Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa - Pdf 99

Luận văn: Đương đầu với các hiểm nguy
tương lai do các nghiệp vụ quá khứ về tài
chính
Lời nói đầu.
Trong năm qua, tuy phải đương đầu với những khó khăn thách thức nhưng đất
nước ta đã giành được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện, giữ vững ổn
định kinh tế chính trị - xã hội. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế hàng đầu đều đạt và
vượt kế hoạch, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng đất nước được giữ vững.
Tình hình hoạt động tiền tệ Ngân hàng có nhiều biến chuyển tích cực mặc dù phải
chịu tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất lợi trong nước cũng như trên thế
giới.
Cùng với xu thế này, trong những năm vừa qua , NHCT Đống Đa đã được đánh
giá là một trong những Ngân hàng đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đổi mới
của ngành, cơ cấu tổ chức Ngân hàng được hoàn thiện hơn. Là một Ngân hàng
thương mại, NHCT Đống Đa thực hiện rất nhiều nghiệp vụ, trong đó nghiệp vụ
duy trì sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng chủ yếu là huy động vốn trung dài
hạn để cho vay dự án đầu tư phát triển, nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án
thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, kinh doanh tiền tệ tín dụng. Bên cạnh những
thành công đã đạt được trong hoạt động cho vay tín dụng trung dài hạn các dự án
đầu tư, Ngân hàng còn gặp không ít khó khăn và nhiều rủi ro. Chính vì vậy, để
đảm bảo hiệu quả và an toàn cho vay đòi hỏi phải tích cực nâng cao chất lượng
công tác thẩm định trước cho vay, đặc biệt là cho vay dự án đầu tư. Hoạt động
thẩm định dự án đầu tư đang thực sự đóng vai trò quan trọng. Mục tiêu đặt ra của
NHCT Đống Đa trong năm tới là tiếp tục mở rộng hình thức tín dụng này.
Từ thực tế như vậy, với mong muốn góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp phát triển của

kinh doanh của doanh nghiệp đó.
- Đầu tư phát triển là hoạt động bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản, tạo ra
những năng lực sản xuất , phục vụ mới bao gồm: xây dựng các công trình mới, các
hoạt động dịch vụ mới, cải tạo mở rộng cải thiện đời sống người lao động.
Có thể nói đầu tư phát triển đó là một quá trình có thời gian kéo dài trong nhiều
năm với số lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu tư khá lớn
và vốn nằm đọng trong suốt quá trình thực hiện dự án đầu tư(viết tắt là DAĐT).
Các thành quả của loại đầu tư này cần được sử dụng trong nhiều năm, đủ để các lợi
ích thu được tương ứng và lớn hơn những nguồn lực đã bỏ ra. Chỉ có như vậy thì
công cuộc đầu tư mới được coi là có hiệu quả.
b. Đặc trưng của đầu tư
Để làm rõ hơn nội dung của khái niệm hoạt động đầu tư, chúng ta đi sâu phân tích
các đặc trưng cơ bản của hoạt động này:
- Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường và trước hết
là quyết định tài chính.
Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi. Dưới các hình thức khác nhau nhưng
vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ. Vì vậy, các quyết định đầu tư thường
được xem xét trên phương diện tài chính (khả năng sinh lời, tổn phí, có khả năng
thu hồi được hay không…). Trên thực tế, các quyết định đầu tư cân nhắc bởi sự
hạn chế của ngân sách nhà nước, địa phương, cá nhân và được xem xét từ các khía
cạnh tài chính nói trên. Nhiều dự án có khả thi ở các phương diện khác (kinh tế –
xã hội) nhưng không khả thi về phương diện tài chính vì thế cũng không thể thực
hiện được trên thực tế.
- Hoạt động đầu tư là hoạt động có tính chất lâu dài.
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tư
luôn là hoạt động có tính chất lâu dài. Do đó, mọi sự trù liệu đều là dự tính và chịu
một xác suất biến đổi nhất định do nhiều nhân tố biến đổi tác động. Chính điều này
là một trong những vấn đề then chốt phải tính đến trong nội dung phân tích, đánh
giá của quá trình thẩm định dự án.
- Hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động luôn cần có sự cân nhắc giữa lợi

