TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*************
LÊ THỊ LAN ANH
LỄ HỘI LỒNG TỒNG TRONG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA
DÂN TỘC TÀY - NÙNG MIỀN
NÚI PHÍA BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đã
truyền đạt những kiến thức chuyên ngành, chỉ dạy tôi trong suốt quá trình
học tập tại trường ĐHSP Hà Nội 2. Đặc biệt là TS. Nguyễn Thị Tính đã
định hướng đề tài và hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Với vốn kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn
nhiều hạn chế, khóa luận không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Người thực hiện
Lê Thị Lan Anh
1.2.2. Phân loại lễ hội truyền thống ................................................................ 12
1.2.3. Đặc trưng của lễ hội truyền thống......................................................... 15
1.3. Lịch sử hình thành lễ hội Lồng tồng ........................................................ 18
1.4. Vài nét về lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam ........... 20
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 21
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM LỄ HỘI LỒNG TỒNG ........................................ 23
CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC................................ 23
2.1. Đối tượng thờ phụng ................................................................................ 23
2.2. Thời gian và không gian tổ chức lễ hội.................................................... 23
2.2.1. Thời gian tổ chức .................................................................................. 23
2.2.2. Không gian tổ chức ............................................................................... 24
2.3. Các hoạt động của lễ hội .......................................................................... 24
2.3.1. Công tác chuẩn bị.................................................................................. 24
2.3.2. Hoạt động nghi thức trong lễ hội .......................................................... 25
2.3.3. Hoạt động vui chơi, trò diễn trong lễ hội .............................................. 28
2.4. Tín ngưỡng đặc trưng của lễ hội .............................................................. 30
2.5. Những nét tương đồng trong lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - ........... 34
Nùng và lễ hội Xuống đồng của người Kinh ở Duy Tiên - Hà Nam.............. 34
2.5.1. Tương đồng về diễn biến lễ hội ............................................................ 34
2.5.2. Tương đồng về ý nghĩa lễ hội ............................................................... 36
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 36
CHƯƠNG 3. VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI LỒNG TỒNG .................................. 38
TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÀY, NÙNG .................................... 38
3.1. Vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống vật chất và tinh thần .......... 38
3.1.1. Trong đời sống vật chất......................................................................... 38
3.1.2. Trong văn hoá tinh thần ........................................................................ 39
3.2. Thực trạng và một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa trong lễ hội Lồng
tồng.................................................................................................................. 42
trí, nghỉ ngơi sau một vụ mùa, một năm lao động vất vả.
Mỗi lễ hội đều mang những nét đặc trưng và những nét riêng biệt. Lễ
hội Lồng tồng “Xuống đồng” là một lễ hội như vậy. Hằng năm, cứ vào dịp
sau tết Nguyên Đán, ở khắp các bản làng của tộc người Tày, Nùng ở các tỉnh
miền núi phía Bắc lại nô nức chờ đón những ngày hội rộn ràng của lễ hội
Lồng tồng (Lồng thồng, Lùng tùng…), hay còn gọi là Oóc tồng, nghĩa là
Xuống đồng (lồng là xuống, tồng là đồng). Do vậy, lễ hội Lồng tồng là lễ hội
Xuống đồng. Đây là lễ hội mang tính chất nghi lễ nông nghiệp cổ xưa, mở
đầu cho một mùa sản xuất mới; trong lễ hội còn có lễ tạ Thành Hoàng, Thần
2
Nông, cầu cho mùa màng bội thu, gia súc phát triển, con người khỏe mạnh,
bản làng yên vui, mọi người, mọi nhà ấm no, hạnh phúc. Lễ hội Lồng tồng là
một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian mang bản sắc văn hóa tộc người
Tày, Nùng ở các bản làng địa phương rất độc đáo. Sau một năm lao động vất
vả, lễ hội mở ra mang lại những giờ phút nghỉ ngơi, thanh thản, mọi người có
điều kiện gặp gỡ thăm hỏi, chúc tụng nhau; đồng thời cũng là dịp giao lưu
tình cảm giữa các cô gái, chàng trai bằng những lời hát then sli, lượn. Lễ hội
Lồng tồng là một lễ hội dân gian giàu bản sắc và sinh động, mang nhiều ý
nghĩa trong ngày xuân và trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc.
