dù cho
người đọc có đoán ra được ngay thì nhịp đọc cũng bị giảm đáng kể.
E.P Prôkhôrôp (2001), tác giả người Nga trong Cơ sở lý luận báo chí, đã
bao quát nhiều bình diện, phân tích khái niệm và vai trò của công chúng, hiệu quả
của báo chí đối với công chúng và làm thế nào để có sự hiểu biết về công chúng.
Doris A. Graben chủ biên cuốn Media Power in Polictics (Sức mạnh của