sự tăng trưởng là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và công nghệ. Thông qua hoạt
động đầu tư, các yếu tố đó sẽ được khai thác, huy động và phát huy một cách tối đa
để từ đó tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực mới cho sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Đối với nền kinh tế, đầu tư có tác động rất lớn đến tổng cung và tổng cầu. Do đầu
tư tác động không hoàn toàn phù hợp về mặt thời gian đối với nhịp độ phát triển
nên mỗi sự thay đổi tăng hoặc giảm của đầu tư đều cùng lúc vừa là yếu tố duy trì
sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế.
Với những nước có tỉ lệ đầu tư lớn thì tốc độ tăng trưởng cao. Ngược lại khi tỉ lệ
đầu tư càng thấp thì tốc độ tăng trưởng và mức độ tích luỹ càng thấp. Trong nền
kinh tế quốc dân, để tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý thì vấn đề đầu tiên có tính
chất then chốt là phải thực hiện đầu tư và phân bổ vốn một cách hợp lý. Có như
vậy mới tạo ra được sự dịch chuyển về cơ cấu do mỗi ngành, mỗi thành phần kinh
tế đều có thế lực và tiềm năng riêng. Ngoài ra, kinh nghiệm của các nơi trên thế
giới cho thấy con đường tất yếu để có thể phát triển nhanh là tăng cường đầu tư
vào phát triển khu công nghiệp thương mại du lịch và dịch vụ.
Đối với một doanh nghiệp thì đầu tư cũng đóng vai trò quyết định đến sự tồn vong
và phát triển. Trong nền kinh tế hiện nay, doanh nghiệp được coi là các tế bào chủ
yếu nhất cho sự phát triển chung. Để thành lập nên một doanh nghiệp thì điều đầu
tiên là phải có vốn đầu tư. Nó là một trong những yếu tố thiết yếu để có thể tạo
dựng nên nền móng cơ sở vật chất ban đầu cho doanh nghiệp. Ngay cả sau khi
doanh nghiệp đã được thành lập thì việc phát triển hay lụi tàn đến mức nào đó
cũng phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu tư.
1.1.2. Dự án đầu tư.
a. Khái niệm dự án đầu tư (DAĐT)
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “DAĐT là một tập hợp các
hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các
nguồn lực nhất định”.
ở Việt Nam, khái niệm DAĐT được trình bày trong nghị định 52/1999 NĐ-CP về
quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản: “ DAĐT là tập hợp các đề xuất có liên

trình của dự án. Chu trình của dự án được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn
bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành kết quả. Giai đoạn
chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở giai đoạn sau,
đặc biệt đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư.
Đối với chủ đầu tư và nhà tài trợ, việc xem xét đánh giá các giai đoạn của chu trình
dự án là rất quan trọng. Nhưng đứng ở các góc độ khác nhau, mỗi người có mối
quan tâm và xem xét các giai đoạn và chu trình cũng khác nhau. Chủ đầu tư phải
nắm vững ba giai đoạn, thực hiện đúng trình tự. Đó là điều kiện để đảm bảo đầu tư
đúng cơ hội và có hiệu quả.
b. Vai trò của DAĐT.
Vai trò của DAĐT được thể hiện cụ thể ở những điểm chính sau:
- Đối với chủ đầu tư: dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn đầu
tư. DAĐT được soạn thảo theo một quy trình chặt chẽ trên cơ sở nghiên cứu đầy
đủ về các mặt tài chính, thị trường, kỹ thuật, tổ chức quản lý. Do đó, chủ đầu tư sẽ
yên tâm hơn trong việc bỏ vốn ra để thực hiện dự án vì có khả năng mang lại lợi
nhuận và ít rủi ro. Mặt khác, vốn đầu tư của một dự án thường rất lớn, chính vì vậy
ngoài phần vốn tự có các nhà đầu tư còn cần đến phần vốn vay ngân hàng. Dự án
là một phương tiện rất quan trọng giúp chủ đầu tư thuyết phục ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho vay vốn. DAĐT cũng là cơ sở để chủ đầu tư
xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư.
Quá trình này là những kế hoạch mua sắm máy móc thiết bị, kế hoạch thi công,
xây lắp, kế hoạch sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, dự án còn là căn cứ để đánh giá
và điều chỉnh kịp thời những tồn đọng vướng mắc trong quá trình thực hiện đầu tư,
khai thác công trình.
- Đối với Nhà nước: DAĐT là cơ sở để cơ quan quản lý Nhà nước xem xét,
phê duyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tư. Vốn ngân sách Nhà nước sử dụng để
đầu tư phát triển theo kế hoạch thông qua các dự án các công trình, kết cấu hạ tầng
kinh tế – xã hội, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, cac DAĐT quan
trọng của quốc gia trong từng thời kỳ. Dự án sẽ được phê duyệt, cấp giấy phép đầu
tư khi mục tiêu của dự án phù hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế, xã