Là một sinh viên của ngành Việt Nam học cùng với tình yêu văn hóa lễ
hội, phong tục tập quán của dân tộc Tày, Nùng; tôi đã chọn đề tài: “Lễ hội
Lồng tồng trong đời sống văn hóa của dân tộc Tày - Nùng miền núi phía Bắc”
làm đề tài khóa luận để có thể hiểu thêm về con người, văn hóa và lễ hội của
họ.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu lễ hội không chỉ góp phần lý giải nhiều vấn đề khoa học về
thiệu trên các sách địa chí như: Địa chí Hà Bắc, Địa chí thành phố Hồ Chí
Minh, Địa chí Minh Hải, Địa chí Vĩnh Phú, Văn hoá dân gian vùng đất Tổ…
Từ năm 1988 đến nay, các chuyên khảo về lễ hội xuất hiện ngày càng
nhiều như : Lễ hội dân gian Huế (1988), Hội hè Việt Nam (1990), Hội xứ
Bắc (1989), Bảo tàng di tích - lễ hội (1992)…
Cho đến nay đề tài liên quan đến lễ hội Lồng tồng nói chung có một số
công trình nghiên cứu như: Phan Đăng Nhật với tác phẩm Lễ hội cổ truyền
[14]. Đáng lưu ý có trang tác giả cho rằng: “Lễ hội là một pho lịch sử khổng
lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hoá, nghệ thuật
và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc” và “Lễ hội còn là
4
bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Việt. Chúng
đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút và
thuyết phục mạnh mẽ nhất”.
Cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam, của Trần Quốc Vượng, Lê
Văn Hảo, Dương Tất Từ [23; tr.167-tr.178] các tác giả đã viết về “Hội Lồng
Tồng: Những ngày hội xuân tiêu biểu của Việt Bắc” trong những trang này
khi viết về hội Lồng tồng các tác giả cũng đã trình bày về nguồn gốc của hội
qua một số truyền thuyết ở Lạng Sơn, ở Cao Bằng… và đề cập đến một số
nghi lễ và trò chơi trong ngày hội.
Các tác giả Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sỹ Giáo, Lâm Bá Nam
với cuốn Lễ hội cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam [4; tr.42], các tác giả đã
viết về Hội Xuống Đồng (Hội Lồng Tồng). Đây là lễ hội truyền thống của cư
dân nông nghiệp, một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc ở
vùng Việt Bắc.
Tác giả Lê Văn Kỳ trong Lễ hội nông nghiệp Việt Nam [8; tr.161tr.167], đã viết về Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc
Việt Nam và đã trình bày về thời gian, địa điểm mở hội, cách thức mở hội,
những nghi lễ và các trò chơi dân gian của lễ hội cũng được tác giả trình bày
của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc.
Tìm hiểu và chỉ ra những nét văn hóa đặc sắc tương đồng trong lễ hội
Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc với lễ hội Xuống đồng
của người Kinh ở Duy Tiên, Hà Nam.
Tìm hiểu về vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống các dân tộc
Tày, Nùng; thực trạng và một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa của lễ hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là lễ hội Lồng tồng trong đời sống văn hóa của
dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc.
7
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc
- Mở rộng so sánh với lễ hội Xuống đồng của người Kinh ở Duy Tiên Hà Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã và tổng kết thực tiễn: thực hiện quan sát,tìm
hiểu,nghiên cứu trong quá trình điền dã thực tế.
- Phương pháp liên ngành.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
6. Đóng góp của khóa luận
Góp phần vào việc giới thiệu, giúp nâng cao hiểu biết về lễ hội Lồng
tồng của đồng bào dân tộc miền núi.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho việc học tập và nghiên cứu lễ hội Lồng tồng của các dân tộc miền
núi Việt Nam.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo. Khóa luận tốt nghiệp
là sinh hoạt tập thể, là hoạt động tinh thần của cộng đồng. Dân tộc nào cũng
có lễ hội riêng của dân tộc mình, các dân tộc khác nhau có lễ hội khác nhau.
