Luận văn Thạc sĩ Kinh doanh và quản lý: Tín dụng đối với kinh tế hộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam - Pdf 58

HCVINCHNHTRưHNHCHNHQUCGIAHCHMINH

LấANHTUN

TíN DụNG đối với KINH Tế Hộ
TạI CHI NHáNH NGÂN HàNG NÔNG NGHIệP Và PHáT
TRIểN NÔNG THÔN HUYệN THĂNG BìNH, TỉNH
QUảNG NAM
Chuyờnngnh:Qunlýkinht
Mós

:603401

LUNVNTHCSKINHDOANHVQUNLí

Ngihngdnkhoahc:PGS,TSPHMHO


HÀ NỘI ­ 2011

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu  
của riêng tôi, các số  liệu, kết quả  nêu trong luận  
văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Anh Tuấn




Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng 
Bình, tỉnh Quảng Nam
2.3. Đánh giá chung về  hoạt động tín dụng đối với kinh tế  hộ  tại  

47

Chi   nhánh   Ngân   hàng   Nông   nghiệp   và   phát   triển   nông   thôn 
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

71

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ  GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH 
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ TẠI CHI  
NHÁNH   NGÂN   HÀNG   NÔNG   NGHIỆP   VÀ   PHÁT   TRIỂN 
NÔNG THÔN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM 
TỪ NAY ĐẾN

3.1. Phương hướng
3.2. Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với kinh tế 

84
84

hộ  tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông 
thôn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Ninh 
3.3. Một số kiến nghị

87
111

Hộ sản xuất
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Thương mại
Nợ quá hạn
Sản xuất kinh doanh
Tổ chức kinh tế
Tổ chức tín dụng
Trách nhiệm hữu hạn
Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1
Bảng 2.2

Tài nguyên đất của huyện Thăng Bình năm 2009
Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông 

Trang
43

nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình từ năm 
Bảng 2.3

2005­2009
Tình hình cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp 

49


59

nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 
Bảng 2.8

huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam từ năm 2005­2009
Tình hình cho vay hộ  sản xuất giai đoạn 2005­2009 tại 

61

Chi   nhánh   Ngân   hàng   Nông   nghiệp   và   Phát   triển   nông 
Bảng 2.9
Bảng 

thôn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Kết quả sản xuất của huyện Thăng Bình từ 2005­2009
Nợ  quá hạn của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và  

64
67

2.10

Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình từ năm 2005­2009

68

DANH MỤC HÌNH VẼ




40
50
55

hạn từ năm 2005­2009

62


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  VI của Đảng ta (tháng 12 năm 
1986) khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước, chuyển nền kinh tế từ cơ 
chế  quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều 
thành phần, hạch toán kinh doanh xã hội chủ  nghĩa. Theo đó, các thành 
phần kinh tế, trong đó có kinh tế cá thể, hộ sản xuất… được khuyến khích  
phát triển, được tiếp cận vốn vay ngân hàng và được bình đẳng trước pháp 
luật. Với chủ trương “Phát triển rộng rãi các tổ chức tín dụng tập thể trong 
nhân dân, ngăn chặn nạn tư nhân cho vay nặng lãi” tín dụng đối với kinh tế 
hộ  trên các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư  nghiệp được khôi phục và  
phát triển, ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những đòn 
bẩy để tích tụ và tập trung vốn nhằm đầu tư phát triển kinh tế ­ xã hội nói  
chung và phát triển Nông nghiệp, Nông thôn nói riêng.
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, trong những năm qua 
kinh tế  hộ  Nông nghiệp  ở  huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã nhận 
được nguồn vốn tín dụng từ  Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông  
thôn trên địa bàn. Nhờ  đó, kinh tế  hộ  có điều kiện mở  rộng quy mô sản  
xuất, đa dạng hóa ngành nghề, nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, 

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình mặc dù 
đã có nhiều cố gắng, song cũng còn nhiều bất cập, như hoạt động tín dụng 
còn tiềm  ẩn những yếu tố  không vững chắc, dư  nợ  tín dụng đối với các 
thành phần kinh tế, hiệu quả đầu tư còn thấp và chưa bền vững, chưa tạo  
được động lực mạnh mẽ  để  mở  rộng hoạt động và nâng cao khả  năng 
cạnh tranh… với lý do trên, tôi chọn đề tài  “Tín dụng đối với kinh tế hộ  
tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện  
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, nhằm góp 
phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng kinh 


3
tế hộ tại địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài đã có một số công trình nghiên cứu:
­  Những giải pháp quản lý cho vay vốn để  phát triển kinh tế  nông  
nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam  của Th.s Võ Văn Lâm, Tạp 
chí Sinh hoạt lý luận, số 2 năm 2000.
­ Một số giải pháp đầu tư tín dụng góp phần thực hiện chương trình  
xóa đói, giảm nghèo ở nước ta hiện nay  của Th.s Huỳnh Ngọc Thành, Tạp 
chí Sinh hoạt lý luận, số 2 năm 2000.
­ Tăng cường đầu tư  vốn tín dụng trung và dài hạn ­ giải pháp quan  
trọng thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa của Phạm Thị Khanh, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 4 năm 
2000.
­ Một số giải pháp về tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc  
dân  ở  nước ta giai đoạn 2001 ­ 2010 của Th.s Võ Văn Lâm, Tạp chí Sinh 
hoạt lý luận, số 5 năm 2001.
­ Sự  cần thiết khách quan phải sử  dụng có hiệu quả  vốn vay tín  

+ Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với kinh 
tế hộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện  
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng tín dụng đối với kinh tế hộ tại 
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình,  
tỉnh Quảng Nam; cơ chế, chính sách của Nhà nước về tín dụng đối với kinh tế 
hộ.


5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực tiễn công tác tổ  chức, hoạt động tín dụng đối với kinh tế  hộ 
trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Thời gian thu thập số liệu 
và khảo sát tình hình thực tiễn từ năm 2005 đến năm 2009.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn chủ yếu dựa vào các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các 
qui định, các văn bản hướng dẫn và các báo của Ngân hàng Nông nghiệp và 
Phát triển nông thôn Việt Nam; kế  thừa các kết quả  của các công trình 
nghiên cứu có liên quan đến nội dung mà luận văn đề cập.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để  thực hiện được mục đích và nội dung đề  ra, luận văn thực hiện 
các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; 
phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp; phương pháp toán…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn làm rõ cơ  sở  lý luận của tín dụng ngân hàng cũng như  vai 
trò của nó đối với phát triển kinh tế  hộ  trong nông nghiệp và nông thôn 

tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân, nó là một nghiệp vụ  kinh  
doanh tiền tệ của ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vốn  
và có lãi. Đây cũng là hình thức tín dụng kinh tế hộ, là khoản cho vay của  
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với hộ  nông dân trên 
từng địa bàn để phát triển sản xuất, kinh doanh, xóa đói, giảm nghèo, giải  
quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động.
Khó có thể  đưa ra một định nghĩa rõ ràng về  tín dụng. Vì vậy, tuỳ 
theo góc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ 
này.
Danh từ  tín dụng xuất phát từ  gốc Latinh Credit có nghĩa là một sự 
tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Trong thực tế  cuộc 
sống thuật ngữ  tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả 
trong quan hệ  tài chính, tuỳ  theo từng bối cảnh cụ  thể  mà thuật ngữ  tín 


8
dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu  
theo các nghĩa sau:
­ Xét trên góc độ  chuyển dịch quỹ cho vay từ  chủ thể thặng dư tiết  
kiệm sang chủ  thể  thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương  
pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
­ Trong một quan hệ  tài chính cụ  thể, tín dụng là một quan hệ  giao 
dịch về  tài sản trên cơ  sở  có hoàn trả  giữa hai chủ  thể. Như  một công ty 
công nghiệp hoặc thương mại bán hàng trả  chậm cho một công ty khác, 
trong trường hợp này người bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau  
một thời gian nhất định theo thoả thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán.  
Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác 
với các doanh nghiệp và cá nhân thể  hiện dưới hình thức cho vay, tức là  
ngân hàng cấp tiền cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định người đi  
vay phải thanh toán cả gốc lẫn lãi.

1.1.2. Tín dụng đối với kinh tế hộ
Trong lịch sử  phát triển xã hội loài người, gia đình có vai trò quan  
trọng, vì nó không chỉ  là tế  bào của xã hội, mà còn là đơn vị  sản xuất và 
một đơn vị hay một chủ thể tiêu dùng rất cơ bản với những nhu cầu rất đa  
dạng, phong phú để đảm bảo cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia  
đình.
Nhưng trước xu thế  quốc tế  hóa nền kinh tế  đang diễn ra nhanh 
chóng hiện nay, phải nhận rõ những khó khăn trong việc phát triển mô hình 
kinh tế hộ gia đình, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn.
­ Tính đặc thù của kinh tế hộ
+ Kinh tế hộ sử dụng lao động, đất đai của từng hộ gia đình.
+ Quy mô sản xuất nhỏ lẻ.
+ Mối liên kết của kinh tế hộ thiếu chặt chẽ.


10
Kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản của nền nông nghiệp và hơn thế 
nữa nó còn là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm của nông 
nghiệp, bởi nó có những đặc trưng sau đây:
* Kinh tế  hộ  có sự  gắn bó chặt chẽ  giữa quan hệ  sở  hữu, quan hệ 
quản lý và quan hệ phân phối.
* Các thành viên của kinh tế hộ đều là người trong một gia đình, có 
chung lợi ích, làm chung, ăn chung, cùng chia sẻ thuận lợi, khó khăn, thành 
công hay rủi ro trong cuộc sống và trong lao động sản xuất. Chính vì vậy, ý 
thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong quá trình lao động sản xuất rất  
cao và tự  giác; họ  có ý thức của người chủ  đối với ruộng đất, với cây 
trồng, vật nuôi, với kết quả của quá trình sản xuất. Xét về sự phù hợp với 
đặc thù sinh học của sản xuất nông nghiệp thì kinh tế hộ là đơn vị kinh tế 
cơ bản phù hợp nhất, khó có hình thức kinh tế nào có thể thay thế tốt hơn  
được. 

sản xuất kinh doanh của mình.
Sản xuất của nông hộ  luôn gắn liền với quy mô và đặc điểm môi 
trường sinh thái, đặc biệt là khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn. Kinh tế 
hộ  chưa thể  khắc phục được những bất lợi của thiên nhiên đem đến cho  
mình. Do vậy, kết quả sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ thường hay gặp  
rủi ro. Sản phẩm tạo ra có thời hạn sử dụng ngắn, chủ yếu mang tính chất  
tươi sống, cho nên trong sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với chế  độ 
bảo quản, vận chuyển, chế biến thích hợp và phải có thị trường tiêu thụ để 
giải quyết đầu ra cho sản phẩm, nhất là đối với những sản phẩm hàng hoá  
có khối lượng lớn, có giá trị  kinh tế  cao. Ngoài ra, còn có một số  đặc thù  
khác như  kinh tế  hộ  vừa là đơn vị  sản xuất, vừa là một đơn vị  tiêu dùng, 
kinh tế hộ là đơn vị tự nhiên, tự tạo nguồn lao động… Do những đặc trưng 
như vậy mà nông hộ từ xa xưa cho đến nay, ở tất cả các nước luôn là đơn vị 
kinh tế cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp.


12
Từ một số đặc trưng nêu trên, cho thấy kinh tế hộ là một đơn vị kinh 
tế  tự  chủ, là một bộ  phận hợp thành nền kinh tế  nhiều thành phần, trong 
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Vì 
vậy, hộ  được giao quyền sử  dụng ruộng  đất lâu dài  để  sản xuất kinh 
doanh, có cơ  cấu sản xuất đa dạng, quy mô sản xuất phù hợp với nhiều 
ngành nghề dựa trên cơ sở lao động, vốn của gia đình. Trong quá trình sản  
xuất kinh doanh, các hộ thường có nhu cầu quan hệ hợp tác với nhau và với  
các thành phần kinh tế khác nhằm làm tăng thêm năng lực cho mình.
­ Tín dụng đối với kinh tế hộ
Tín dụng đối với kinh tế  hộ  là số  vốn của ngân hàng cho hộ  nông 
dân vay để  phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời 
sống, xóa đói, giảm nghèo. Tín dụng đối với kinh tế hộ chủ yếu trong lĩnh 
vực nông nghiệp, nông thôn.

hạn chế, thậm chí nhiều hộ  gia đình sau mỗi vụ  thu hoạch thu không đủ 
chi, rất khó khăn trong sản xuất và đời sống. Từ thực tế đó cho thấy, trong 
xã hội nhu cầu tín dụng của khu vực này có ý nghĩa quan trọng nhằm phục 
vụ  cho 2 mục đích: tiêu dùng và đầu tư  phát triển sản xuất. Thực tế  cho  
thấy, các khoản vay để  đáp  ứng nhu cầu tiêu dùng khẩn cấp hầu hết là 
“vay nóng” trên thị trường phi chính thức của những người cho vay năng lãi 
với lãi suất cao ở mức “ cắt cổ”. Các nhu cầu khác sẽ có thể được đáp ứng 
bởi tín dụng ngân hàng, chính vì vậy có thể khẳng định thị trường tín dụng  
của khu vực này là rất rộng lớn. Do đó, các ngân hàng có cơ  sở  để  thâm  
nhập và phát triển thị trường này.
Thứ  hai, khách hàng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn phân bố 
khá phân tán, mật độ khách hàng theo lãnh thổ không cao. Chính vì vậy, các 
ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn về phân bố các chi nhánh nếu muốn tiếp 
cận thị  trường đầy tiềm năng này. Điều này đòi hỏi mức đầu tư  ban đầu 
về cơ sở vật chất, trụ sở, đội ngũ cán bộ nhân viên rất lớn mà không phải  



15
người nông dân chỉ có khả năng tích luỹ những khoản tiết kiệm nhỏ để  gửi 
ngân hàng. Những người khác có nhu cầu vay vốn để sản xuất thì qui mô dự 
án cũng không lớn, qui mô của vốn vay do đó cũng bé vì người vay chỉ cần và  
chỉ có khả năng sử dụng từng ấy tiền. Chính vì vậy, mặc dù số lượng khách 
hàng rất lớn nhưng các món vay và các món tiền gửi lại rất nhỏ. Trong khi đó  
ngân hàng phải triển khai một mạng lưới chi nhánh kèm theo các chi phí hoạt 
động khác ở các đị bàn. Điều này dẫn đến chi phí hoạt động của ngân hàng ở 
khu vực nông thôn thường cao hơn so với thành thị. Chi phí tín dụng cao lại  
ảnh hưởng trực tiếp đến người vay vốn, bởi tỷ suất lợi nhuận bình quân của 
khu vực nông nghiệp, nông thôn luôn thấp hơn khu vực công nghiệp và dịch  
vụ. Một khi hiệu quả  sử  dụng vốn không cao, ngân hàng sẽ  gặp khó khăn 

bên tham gia, trong đó bên thứ  ba (ngoài ngân hàng và khách hàng vay) là  
những tổ chức có trách nhiệm cung  ứng vật tư, hàng hoá thuộc đối tượng 
vay và tiền vay sẽ  được ngân hàng giải ngân để  thanh toán trực tiếp cho 
các tổ  chức này, hoặc bên thứ  ba là các đơn vị  bao tiêu mà họ  có trách 
nhiệm thanh toán nợ cho các ngân hàng nhân danh khách hàng đi vay.
Hình 1.2: Hình thức cho vay trực tiếp có sự tham gia của bên bao tiêu
   (2)
Khách hàng

Ngân hàng

   (1)
(4)

(3)
Tổ chức bao tiêu

(1) Thoả thuận cho vay
(2) Ngân hàng cấp tiền vay
(3) Khách hàng giao sản phẩm cho tổ chức bao tiêu
(4) Tổ chức bao tiêu trả nợ cho ngân hàng
Phương thức cho vay này còn tạo điều kiện cho ngân hàng giám sát 
chặt chẽ  việc sử  dụng vốn vay. Thông thường ngân hàng áp dụng phương 
thức này đối với các hộ  vay trung và dài hạn để  trồng cây công nghiệp dài 
ngày, cây ăn quả, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản ..., đối với các trang 
trại, hay các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông 
nghiệp.
­ Tín dụng bán trực tiếp 



vay vốn

Tổ 
trưởng

Ngân hàng


18
.......................
Người vay 40

Tín

Tính trực tiếp trong phương thức này thể hiện ở chỗ khách hàng thực 
chất vẫn là những hộ  nông dân của Tổ  hợp tác. Ngân hàng thẩm định vay  
theo từng nhu cầu và điều kiện của mỗi hộ  và từng hộ  phải chịu trách 
nhiệm trực tiếp về  hoàn trả  số  tiền được vay. Tính gián tiếp thể  hiện  ở 
chỗ ngân hàng không trực tiếp làm việc với từng khách hàng ­ hộ mà thông  
qua người đại diện là tổ trưởng tổ hợp tác, các thành viên trong tổ gián tiếp 
chịu trách nhiệm về tính hợp lý của khoản vay và khả năng hoàn trả nợ của  
những thành viên khác. Vì thế đây cũng là hình thức biến tướng của những 
phương thức tổ chức cho vay trực tiếp.
+ Cho vay theo tổ liên danh, liên đới vay vốn
Về cách thức thành lập tổ liên danh, liên đới cũng tương tự như cách 
thành lập Tổ hợp tác vay vốn. Tuy nhiên, theo kiểu tổ chức này mỗi thành 
viên trong tổ  phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước việc hoàn trả  nợ  đúng 
hạn của các thành viên còn lại trong tổ. Trong trường hợp các thành viên 
trong tổ  không trả  nợ  đúng hạn thì các thành viên khác phải chịu liên đới 
trách nhiệm. Trong trường hợp chưa trả dứt nợ cũ ngân hàng sẽ không cho 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status