+ Đối với nền kinh tế : Xét trên phương diện vĩ mô để đảm bảo được tính thống
nhất trong hoạt động đầu tư của toàn bộ nền kinh tế, tạo ra một tốc độ tăng trưởng
mạnh mẽ, đồng thời tránh được những thiệt hại và rủi ro không đáng có thì cần
phải có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư cơ bản. Thẩm định
DAĐT chính là một công cụ hay nói cách khác đó là một phương thức hữu hiệu
giúp nhà nước có thể thực hiện được chức năng quản lý vĩ mô của mình. Công tác
thẩm định sẽ được tiến hành thông qua một số cơ quan chức năng thay mặt nhà
nước để thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư như: Bộ kế hoạch đầu
tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài Chính, Bộ khoa học công nghệ và môi trường…cũng như
các UBND tỉnh, thành phố, các bộ quản lý ngành khác. Qua việc phân tích DAĐT
một cách hết sức toàn diện, khoa học và sâu sắc, các cơ quan chức năng này sẽ có
được những kết luận chính xác và rất cần thiết để tham mưu cho nhà nước trong
việc hoạch định chủ trương đầu tư, định hướng đầu tư và ra quyết định đầu tư đối
với dự án. Trong thực tế, để tạo điều kiện cho các cơ quan thẩm định dự án, các
DAĐT được chia ra làm một số loại cụ thể. Trên cơ sở phân loại này, các sự phân
cấp trách nhiệm trong khâu thẩm định và xét duyệt. Các DAĐT phải đảm bảo tính
chính xác và được nhanh chóng phê duyệt. Hiện nay, các công tác quản lý đầu tư
trên lãnh thổ Việt nam được thực hiện theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng,
ban hành và kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ - CP ban hành 08/07/1999 của
Thủ tướng Chính phủ – Nghị định số 12/2000/NĐ - CP ban hành 05/05/2000.
Theo những Nghị định này, các ngân hàng đã cụ thể hoá chức năng của mình
nhằm nâng cao hiệu quả về quản lý phân cấp đầu tư.
+ Đối với NHTM: Cũng như các doanh nghiệp khác, trong cơ chế thị trường hoạt
động của NHTM phải chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan trong
đó có quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường luôn dẫn đến kết
quả một người thắng và nhiều kẻ thất bại và cạnh tranh là một quá trình diễn ra
liên tục. Các doanh nghiệp luôn phải cố gắng để là người chiến thắng. NHTM
trong nền kinh tế luôn phải đương đầu với áp lực của cạnh tranh, khả năng xảy ra
rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra bất cứ loại hình hoạt động này của ngân hàng như rủi ro
tín dụng, thanh toán, chuyển hoán vốn, lãi suất, hối đoái…Trong đó rủi ro về tín

- Rút kinh nghiệm và đưa ra bài học để thực hiện các dự án được tốt hơn.
- Tư vấn cho chủ đầu tư để hoàn thiện nội dung của dự án.
1.2.3. Nội dung công tác thẩm định DAĐT tại các NHTM
Xem xét sơ bộ theo các nội dung chính của dự án:
- Mục tiêu của dự án
- Sự cần thiết đầu tư dự án
- Quy mô đầu tư: Công suất thiết kế, giải pháp công nghệ, cơ cấu sản phẩm
và dịch vụ đầu ra của các dự án, phương án tiêu thụ sản phẩm.
- Quy mô vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư, cơ cấu đầu tư theo các tiêu chí khác
nhau(lắp đặt, thiết bị và các chi phí khác…)
Phân tích về thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của các dự
án.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của các dự án đóng vai trò rất quan
trọng quyết định việc thành bại của một dự án. Vì vậy việc thẩm định dự án cần
được xem xét đánh giá kỹ về phương diện này khi thẩm định dự án. Các nội dung
chính cần xem xét đánh giá là:
- Đánh giá tổng quan về nhu cầu sản phẩm của dự án:
+ Định dạng sản phẩm của dự án.
+ Đặc tính của nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án, tình hình sản
xuất, tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ thay thế đến thời điểm thẩm định.
+ Xác định tổng nhu cầu hiện tại và dự đoán nhu cầu tương lai đối với sản phẩm,
dịch vụ đầu ra của dự án, ước tính mức tiêu thụ gia tăng hàng năm của thị trường
nội địa và khả năng xuất khẩu sản phẩm của dự án trong đó lưu ý liên hệ với mức
gia tăng trong quá khứ, khả năng sản phẩm của dự án có thể bị thay thế bởi sản
phẩm khác có cùng công dụng.
- Đánh giá về cung sản phẩm:
+ Xác định năng lực sản xuất, cung cấp đáp ứng nhu cầu trong nước hiện tại của
sản phẩm dự án như thế nào, các nhà sản xuất trong nước đã đáp ứng được bao
nhiêu phần trăm, phải nhập khẩu bao nhiêu, việc nhập khẩu là do sản xuất trong
nước chưa đáp ứng được nhu cầu hay sản phẩm nhập khẩu có ưu thế cạnh tranh