Lễ hội của các dân tộc thường là sự phản ánh nhận thức liên quan đến tập
quán sản xuất, đến các hoạt động tập thể của cộng đồng. Cư dân trồng trọt
thường tổ chức nhiều lễ hội liên quan đến gieo trồng, đến cầu mùa, đến thu
hoạch. Cư dân sống chủ yếu bằng nghề săn bắn và hái lượm thường tổ chức
các lễ hội hoá trang, các động tác tượng trưng cho pháp thuật săn bắn, các
hình tượng tượng trưng cho việc săn bắn kết quả. Lễ hội còn là dịp để nhớ về
lịch sử, nhớ về cội nguồn của dân tộc, lễ hội được tổ chức có thể gắn với các
danh lam thắng cảnh, các truyền thuyết liên quan đến sự hình thành, phát triển
phồn vinh của vùng quê, người đi lễ hội vừa là để thay đổi không khí cuộc
sống là dịp gặp gỡ vui vẻ, là dịp tìm tòi sự may mắn qua nguyện ước thắp
hương ở nơi dự lễ.
Ngày lễ hội cũng chính là dịp để họ hàng và bè bạn gần xa tới thăm hỏi
chúc tụng nhau, mời nhau ăn uống. Mùa lễ hội là mùa vui của tất cả mọi
người dân trong bản từ cụ già đến em nhỏ đều háo hức lễ hội để họ có dịp
diện những bộ quần áo mới nhất đi chơi hội và được xem những trò vui, trò
diễn trong lễ hội. Trong lễ hội bao gồm hai phần chính là lễ và hội:
“Lễ” trước hết được hiểu là nghi thức, là mở đầu cho hội làng. “Lễ là
những nghi thức nhằm đánh dấu kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào
đó” [18; tr.450]. Theo quan niệm của Khổng Tử (người sáng lập ra Nho giáo)
khi ông nói về lễ (bàn trong Lễ - Nhạc) thì lễ trước hết là trật tự, nhạc là sự
hài hòa. Lễ mang ý nghĩa là mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên
và xã hội. Lễ vốn là phép ứng xử văn hoá, trong ứng xử xã hội, bao gồm ứng
xử giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng và ngược lại, giữa các
thiết chế nhỏ trong cộng đồng lớn với nhau… Thường được bắt đầu và phải
bắt đầu từ lễ, tức là từ nghi thức trước khi đi vào một nội dung giữa hai quan
hệ hoặc các quan hệ trong xã hội. Từ những nghi thức mang tính xã giao đời
không phải là hội.
Có thể nói lễ và hội là một thể thống nhất không thể chia tách trong
hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo của con người. Lễ là phần “đạo”, phần tín
ngưỡng, phần thế giới tâm linh sâu lắng của con người, là cơ sở để mọi người
vui hội. Còn hội là tập hợp các trò diễn có tính lễ thức, các cuộc vui chơi, giải
trí tại một địa điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn
giáo hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hoá thường
nhật và một phần đời của một cá nhân và cả cộng đồng nhân kỷ niệm một sự
kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội. Không khí vui vẻ, tưng bừng
mang đậm màu sắc tôn giáo nguyên thuỷ của hội lại là biểu hiện cho sự thành
công của lễ. Hội làm cho lễ càng thêm trang trọng, uy nghiêm và thần bí hơn,
cấu thành lễ hội, không có lễ hội nào có thể thiếu một trong hai thành phần
đó.
1.2. Lễ hội truyền thống
1.2.1. Khái niệm lễ hội truyền thống
Với nền văn minh lúa nước lâu đời ở xứ sở nhiệt đới, lễ hội cổ truyền
Việt Nam với nhiều hình thức phong phú đa dạng và độc đáo. Lễ hội là một
sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam là nền
văn hóa nông nghiệp. Vậy lễ hội truyền thống Việt Nam là lễ hội nông
nghiệp. Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp của
dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mưa thuận gió hòa vạn vật sinh sôi nảy nở.
Theo GS. Trần Quốc Vượng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm
những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là ghi thức
hay nghi lễ nông nghiệp như: lễ hội “Lồng tồng” của người Tày, Nùng; lễ tế
Thần Nông, lễ Hạ Điền (Xuống Đồng của người Mường), lễ hội Thượng Điền
của người Việt - mà bao gồm cả những hội săn chim, đuổi cuốc, săn hổ, bắt
cáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hội chùa, hội đình…
Tất cả chúng đều được gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong không
1.2.2. Phân loại lễ hội truyền thống
1.2.2.1. Lễ hội gắn với tín ngưỡng cầu mùa
Theo Từ điển tiếng Việt thì tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó.
