1
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế,
nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của
công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc
xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên,
bên cạnh những thành tựu, kết quả, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây
bức xúc xã hội kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và hội nhập quốc tế. Chính sách về GDĐT trong thời gian qua thiếu đồng bộ, còn chắp vá; nhiều
cơ chế, giải pháp về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợp với giai đoạn
phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh, bổ sung.
Nghị quyết Số: 29-NQ/TW ban hành ngày 4/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" được hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông
qua. Nghị quyết đã nêu được những thành tựu quan trọng của Nghị quyết Trung ương 2 khóa
VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta, góp phần to
lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục
và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học. Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa
mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm
2010… Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo
dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu… Do đó, Nghị quyết
đã đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng,
Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong
các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
chuyên mục. Trong đó, nội dung được phản ánh đa dạng, nhiều mảng khác nhau của giáo dục từ
mầm non đến đại học và sau đại học, các vấn đề quản lý giáo dục… Vai trò và hiệu quả tác động
của thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo chí nói chung và báo in nói riêng những năm qua đã
được khẳng định, một lĩnh vực có vị trí hết sức quan trọng được Đảng, Nhà nước ta xác định là
quốc sách hàng đầu. Vì vậy, đòi hỏi thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo chí ngày càng phải
được thực hiện một cách có hiệu quả, góp phần làm cho lĩnh vực giáo dục phát triển, đáp ứng yêu
cầu đổi mới của đất nước.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại. Chính bởi vậy, TT
về GDĐT là một trong những đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của công chúng và cũng đã gây ra
nhiều tranh cãi trong suốt những năm gần đây. Do đó không ít các tờ báo đã khai thác, tìm hiểu,
đăng tải thông tin khá kỹ lưỡng về nội dung này, cung cấp cho độc giả mọi thông tin về từng
bước phát triển, thực hiện đổi mới giáo dục. Các báo đã góp phần tuyên truyền, quán triệt sâu
rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các định hướng và nhiệm vụ chủ yếu của
ngành giáo dục; góp phần mở rộng tầm nhìn cho công chúng, cung cấp thông tin nhằm giúp công
chúng nắm được tiến trình đổi mới giáo dục ở nước ta; thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng
thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc
3
3
phát triển giáo dục. Nhưng bên cạnh đó, các báo vẫn còn những hạn chế nhất định trong thông tin
về GDĐT như hình thức thông tin còn kém hấp dẫn, thông tin còn hời hợt, kém chất lượng.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in ở Việt
Nam” (khảo sát báo Nhân dân, “Tuổi trẻ”, Thanh niên, Giáo dục và Thời đại từ năm 2005 đến
2010), đồng thời với thời điểm hoàn thành luận án của tác giả vào năm 2017 nên tác giả đã mở
rộng nghiên cứu thông tin về giáo dục và đào tạo từ năm 2010 đến 2017 để nghiên cứu. Có thể
nói, đây là một yêu cầu bức xúc và cần thiết, nhằm phát huy được hiệu quả thông tin về lĩnh vực
giáo dục và đào tạo trên báo chí, đặc biệt là công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
4
Luận án khảo sát thông tin về giáo dục và đào tạo trên các báo: Nhân Dân, Giáo dục và
Thời đại, “Tuổi trẻ” và Thanh niên.
Tác giả lựa chọn các báo trên khảo sát vì:
- Báo Nhân Dân: cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng,
Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đại diện cho tờ báo tuyên truyền, phản ánh và thông tin các
chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, trong đó có các chủ
trương, chính sách, pháp luật về giáo dục
- Báo Giáo dục và Thời đại: là tiếng nói của ngành Giáo dục, thực hiện chức năng phục vụ
công tác điều hành quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thanh niên là tờ báo của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, có chuyên trang giáo dục
và có ảnh hưởng mạnh trong xã hội với số lượng phát hành báo hơn 300.000 bản/ngày, có thời
điểm lên đến 400.000 bản/ngày.
- “Tuổi trẻ” là tờ báo của Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh. Báo có chuyên trang giáo dục
riêng và cũng là một trong những tờ báo có ảnh hưởng với xã hội, đặc biệt là công chúng phía
Nam với số lượng phát hành 400.000 bản/ngày
Tổng hợp các tin bài phản ánh trên 4 tờ báo trên, ngành Giáo dục cơ bản có thể tìm thấy
câu trả lời cho các vấn đề về thông tin giáo dục và đào tạo đang cần có thêm ý kiến của dư luận
xã hội. Tất nhiên, trước những vấn đề đổi mới mạnh mẽ, vấn đề nhạy cảm của giáo dục, cơ quan
quản lý giáo dục các cấp không chỉ dựa vào 4 tờ báo trên để nắm thông tin, mà còn phải lắng
nghe ý kiến từ công chúng, từ nhiều loại hình báo chí khác.