năm.
Thẩm định về khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào của một
dự án.
Trên cơ sở hồ sơ dự án(báo cáo đánh giá chất lượng, trữ lượng tài nguyên, giấy
phép khai thác tài nguyên, nguồn thu mua bên ngoài, nhập khẩu…) và đặc tính kỹ
thuật của dây chuyền công nghệ, đánh giá đáp ứng đến khả năng cung cấp nguyên
vật liệu đầu vào cho dự án:
- Nhu cầu về nguyên vật liệu đầu vào để phục vụ sản xuất hàng năm.
- Các nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu vào: do một hay nhiều nhà cung cấp,
quan hệ từ trước hay mới thiết lập, khả năng cung ứng và mức độ tín nhiệm.
- Chính sách nhập khẩu đối với các nguyên vật liệu đầu vào nếu có.
- Biến động về giá mua, nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tỉ giá trong
trường hợp phải nhập khẩu.
Tất cả những phân tích đánh giá trên đều nhằm kết luận được hai vấn đề chính sau
đây:
+ Có chủ động được nguyên nhiên vật liệu đầu vào hay không tức tính ổn định lâu
dài của nguồn nguyên vật liệu.
+ Những thuận lợi khó khăn đi kèm với việc đó có thể chủ động được nguyên
nhiên vật liệu đầu vào.
Thẩm định về phương diện kỹ thuật
Thẩm định dự án về phương diện kỹ thuật là việc kiểm tra phân tích các yếu tố kỹ
thuật và công nghệ chủ yếu của dự án để đảm bảo tính khả thi về mặt thi công và
xây dựng dự án cũng như việc vận hành dự án theo đúng các mục tiêu đã dự kiến.
Đối với ngân hàng, việc phân tích kỹ thuật lại là một vấn đề khó nhất vì nó đề cập
đến rất nhiều chỉ tiêu và quan trọng hơn cả là nó quyết định đến chất lượng sản
phẩm. Chính vì vậy mà cán bộ tín dụng cần đặc biệt quan tâm đến việc thẩm định
dự án trên phương diện kỹ thuật, về việc thẩm định dự án này dựa trên các nội
dung chính sau đây:
- Địa điểm xây dựng:
+ Xem xét, đánh giá địa điểm có thuận lợi về giao thông hay không, có gần nguồn

có tận dụng được các cơ sở vật chất hiện có hay không.
+ Tổng dự toán, dự toán của từng hạng mục công trình, có hạng mục nào cần đầu
tư mà chưa được tích luỹ hay không, có hạng mục nào cần thiết hoặc chưa cần
thiết phải đầu tư hay không.
+ Tiến độ thi công có phù hợp với việc cung cấp máy móc thiết bị, có phù hợp với
thực tế hay không.
+ Vấn đề hạ tầng cơ sở: Giao thông, điện, cấp thoát nước…
- Môi trường:
+ Xem xét đánh giá các giải pháp về môi trường của dự án có đầy đủ, phù hợp
chưa, đã được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trong từng trường hợp yêu cầu
phải có hay chưa.
Trong phần này, cán bộ thẩm định cần phải đối chiếu với các quy định hiện hành
về Thẩm định về phương diện tổ chức và quản lý thực hiện dự án
- Xem xét năng lực uy tín của các nhà đầu tư, thi công cung cấp thiết bị, công
nghệ.
- Xem xét kinh nghiệm, trình độ tổ chức vận hành chủ yếu của các nhà đầu
tư, đánh giá sự hiểu biết, kinh nghiệm của khách hàng đối với việc tiếp cận điều
hành công nghệ, thiết bị mới của dự án.
- Khả năng ứng xử của khách hàng khi thị trường dự kiến biến mất.
- Đánh giá về nguồn lực của dự án cần đòi hỏi về tay nghề, trình độ kỹ thuật,
kế hoạch đào tạo, khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho dự án.
Thẩm định về mặt tài chính của dự án.
Thẩm định tài chính DAĐT, đối với NHTM, ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả của
dự án còn nhằm đảm bảo sự an toàn cho các nguồn vốn mà ngân hàng tài trợ cho
dự án. Đó là việc phân tích, xem xét, đánh giá về mặt tài chính của DAĐT bao
gồm một loạt các phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính và các chỉ tiêu phân
tích DAĐT. Qua đó đi đến kết luận có đầu tư cho dự án hay không.
Trong công tác thẩm định tài chính DAĐT, giá trị thời gian của tiền là một trong
những nguyên tắc cơ bản của việc tính toán các chỉ tiêu, việc thẩm định chi phí và
lợi ích của dự án phải được quy về thời điểm gốc để tiện cho việc so sánh. Thẩm

dự án được tính toán hợp lý chưa, đã tính toán đủ các khoản cần thiết hay chưa,
cần xem xét yếu tố làm tăng chi phí do trượt giá, phát sinh thêm khối lưọng dự
phòng, việc thay đổi tỷ giá ngoại tệ nếu dự án sử dụng ngoại tệ… Ngoài ra cán bộ
thẩm định cũng cần tính toán, xác định xem nhu cầu vốn lưu động cần thiêt ban
đầu để đảm bảo hoạt động của dự án sau này nhằm có cơ sở thẩm định các giải
pháp nguồn vốn và tính toán hiệu quả tài chính sau này.
Trên cơ sở tổng mức vốn đầu tư được duyệt, cán bộ thẩm định rà soát lại từng loại
nguồn vốn tham gia tài trợ cho dự án, đánh giá khả năng tham gia của từng loại
nguồn vốn từ kết quả phân tích tình hình tài chính của chủ đầu tư, để đánh giá khả
năng tham gia nguồn vốn của chủ sở hữu. Chi phí của từng loại nguồn vốn có điều
kiện vay đi kèm của từng loại nguồn vốn. Cân đối giữa nhu cầu vốn đầu tư và khả
năng tham gia tài trợ của các nguồn vốn dự kiến để đánh giá tính khả thi của nguồn
vốn thực hiện dự án.
Thẩm định chi phí sản xuất, doanh thu, lợi nhuận hàng năm của dự án.
Đây là vấn đề quan trọng mà chủ đầu tư và cả ngân hàng đều quan tâm vì nó là
nhân tố phản ánh được dự án lỗ hay lãi. Việc xác định chi phí sản xuất, doanh thu,
lợi nhuận phải tính riêng cho từng năm hoạt động của cả đời dự án.
- Việc xác định chi phí sản xuất hàng năm gồm: Chi phí về nguyên vật liệu,
nhiên liệu, năng lượng các bán thành phẩm và dịch vụ mua ngoài, chi tiền nước
cho sản xuất, lương và bảo hiểm xã hội…và các khoản khác.
- Doanh thu hàng năm của dự án gồm: Doanh thu từ sản phẩm chính, sản
phẩm phụ, tiền thu từ việc cung cấp dịch vụ cho bên ngoài; các khoản tiền thu
khác. Sau khi xác định được nguồn thu và nguồn chi trong kỳ, ngân hàng phải xác
định dòng tiền ròng hàng năm của dự án theo công thức:
NCFi= Bi - Ci
Trong đó, Bi là nguồn thu năm thứ (i)
Ci là nguồn chi năm thứ (i)
NCFi là dòng tiền ròng hàng năm của dự án năm thứ (i)
Trên cơ sở dó tiến hành thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án.
• Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng của dự án. NPV (Net Present Value)

cho cân bằng giữa các giá trị hiện tại của thu nhập và giá trị hiện tại của chi phí của
dự án, cho nên với một mức chi phí > IRR thì dự án sẽ bị lỗ vốn và không có tính
khả thi. Ngược lại với chi phí vốn IRR thì dự án mới khả thi. Trong thực tế diễn ra
hai trường hợp:
- Đối với dự án độc lập thì Điều kiện lựa chọn IRRDA > IRR định mức.
Nếu dự án sử dụng nguồn vay thì IRR lãi suất tiền vay NH.
- Cũng có thể so sánh IRR tính toán với IRR của những dự án tương tự đã và
đang được thực hiện.
Thời gian hoàn vốn đầu tư (T) của dự án:
Thời gian hoàn vốn là số năm cần thiết để cho tổng giá trị hiện tại thu hồi bằng
tổng giá trị hiện tại của vốn đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status