Như vậy, tín ngưỡng chỉ là một niềm tin tôn giáo. Mỗi tín đồ của một tôn giáo
nào đó đều có niềm tin riêng của mình, khác với niềm tin của tôn giáo khác.
Lâu nay, có một số người hiểu không đúng về thuật ngữ này, thường coi tín
ngưỡng cũng là tôn giáo (tín ngưỡng dân gian cũng là một tôn giáo sơ khai).
Tín ngưỡng không có ý chỉ là một tôn giáo, mà chỉ là một niềm tin có tính
chất tôn giáo. Đại đa số nhân dân Việt Nam đều tin theo tôn giáo sơ khai mà
ngành dân tộc học gọi là đa thần giáo xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu
linh.
Cầu mùa là một tín ngưỡng có từ lâu đời trong đời sống của nhiều dân
tộc trên đất nước Việt Nam. Nó ra đời gắn liền với nền văn minh nông nghiệp
và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cầu mùa ở mỗi dân tộc có một
cách thể hiện khác nhau nhưng cùng giống nhau ở một mục đích cuối cùng đó
là cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, người người khỏe mạnh, mùa màng
thắng lợi, vạn vật tốt tươi, sinh sôi nảy nở… Đó là một nét đẹp văn hóa cần
được bảo tồn và phát huy.
Đây là loại lễ hội phổ biến ở tất cả các dân tộc. Tuy ở mỗi địa phương
mỗi dân tộc có những nghi thức, nghi lễ khác nhau, nhưng đều cùng chung
một nội dung là cầu mùa. Những nội dung đó được thể hiện một cách sinh
động ở các lễ thức sau:
Lễ thức liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp bao gồm lễ hội
tái hiện các sinh hoạt kinh tế tiền nông nghiệp như sắn bắn, hái lượm, lễ mở
cửa rừng, hồ đánh cá…và những lễ thức tái hiện hoạt động sản xuất nông
nghiệp như cây cối, hội tầm tang, trình nghề nông, thờ ông Điền…
Loại lễ hội này đều thờ cúng, diễn tích liên quan đến các vị nhiên thần
và nhân dân đã có công khai sơn phá thạch, xây dựng, giữ gìn, bảo vệ làng
xóm, đất nước và chư vị Thánh, Phật có công khai minh, khai mang, xây
dựng đền chùa, giúp dân giệt ác trừ tà, bảo vệ cái thiện… Điều đáng lưu ý ở
đây là sự thờ cúng ở các dân tộc miền núi chủ yếu là các lực lượng nhiên
thần, còn ở đồng bằng thì chủ yếu lại thờ cúng các lực lượng nhân thần. Đó
là:
Các nghi thức thờ cúng các thần thổ địa, thần rừng, thần sông nước (ở
miền núi), thờ thần cây đa, bến nước như Sơn Thần, Giang Thần, Đông Hải
Đại Vương (ở miền xuôi)…
Lễ rước các vị danh nhân văn hóa, anh hùng lịch sử như Tản Viên Sơn
Thánh, chư vị Phật, chư vị Thánh, lễ hội thờ Trương Hống, Trương Hát, Hai
Bà Trưng, Thánh Gióng, Vua Hùng, Bố Cái Đại Vương, Đức Thánh Trần…
Diễn lại các tích liên quan đến các vị anh hùng có công với dân và
nước: Thánh gióng các vị Thành Hoàng, hội Gía, hội đền vua Lê, hội vật Hồi
Quan, hội đấu kiếm Phù Lão…
Các nghi thức trên đã thể hiện rõ đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của
nhân dân ta. Từ đạo lý đó đã được khái quát hóa và thần Thánh hóa những
người đã có công với dân với nước. Vì vậy, vị trí của người có công đối với
cộng đồng quốc gia, cộng đồng làng xã đã chiếm phần quan trọng trong tâm
linh của người dân Việt.