Phạm vi nghiên cứu đề tài là một khâu, một mắt xích trong mô hình truyền thông: nghiên
cứu về thông điệp (Message), thông tin về giáo dục và đào tạo trên loại hình báo in.
Thời gian khảo sát: từ tháng 01/ 2005 đến tháng 12/ 2010
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt
Nam về báo chí và giáo dục và đào tạo cũng như các ngành khoa học liên quan.
Trong môi trường thông tin, lý thuyết “sử dụng và hài lòng” đóng vai trò quan trọng, có
thể giúp chúng ta hiểu sâu hơn về công chúng hiện đại, từ đó giúp các cơ quan báo chí thay đổi
các phương thức tác nghiệp, cung cấp cho xã hội những sản phẩm báo chí truyền thông phù hợp
với thời đại.
Bản chất xã hội của truyền thông quá trình giao tiếp xã hội, quá trình liên kết xã hội và
quá trình can thiệp xã hội. Nói cách khác, đó là quá trình biện chứng. Con người sau khi được
truyền thông xã hội hóa có thể trở nên văn minh hơn và khi con người, xã hội càng phát triển thì
nhu cầu, năng lực và khả năng đáp ứng của truyền thông càng cao [ 37; tr.120]
Quá trình truyền thông là sự truyền đi của các thông điệp (ý nghĩ, thông tin, tư tưởng, ý
tưởng, ý kiến, kiến thức...) từ một người hay một nhóm người đến người khác hay một nhóm
người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc các tín hiệu khác. Chính vì vậy, truyền thông
liên quan đến việc làm thế nào để liên kết các yếu tố như người nhận, người gửi, cách mã hóa và
cách giải mã, các kênh và các phương tiện truyền thông nhằm đảm bảo cho tính chính xác và
hiệu quả của quá trình truyền thông.
6
6
Lịch sử nghiên cứu truyền thông từ đầu thế kỷ XX đến nay, dù theo mô hình nào cũng đều
liên quan đến thông điệp được truyền tải thông tin, xem thông điệp là một khâu, một mắt xích
quan trọng trong chu trình truyền thông. Đây là yếu tố nền tảng cho việc tạo lập một chu trình
truyền thông.
- Lý thuyết xã hội học truyền thông đại chúng
Dưới góc độ của xã hội học thì truyền thông đại chúng được coi như là một quá trình xã
hội. Đó là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi ra công chúng trong xã hội thông qua
các PTTTĐC như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử.
Nhà xã hội học Max Weber đã chỉ rõ tác động của truyền thông đại chúng. Theo ông,
truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội do nó có sự liên kết bởi nhiều yếu tố như: nguồn
- Lý thuyết báo chí học
Theo Siebert trong cuốn sách về Bốn lý thuyết về báo chí, báo chí mang hình thức và màu
sắc của các cấu trúc xã hội và chính trị trong đó nó hoạt động. Báo chí và các phương tiện truyền
thông khác, trong quan điểm của họ, sẽ phản ánh “niềm tin căn bản và giả định rằng xã hội nắm
giữ”. Để nhìn nhận sự khác biệt của hệ thống báo chí giữa các nước một cách toàn diện nhất, phải
nhìn vào hệ thống xã hội mà chúng đang hoạt động. Để xem xét hệ thống xã hội trong mối quan
hệ với báo chí, phải xem xét những niềm tin và quan niệm cơ bản của xã hội đó: đặc tính của con
người, xã hội, đất nước, mối quan hệ giữa con người và đất nước đó, của tri thức và sự thật.
Báo chí biểu hiện vai trò trong đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực như: Chính trị, kinh tế,
văn hoá – xã hội.
Chức năng của báo chí: Thông tin, tư tưởng, khai sáng, giải trí quản lý, giám sát và phản
biện xã hội, kinh tế, dịch vụ.
- Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự
Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda setting) do hai chuyên gia truyền
thông Maxwell McCombs và D.Shaw (Mỹ) đưa ra. Lý thuyết này mô tả khả năng ảnh hưởng của
giới truyền thông đối với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông. Trong xã hội, nếu
một tin tức nào đó được nhắc tới thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới và coi
nó quan trọng hơn những thông tin khác. Do vậy, chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là
một giả thiết quan trọng trong các lý thuyết truyền thông. Điểm nổi bật của lý thuyết này là
truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng, các
bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của
công chúng tới những “chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng
bằng cách làm cho các “chương trình” nét nổi bật khác nhau, từ đó có thể tác động và tạo ra sự
dẫn đường trong tương lai. Lý thuyết cho rằng Truyền thông đại chúng (trong đó có báo chí) có
chức năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng. Lý thuyết còn chỉ ra rằng, việc đưa tin
về thế giới bên ngoài của cơ quan truyền thông là lựa chọn có mục đích.
Theo McCombs & Shaw’s study (1972), cho rằng các cơ quan báo chí truyền thông (dựa
vào giá trị quan và mục đích tôn chỉ, đồng thời căn cứ vào môi trường thực tế để) “lựa chọn” vấn
đề hoặc nội dung mà họ coi là quan trọng để cung cấp cho công chúng, chứ không phải cung cấp
khảo sát. Tìm hiểu TT về GDĐT trên báo in đã đáp ứng nhóm công chúng ở mức độ nào. Chúng
tôi đề ra một bảng câu hỏi (anket) phát cho đối tượng tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí
Minh, tổng số phiếu là 500 phiếu, bao gồm: Hà Nội 180 phiếu, Đà Nẵng 140 phiếu, thành phố Hồ
Chí Minh 180 phiếu. Số phiếu thu về sau điều tra là 483 phiếu.
Các đối tượng cụ thể: Ở mỗi thành phố chúng tôi lựa chọn đối tượng để phát phiếu như
sau: học sinh (chọn 1 trường THPT, 1 trường THCS, mỗi trường 1 lớp), sinh viên (chọn 3 trường
đại học ở 3 thành phố thuộc 3 khối A, B, C, mỗi trường 1 lớp), giáo viên (chọn 1 số giáo viên
Tiểu học, Phổ thông và đại học), cán bộ quản lý giáo dục (Hiệu trưởng đại học, phổ thông, sở
Giáo dục và Đào tạo, Vụ trưởng Vụ chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo), người dân (phụ
huynh học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, đại học), theo đó có các cứ liệu
và cơ sở giúp tác giả thực hiện luận án.
9
9
Với những phiếu điều tra bằng bảng hỏi (anket), chúng tôi sử dụng phần mềm xử lý số
liệu định lượng SPSS 16.0.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (Phỏng vấn chuyên gia) : với hình thức phỏng vấn đặt câu
hỏi với 20 đến 30 người trả lời là những đối tượng: lãnh đạo cơ quan quản lý báo chí (Tổng biên
tập một tờ báo, trưởng, phó ban giáo dục của báo): 04 mẫu; phóng viên theo dõi giáo dục (các
phóng viên hiện đang theo dõi giáo dục được các báo giới thiệu đến Bộ Giáo dục và Đào tạo): 10
mẫu; Công chúng (Chọn trong số những người điều tra XHH, mỗi thành phố chọn 2-3 người bất
kỳ, thường xuyên đọc thông tin về GDĐT hoặc liên quan đến lĩnh vực GDĐT như giáo viên,
quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên…): 08 mẫu. Từ đó, tập hợp các cứ liệu thực tế phục vụ cho
đề tài nghiên cứu. Với phương pháp phỏng vấn sâu, chúng tôi sử dụng phần mềm xử lý dữ liệu
định tính Nvivo 8.0.
- Phương pháp quan sát: tiến hành khi thực hiện phỏng vấn sâu, điều tra xã hội học và
tiến hành các nghiên cứu. Mục đích để xem xét hoạt động của các cơ quan báo in, hoạt động tiếp
dung và nguyên tắc xây dựng bảng mã nói riêng. Mỗi cột trong bảng mã sẽ là một khía cạnh
được mã hoá. Đầu đề của các cột sẽ là các khía cạnh được mã hoá, các cột sẽ được đánh số. Mỗi
mẫu sẽ dùng cho một bài được mã hoá. Các mã số sau đó có thể được chuyển thành một tệp sữ
liệu máy tính cho việc phân tích bằng phần mềm SPSS. Để giúp điềm thông tin đúng và thống
nhất vào bảng mã này, cần có sổ tay mã hoá. Sổ tay mã hoá là các hướng dẫn chi tiết cho người
thực hiện mã hoá.
Trong luận án này, tất cả các bài viết về Giáo dục đào tạo được xem xét kỹ lưỡng trên 4 tờ
báo in Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Nhân Dân, Giáo dục và Thời đại trong thời gian từ năm 2005 đến
năm 2010.
- Mẫu nghiên cứu bao gồm các thông tin về các tờ báo được lựa chọn để phân tích, hình
thức đăng tải, chuyên mục đăng tải, nguồn và thời gian đăng tải. Các thông tin này giúp người
nghiên cứu có một cái nhìn tổng thể về mẫu nghiên cứu.
- Cách thức chọn mẫu: Tất cả các bài báo liên quan, đề cập đến GDĐT trong khoảng thời
gian nghiên cứu đều được sưu tầm. Với phương pháp lẫy mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ 26875 tin,
bài về GDĐT trong 5 năm, tác giả lựa chọn 720 tin, bài để phân tích (Mỗi báo chọn 180 tin, bài).
Trong trường hợp những bài viết trùng nhau được đăng tải trên nhiều báo sẽ lựa chọn ngẫu nhiên
một bài bất kỳ, không lấy tất cả các bài báo trùng nhau hoàn toàn trong mẫu nghiên cứu. Trong
trường hợp giống nhau nội dung hay tiêu đề nhưng có sự khác biệt về cách phân tích hoặc thể
hiện trong bài báo thì đều được chọn trong mẫu nghiên cứu.
Thông tin thu thập từ các bảng mã viết về Giáo dục và đào tạo trên 4 báo được mã hoá,
nhập và xử lý bằng chương trình SPSS 16.0. Sau khi làm sạch số liệu sẽ tiến hành biến đổi các số
liệu để phục vụ cho việc lượng hoá các nhóm vấn đề có liên quan đến GDĐT và đánh giá các bài
viết về GDĐT
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt
của con người, thế giới về các sự việc trong đời sống. Do đó, nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu
ngôn ngữ. Nhưng diễn ngôn không phải là hình thức mà là tư tưởng- tư tưởng trong dạng thức
thực tiễn, trên kênh truyền thông đại chúng.
Theo Sara Mills trong Discourse, có thể thấy ba cách định nghĩa khác nhau về diễn ngôn
trong các trước tác của Foucault. Thứ nhất, diễn ngôn được coi là tất cả các nhận định nói chung,
đó là tất cả các phát ngôn hoặc văn bản có nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực.
- Thông tin về GDDT là gì và vai trò của thông tin về GDDT trên báo in?
- Mô hình thông tin về GDDT trên báo in như thế nào và có vai trò gì?
- Các yêu cầu cụ thể đối với việc thông tin về GDĐT là gì?
- Báo in cần phải làm gì và làm như thế nào để thông tin về GDDT có hiệu quả?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết thứ nhất: Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, giáo dục đào tạo luôn
được Đảng, Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu và đang có sự đổi mới quyết liệt trong nhiều
năm qua. Việc triển khai đổi mới một lĩnh vực liên quan đến mọi người, mọi gia đình và thực
hiện không chỉ ngành giáo dục mà cả hệ thống, toàn xã hội. Vì vậy, định hướng đúng đắn các chủ
trương đổi mới về giáo dục, góp ý, phản biện những hạn chế trong quản lý, cách dạy, cách học…
là hết sức quan trọng của các cơ quan báo chí, trong đó có báo in. Do đó, nâng cao chất lượng
thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in là hết sức cần thiết.
12
12
- Giả thuyết thứ hai: Thông tin về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay, còn có những
hạn chế: đưa số lượng tin bài tiêu cực, giật gân nhiều; số lượng tin, bài phản ánh tích cực, gương
tập thể, cá nhân tốt trong ngành ít. Việc khảo sát, phân tích một cách khoa học thực trạng để chỉ
ra được những mặt tích cực và hạn chế, cơ hội, thách thức cho báo in thực hiện tốt thông tin về
giáo dục và đào tạo.
- Giả thuyết thứ ba: Thông tin về giáo dục và đào tạo của báo in góp phần quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo sự đồng thuận trong việc thực hiện hiệu quả các chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục, đặc biệt là thực hiện đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
- Giả thuyết thứ tư: Cách thông tin về GDĐT hiện nay còn hạn chế về mặt tương tác, tư duy
nhận thức của mỗi tờ báo chưa tương xứng với vị trí giáo dục và đào tạo được chỉ đạo qua các
chủ trương, chính sách, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, kiến thức hiểu biết giáo dục của phóng
chúng sẽ lựa chọn tiếp nhận dòng thông tin gì và bằng các phương tiện nào.
Luận án là đề tài hết sức cần thiết để bổ sung cho các nguồn số liệu còn thiếu của các đề
tài nghiên cứu trước đây; là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy báo chí
trong nhà trường; làm tài liệu tham khảo cho sinh viên báo chí; gợi mở hướng nghiên cứu để tiếp
tục phát triển và nâng cao chất lượng báo chí nói chung và báo chí in nói riêng.
7.2. Giá trị thực tiễn
Luận án sẽ cung cấp cho các cơ quan báo chí nói chung và cơ quan báo in nói riêng ở
nước ta có những cơ sở khoa học đáng tin cậy để đánh giá đúng về TT GDĐT hiện nay, và là cơ
sở để nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí, từ đó tạo ra hướng đi mới cho cơ quan báo in
phát triển mạnh mẽ.
Luận án góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các cơ quan báo chí với các tác phẩm báo
chí của chính họ. Để có được sự phát triển tốt phù hợp với báo chí hiện đại, các cơ quan báo in
cần tìm hiểu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới cũng như cách viết tác phẩm báo
chí mới. Ứng dụng các thành tựu KHKT trong cơ quan báo chí có hiệu quả không chỉ là vấn đề
của riêng báo chí nước ta mà còn là của báo chí quốc gia và báo chí thế giới.
Tìm hiểu TT về GDĐT như phân tích để làm rõ thực trạng, chỉ ra đặc điểm, những ưu
điểm và hạn chế thông tin về giáo dục và đào tạo, đồng thời đề xuất, khuyến nghị, giải pháp của
luận án sẽ giúp cho các cơ quan báo chí có cơ sở để sản xuất các sản phẩm báo chí hấp dẫn, thiết
thực; cơ sở để nâng cao các tác phẩm báo chí và nâng cao chất lượng đội ngũ người làm báo.
Từng bước góp phần giúp báo in phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan vấn đề nghiên cứu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ
lục, Luận án gồm 3 chương 11 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in.
Chương 2: Thực trạng thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in ở Việt Nam.
Chương 3: Những vấn đề đặt ra, giải pháp và khuyến nghị thông tin về giáo dục đào tạo
trên báo in ở Việt Nam hiện nay.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong phần này NCS đã nghiên cứu một số công trình nghiên cứu về giáo dục và đào tạo,
về lý luận báo chí, vai trò chức năng của báo chí với thông tin về giáo dục và đào tạo ở trong và
trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học); cần bàn thêm nhìn ở góc độ tính giáo dục
trong những ngôn ngữ sử dụng trong bài hoặc đặt đầu bài…
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN THÔNG TIN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRÊN BÁO IN
- Trong Chương 1, luận án đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản thông tin về
GDĐT trong đó đưa ra các khái niệm liên quan đến phạm vi, lĩnh vực thuộc phạm vi đề tài
nghiên cứu, khái niệm “Thông tin”, “Giáo dục”, “Đào tạo”, “Giáo dục và đào tạo”, “Báo in” và
“Thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in”, đây là những cơ sở để tác giả nghiên cứu khảo sát
ở những nội dung tiếp theo về thông tin báo chí nói chung và thông tin về giáo dục và đào tạo
trên báo in nói riêng.
+Thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa:
15
15
Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc
sống. Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản
ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người.
Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới công chúng.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này Thông tin được hiểu theo nghĩa thứ nhất.
Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều dạng khác nhau: có khi chỉ là cái
tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn; có khi là một chương trình phát thanh,
truyền hình. Ngay cả các tiêu đề, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh
viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo… đều chứa đựng thông tin.
Thuật ngữ “Thông tin” trong hoạt động báo chí còn có có cách hiểu rộng hơn, chúng còn
được hiểu như một danh từ tập hợp. Chúng ta có thể gọi toàn bộ tác phẩm, hay hệ thống những
tin tức… là thông tin.
Thông qua việc phân tích thông tin GDĐT trên báo in, luận án sẽ làm sáng tỏ những nội
dục - đào tạo
Thông tin về hoạt động của giáo dục gồm: quản lý giáo dục, hoạt động nhà trường, hoạt
động của học sinh, sinh viên…
Nói tóm lại Thông tin về giáo dục và đào tạo bao gồm các thông tin về quan điểm, mục tiêu
và chủ trương, chính sách về giáo dục và đào tạo; tính chất, đặc điểm và nguyên tắc quản lí về giáo
dục và đào tạo; quản lý về giáo dục - đào tạo và hệ thống các cơ quan quản lý và nội dung quản
lý về giáo dục - đào tạo; thông tin về hoạt động của giáo dục.
+Thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in là thông tin về một lĩnh vực chuyên về giáo
dục và đào tạo, đây là những dữ liệu đề xây dựng nên các tác phẩm báo chí trên báo in phản ánh
về lĩnh vực giáo dục.
Theo Luật báo chí, báo in bao gồm: báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn. Nghị
định số 51/2002/NĐ-CP, ngày 26 tháng 4 năm 2002 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí định nghĩa “Báo in: là tên gọi loại hình báo chí
được thực hiện bằng phương tiện in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn)”. Căn cứ
vào Luật Báo chí năm 2016, Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện
bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in.
“Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và
được phát hành rộng rãi trong xã hội. Trong trường hợp này, thuật ngữ báo in dùng để chỉ 2 bộ
phận báo và tạp chí”. [ 63; tr 81]
-Trong chương này, tác giả cũng làm rõ đặc điểm và vai trò của thông tin về giáo dục và
đào tạo, trong đó đi vào cụ thể từng phần đặc điểm chung và riêng. Theo đó, làm rõ vai trò của
thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in, cụ thể đối với cơ quan báo chí và đối với công chúng
báo chí.
- Đặc điểm của thông tin báo chí: Thông tin thời sự; Thông tin có tính công khai; Thông
tin có tính mục đích; Thông tin báo chí có tính phong phú, đa dạng nhiều chiều; Thông tin dễ
hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo; Thông tin tương tác; Thông tin đa phương tiện.
- Đặc điểm thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in: Thông tin về giáo dục và đào tạo
trên báo in có tính thời sự; Thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in có tính công khai; Thông
dục và Đào tạo.
- Thứ hai, thông tin về giáo dục và đào tạo đảm bảo tính nhân văn, giáo dục và văn hóa.
- Thứ ba, thông tin về GDĐT đã đưa ra các mô hình giáo dục, phương pháp giảng dạy
hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường.
- Thứ tư, thông tin về GDĐT chia sẻ những tấm gương, những câu chuyện tích cực và phê
phán các hiện tượng tiêu cực trong GDĐT.
- Thứ năm, Thông tin về hoạt động đổi mới trong GDĐT
18
18
Yêu cầu đối với hình thức thông tin
Thông tin giáo dục và đào tạo phải thể hiện được đặc thù của báo in, trình bày đẹp, hấp
dẫn, khoa học, hiện đại. Cùng với đó việc thể hiện mỗi tác phẩm báo chí phải được chú trọng
việc đặt “tít” bài, “Sapo”, “Box” thông tin, ảnh phù hợp với nội dung cần phản ánh. Các thể loại
báo chí phải được sử dụng phong phú, đa dạng phù hợp theo từng chủ đề, nội dung, chuyên mục,
chuyên trang khác nhau…như tin tức, phóng sự, phỏng vấn…Các chuyên trang giáo dục cũng
phải thực hiện tính ổn định, tạo thuận lợi và hấp dẫn bạn đọc.
Kết cấu tác phẩm cần đảm bảo yêu cầu cơ bản là: tác phẩm đó là gì, nói gì và nói như thế
nào? Đồng thời đặt tác phẩm trong những mối tương quan khác như: vai trò xã hội, tích cấp thiết
của nội dung tác phẩm thể hiện; điểm nhìn của tác giả; vai trò của tác giả; cách xử lý số liệu trong
tác phẩm; cách khai thác thông tin của tác giả. Ngôn ngữ thể hiện đối với thông tin về giáo dục
và đào tạo cũng là một yêu cầu đặt ra đối với ngôn ngữ văn bản và hình ảnh vừa đáp ứng tính báo
chí nhưng cũng phải đáp ứng tính giáo dục cao, với đặc thù đối tượng công chúng chủ yếu quan
tâm đến thông tin giáo dục đào tạo là các nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý và học sinh, sinh
viên, phụ huynh.
Yêu cầu đối với phương thức thông tin
Đối với nhật báo: Thông tin giáo dục và đào tạo được chuyển tải đến công chúng nhanh
GDDT, và thông tin về đổi mới giáo dục. Các phân tích về nội dung trên cơ sở các luận điểm
khoa học được minh chứng bằng các nội dung tác phẩm báo chí đã được đăng tải và kết quả điều
tra xã hội học từ công chúng do tác giả thực hiện.
Trên cơ sở các phân tích về nội dung và hình thức, luận án đã đánh giá về những thành
công và hạn chế trong thông tin về GDĐT trên báo in nước ta. Thành công ở chỗ tờ báo đã kịp
thời cung cấp các thông tin cần thiết cho bạn đọc, thu hút được lượng độc giả lớn quan tâm tới
nội dung này. Tuy nhiên, mặt hạn chế thể hiện ở chỗ nhiều nội dung còn sơ sài, đề tài chưa hấp
dẫn, ảnh kém chất lượng. Luận án cũng nêu lên các nguyên nhân ảnh hưởng đên thông tin về
GDĐT trên báo in qua 2 khía cạnh là nguyên nhân chủ quan và khách quan. Cụ thể:
Đánh giá thông tin về giáo dục đào tạo trên các báo khảo sát
Những kết quả đạt được
- Về nội dung: Tác động đến chính sách giáo dục; Tác động các hoạt động dạy và học
trong các nhà trường; Tác động đến đổi mới quản lý giáo dục, đổi mới cơ chế tài chính trong giáo
dục; Tác động đổi mới thi và tuyển sinh Đại học - Cao đẳng; Tác động các cuộc vận động và
phong trào thi đua trong ngành Giáo dục
- Về hình thức, các báo khảo sát cũng cải tiến cách viết bài cho phóng viên cũng như cách
biên tập bài báo sao cho ngắn gọn và đủ ý, nhiều thông tin bổ ích. Cho nên các tác phẩm báo chí
trên báo về GDĐT đã đi vào phản ánh vấn đề trọng tâm hơn, bỏ qua những nội dung phụ, tập
trung phản ánh những chi tiết đắt trong bài. Các bài viết đa phần cũng không đặt nặng về số từ để
tránh gây cảm giác quá vất vả cho người đọc. Các tin thường dao động trong phạm vi 200- 300
chữ. Các bài phản ánh, phân tích, bài phỏng vấn chuyên gia thường trong không quá 900 - 1200
chữ. Độ dài này rất phù hợp với đặc điểm của báo giấy và thói quen tiếp nhận thông tin của công
chúng hiện nay.
Các bài viết được trình bày dễ nhìn. Đầu đề được in đậm, phóng to, sapo được in đậm, các
đoạn được ngắt quãng hợp lý, không dài quá khiến người đọc mệt mỏi và có thời gian nghỉ cần
thiết, đồng thời các nội dung khác nhau cũng được chia tách rõ ràng. Ngoài ra, hình ảnh minh
họa sử dụng phù hợp, chú thích ảnh được in nghiêng, dễ nhìn. Đặc biệt, báo đã tận dụng tối đa
20
- Các đề tài, chủ đề, vấn đề phản biện các báo in chưa thông tin chuyên sâu, đa chiều.
- Thông tin về GDĐT vẫn còn rất nhiều những “hạt sạn” trong việc sử dụng ảnh như ảnh
kém chất lượng, ảnh chụp chưa đẹp.
Nguyên nhân ảnh hưởng đến thông tin về giáo dục đào tạo trên báo in
Nguyên nhân thành công
- Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về GDĐT
21
21
- Báo chí có vai trò, sứ mệnh quan trọng trong hoạt thông tin về giáo dục và đào tạo.
- Báo chí được sự quan tâm, chỉ đạo đặc biệt của các ngành, các cấp đặc biệt là Bộ Giáo dục
và Đào tạo trong quá trình khai thác và chuyển tải thông tin. Bộ tạo cơ chế cung cấp thông tin
kịp thời cho các báo như gửi các thông tư, chỉ thị… về những quy định mới trong GDĐT, tổ chức
họp báo để thông báo những sự kiện, vấn đề quan trọng… đây là những cơ sở quan trọng để các
báo thông tin chính xác đến công chúng.
Nguyên nhân hạn chế
- Một bộ phận phóng viên còn yếu về phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, thiếu cập nhật những kiến thức mới nên chưa đáp yêu cầu thông tin về GDĐT trong tình
hình mới.
- Tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Những phân tích trong Chương 2 là cơ sở để tác giả luận văn xác định những vấn đề cần
khắc phục, từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về GDĐT trên báo
in ở Việt Nam.
Chương 3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA, GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ THÔNG TIN VỀ
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRÊN BÁO IN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Từ nghiên cứu lý luận và khảo sát đánh giá phân tích của chương 1 và 2, trong Chương 3
NCS đã đưa ra những vấn đề đặt ra đối với thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in, nhất là
ánh các sự kiện, vấn đề phải mang tính thời sự, đồng thời nêu các sự vật, hiện tượng, nhân vật chi
tiết phải chân thật, khách quan, tính giáo dục cao và có ý nghĩa xã hội; nội dung đảm bảo được
luận điểm, luận cứ khoa học; Nội dung đảm bảo tính nhân văn, giáo dục và văn hóa.
+ Hình thức thông tin: thông tin giáo dục và đào tạo phải thể hiện được đặc thù của báo
in, trình bày đẹp, hấp dẫn, khoa học, hiện đại mang tính giáo dục, phát hành nhanh chóng. Các
báo cần cần tăng cường lượng công chúng bằng cách đăng tải các bài về GDĐT lên các trang
mạng xã hội, liên kết để thông tin cùng với các loại hình báo chí khác, như báo điện tử hay kênh
phát thanh truyền hình trong cùng cơ quan báo chí. Khi đăng tải thông tin về GDĐT trên trang
mạng xã hội hay báo mạng, cần ứng dụng khoa học công nghệ vào việc in ấn để đảm bảo sức hấp
dẫn như sử dụng nhiều cách thức mới trong trình bày bài báo như inforgraphic, video, ảnh …
Chuyên trang, chuyên mục phản ánh sâu sắc
Nội dung mang tính đặc thù
TT GDĐT trên báo in
Hình thức hấp dẫn, liên kết mạng XH và các loại
hình BC
Phóng viên am hiểu chuyên sâu
Hình 3.1 . Mô hình thông tin GDĐT trên báo in
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra các khuyến nghị khoa học về nhận thức tầm quan
trọng của thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in; cơ chế, chính sách và nguồn lực đảm bảo
thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in. Đồng thời nêu giải pháp về nguồn nhân lực, gồm:
23
23
chúng; Báo đã trở thành diễn đàn của mọi người dân, nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý và của
toàn xã hội về chính sách và hoạt động đổi mới giáo dục. Thông qua các tác phẩm báo chí và
biến nó thành một sức mạnh mềm buộc các cơ quan công quyền phải vào cuộc.
3. Qua phân tích các nội dung và hình thức thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in đã
cho thấy, thông tin về GDĐT trên báo in ngày càng tăng về quy mô, số lượng và chất lượng,
phong phú về thể loại, nội dung và đổi mới phương thức thể hiện. Đặc biệt là việc báo chí phản
24
24
ánh gắn với đặc thù lĩnh vực khoa học giáo dục với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, chuyên
gia, nhà giáo. Điều này chứng tỏ cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, giáo dục đào tạo luôn
được Đảng, Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu và đang có sự đổi mới quyết liệt trong nhiều
năm qua. Việc triển khai đổi mới một lĩnh vực liên quan đến mọi người, mọi gia đình và thực
hiện không chỉ ngành giáo dục mà cả hệ thống, toàn xã hội. Vì vậy, định hướng đúng đắn các chủ
trương đổi mới về giáo dục, góp ý, phản biện những hạn chế trong quản lý, cách dạy, cách học…
là hết sức quan trọng của các cơ quan báo chí, trong đó có báo in. Do đó, nâng cao chất lượng
thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in là hết sức cần thiết.
Khảo sát và phân tích các báo in cũng cho thấy, thông tin về giáo dục và đào tạo trên báo in rất
sâu rộng, đa dạng, các vấn đề đặt ra bám sát chủ trương của Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục, sát với
bối cảnh thực tế hoạt động giáo dục, những ghi nhận về thành tích cũng như hạn chế, bất cập trong
giáo dục đều được các báo in đề cập, tạo diễn đàn với sự đóng góp tích cực, xây dựng của dư luận.
Tuy nhiên, cũng không thể tránh khỏi những hạn chế, bất cập nhất định của mỗi mỗi báo.
4.Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, phân tích, đánh giá thực tế của báo in cũng
thấy được hạn chế về nội dung như: tổng thể nội dung còn thiên lệch nhiều về phản biện, góp ý;
Việc phản ánh, phân tích góp ý chuyên sâu lĩnh vực giáo dục đào tạo đôi khi còn có những bài
chưa phân tích ở nhiều góc độ khách quan về chủ trương, chính sách, pháp luật và thực tế dẫn
đến người đọc khó hiểu hoặc dẫn đến hoang mang cho học sinh, sinh viên… Về hình thức còn
+ Tìm hiểu nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin của công chúng về lĩnh vực GDĐT ở
các tỉnh, thành phố và trên phạm vi cả nước, trên cơ sở đó tiến tới tìm giải pháp hiện thực hoá các
điều kiện nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin về GDĐT của công chúng.
+ Nghiên cứu các mô hình TT về GDĐT của các nước trên thế giới. Từ đó so sánh với mô
hình của nước ta và rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá.
Vẫn còn có những vấn đề khác rất quan trọng đang cần được tiếp tục triển khai nghiên
cứu tiếp. Chúng tôi hy vọng rằng những kết quả của luận án sẽ đặt những cơ sở cần thiết cho
những nghiên cứu tiếp sau.
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã có những thuận lợi cụ thể như: Đã có một số
công trình như sách, luận văn, một số công trình nghiên cứu khoa học tìm hiểu về lĩnh vực
GDĐT và TT về GDĐT; tác giả nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Thầy cô giáo, các nhà khoa
học ở Học viện Báo chí, các nhà báo ở các cơ quan báo chí nói chung và cơ quan báo chí khảo
sát nói riêng, đặc biệt là sự cộng tác nhiệt tình của các nhà báo, đồng nghiệp trong quá trình viết
luận án; Hai giáo viên hướng dẫn luận án đều hoạt động trong lĩnh vực báo chí truyền thông có
chuyên môn cao, đã có những chỉ bảo tận tình giúp tác giả hiểu vấn đề nghiên cứu và hoàn thiện
luận án một cách tốt nhất.
Tuy nhiên, tác giả cũng gặp một số khó khăn nhất định như chưa nhiều công trình khoa
học lớn nghiên cứu về thông tin GDĐT trên báo in, đặc biệt là các nghiên cứu về các mô hình
thông tin về GDĐT và tiêu chí đánh giá về chất lượng TT về GDĐT trên báo in. Thông tin về
GDĐT trên các báo chưa được đề cao, nhiều lúc các báo còn tập trung thời lượng cho các thông
tin nóng mang tính câu khách. Bản thân chưa có kinh nghiệm, lần đầu tiên đứng trước một công
trình khoa học lớn nên chắc chắn còn nhiều sai sót. NCS rất mong được tiếp tục nhận được các ý
kiến chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý để chỉnh sửa
hoàn thiện Luận án.
Tác giả trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, tạo
điều kiện tốt nhất trong quá trình tác giả thực hiện Luận án.
Xin trân trọng cảm ơn!