Một số lễ hội tưởng nhớ người có công tiêu biểu như: Lễ hội Gò Đống
Đa là một lễ hội chiến thắng, được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ những
chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung – người anh hùng áo vải trong lịch
sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Nhiều trò chơi vui khỏe được tổ chức
trong lễ hội để thể hiện tinh thần thượng võ. Đặc biệt, trò rước Rồng lửa
Thăng Long được cho là độc đáo, ấn tượng nhất trong toàn lễ hội.
Hội gò Đống Đa diễn ra vào ngày mùng 5 Tết tại khu vực gò Đống Đa,
trong những ngày lễ hội, bỗng trở nên mới mẻ, tưng bừng náo nức, trở nên
thiêng liêng và cao cả.
Ví dụ, lễ hội Yên Tử. Mỗi độ xuân sang, du khách thập phương lại về
Yên Tử, thành tâm chiêm bái chốn Tổ Thiền Trúc Lâm, thăm Khu Di tích lịch
sử - thắng cảnh nổi tiếng vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Hằng năm, từ những
ngày đầu tháng Giêng, du khách thập phương lại tấp nập về Hội xuân Yên Tử
lễ Phật, du xuân “cầu may vạn phúc”. Ngày 10 tháng Giêng, lễ khai mạc Hội
xuân truyền thống được tổ chức với nhiều hoạt động như: Lễ dâng hương
cúng Phật, bái Tổ Trúc Lâm; văn nghệ diễn xướng tái hiện sự tích lịch sử, văn
hóa tâm linh, những huyền thoại về Tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm tôn kính;
Lễ khai ấn “Dấu Thiêng Chùa Đồng” đầu năm rất quan trọng và các hoạt
động văn hóa dân gian, múa Rồng Lân, võ thuật cổ truyền, trò chơi dân gian,..
… tưng bừng, nhộn nhịp.
Yên Tử gắn liền với diễn biến lịch sử huy hoàng của dân tộc Việt Nam
trong công cuộc chiến đấu và chiến thắng lẫy lừng quân xâm lược phương
Bắc, phương Tây và xây dựng đất nước. Yên Tử trở thành một trong những
biểu tượng rực rỡ của tinh thần độc lập tự chủ, tự cường của dân tộc Việt
Nam. Hội Yên Tử là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của dân tộc, thể
hiện rõ nét tinh thần cộng đồng.
1.2.3.2. Tính cộng cảm
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con người giao lưu, cộng cảm, trao
truyền những giá trị tốt đẹp. Khi làng mở hội, người đi dự hội được trải
nghiệm một không gian văn hóa vừa thân quen, vừa mới mẻ. Tình cảm đó sẽ
đem lại cho người đi dự lễ hội những tình cảm mới, một sự cân bằng sinh thái
và tâm lý quan trọng.
Lễ hội không chỉ là dịp giúp con người truyền đạt tình cảm, đạo lý và
khát vọng cho nhau mà còn là dịp để con người giao hòa với quá khứ và hiện
tại, qua đó con người củng cố thêm sức mạnh cộng đồng và thể hiện sự tôn
cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương)
trong Hội Tản Viên… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này tạo
nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội.
1.3. Lịch sử hình thành lễ hội Lồng tồng
“ Áo em thêu chỉ biếc hồng
Mùa xuân ngày hội Lồng tồng thêm vui”
( Tố Hữu )
Lễ hội Lồng tồng là một lễ hội của đồng bào vùng núi phía Bắc, được
xem là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi,
mùa màng bội thu, đời sống ấm no. Nơi tổ chức là tại những ruộng tốt nhất, to
nhất. Vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu, khẳng định lễ hội này có từ bao
giờ. Nhưng chắc chắn rằng, khởi nguồn của lễ hội phải được sinh ra từ xã hội
của đồng bào vùng núi phía Bắc khi đã sống thành làng bản quần cư trong
cộng đồng.
Từ xa xưa, đồng bào miền núi phía Bắc, nhất là đồng bào Tày - Nùng,
đã sinh sống gắn bó với tự nhiên, thân thiết với bản làng, núi đồi, ruộng đồng,
nương rẫy. Cho đến ngày nay, nhiều tập quán và phong tục, nhiều ứng xử với
thế giới chung quanh vẫn còn mang đậm nét truyền thống xưa kia. Lễ hội
Lồng tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trong
cộng đồng người dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Thái
Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc.