luận văn thạc sĩ chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh bo kẻo nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào - Pdf 59

1

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu đã
nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưa
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Laphothong Souliya


2

2

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự lỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhân
được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy
cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình trong suốt khóa học cao học và trong suốt
quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Hà
Văn Sự, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành đề tài.
Do hạn chế về thời gian và trình độ bản thân nên luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế nhất định. Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ chân
thành của các thầy cô, bạn bè và các cá nhân, tổ chức quan tâm đến đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên


SXKD
CCKT

NGHĨA CỦA TỪ VIẾT TĂT
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sản xuất hàng hóa
Kinh tế nông thôn
Dịch chuyển kinh tế nông thôn
Sản xuất kinh doanh
Cơ cấu kinh tế


6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước CHDCND Lào đã và đang bước vào nền hội nhập kinh tế với những lợi thế
và thách thức. Sau hơn 40 năm xây dựng và phát triển đất nước kể từ ngày giải
phóng năm 1975, nền kinh tế Lào có những chuyển biến đáng kể.Trong những năm
gần đây, kinh tế Lào không ngừng tăng trưởng và phát triển ổn định, với GDP tăng
bình quân 7,5%; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 1.800 USD giai đoạn 20152016. Những thành tựu đó tạo thuận lợi để Chính phủ Lào thực hiện thành công Kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm lần thứ 7 trong năm nay cũng như các
Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Đời sống nhân dân được cải thiện; công tác giảm
nghèo đạt tiến bộ đáng kể, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước xuống
còn 8,11%. Năm 2015 sẽ là năm cuối Lào thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội năm năm lần thứ 7 và các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ đưa Lào thoát khỏi
danh sách nước kém phát triển vào năm 2020 và chuẩn bị cho Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội năm năm lần thứ 8 (2016-2020). Đảng và nhà nước Lào luôn chú

kiện tự nhiên, xã hội và những hạn chế do con người tác động vào thiên nhiên
không đúng quy luật đã ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế- xã hội
trên địa bàn tỉnh Bo Kẻo, đặc biệt là khu vực nông nghiệp.
Vấn đề về sử dụng đất canh tác còn gặp nhiều bất cập: Diện tích hoang hóa
vẫn còn, xu hướng độc canh cây lúa là chủ yếu, cây công nghiệp ngắn ngày, chưa
được phát triển. Người nông dân ở vùng sâu vùng xa trong tỉnh đã biết chuyển sang
sản xuất hàng hóa nhưng cơ bản là sản xuất hàng hóa giản đơn. Người nông dân còn
cân nhắc, lựa chọn giữa mô hình trồng lúa và mô hình cây công nghiệp, cây ăn
quả,... song mô hình nào tối ưu vẫn chưa có lời giải đáp rõ ràng.Việc sử dụng đất
dưới dạng đa canh lúa vẫn còn khó khăn, do quy trình sản xuất và tiêu thụ chưa
khép kín. Hệ thống công trình thủy lợi chưa đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất
nông nghiệp.
Đời sống nhân dân làm nông nghiệp còn nhiều khó khăn, đời sống văn hóa
tinh thần, trình độ dân trí, cơ sở y tế, giáo dục còn thấp. Sản lượng lương thực hàng
năm tăng không ổn định, phát triển nông nghiệp toàn diện chưa được quan tâm
đúng mức, nhiều tài nguyên tự nhiên bị lãng phí do khai thác chưa hợp lý, nổi bật là


8
nguồn cá đồng và rừng tràm. Diện tích cây ăn trái và cây công nghiệp chưa phát
triển tương xứng với tiềm năng.
Các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo đã được đưa vào thực
thi, bước đầu có hiệu quả thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo. Tuy nhiên, vẫn
chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn. Các chính sách còn thiếu thực tiễn,
thiếu nguồn lực hoạch định chính sách, và hạn chế trong vấn đề tài chính để có thể
thực thi chính sách hiệu quả.
Kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo phát triển nhanh hay chậm, phụ thuộc rất nhiều
vào các chính sách của tỉnh và của Nhà nước. Vì vậy, việc ban hành và thực thi các
chính sách kinh tế, ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của tỉnh.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và qua những kết quả cũng như kinh

thời gian tới. Là một trong những công trình nghiên cứu quan trọng, có thể ứng dụng
vào phát triển nền kinh tế nông nghiệp ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
“Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh U Đôm Xay, nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào”của Khăm Phong Phát Tha Ma Vông. Luận văn đã chỉ rõ thực trạng
phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh U Đôm Xay. Đồng thời đưa ra được những giải
pháp hữu ích nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh U Đôm Xay trong thời
gian tới. Là một trong những công trình nghiên cứu quan trọng có thể ứng dụng vào
phát triển nền kinh tế nông nghiệp ở tỉnh U Đôm Xay.
- Những phương hướng và biện pháp nhằm đưa tiến bộ khoa học - công nghệ
vào nông nghiệp CHDCND Lào của Khiển Si Thôn Thông Đam.
- “Kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Hòa Phăn nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
Lào” của Sing Vong Xay. Luận văn đã chỉ rõ thực trạng kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Hòa
Phăn. Đồng thời đưa ra được những giải pháp hữu ích nhằm phát triển nền kinh tế nông
nghiệp nông nghiệp trong thời gian tới. Là một trong những công trình nghiên cứu
quan trọng, có thể ứng dụng vào phát triển nền kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Hòa Phăn.
* Các công trình nghiên cứu trong nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam:
- Luận văn Thạc sỹ của Học viên Trần Xuân Châu (2016): “Những giải pháp cơ
bản nhằm đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam”. Luận văn đã
chỉ rõ thực trạng phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam, đồng thời đưa ra được
những giải pháp hữu ích nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam trong


10
thời gian tới. Là một trong những công trình nghiên cứu quan trọng, có thể ứng dụng
vào phát triển nền kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam.
-“ Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời kỳ hậu
WTO” năm 2015- PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải. Bài luận đã trình bày một số nét khái
quát về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam; gia nhập WTO - cơ hội và thách thức đối
với nông nghiệp, nông thôn; duy trì phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn thời

và các biện pháp còn xa rời thực tế. Vì vậy, những bất cập trong sự phát triển kinh
tến nói chung, và kinh tế nông nghiệp nói riêng chưa được giải quyết triệt để. Nhận
thức được vấn đề cấp bách đặt ra và sự nghiên cứu trên trường, tôi xin lựa chọn đề
tài: “Chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Bo kẻo nước Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.
Bài luận văn này được viết trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành quả từ các
nghiên cứu trước đây, cùng với việc tìm tòi, và nghiên cứu một số chính sách phát
triển kinh tế tỉnh Bo Kẻo, kết hợp với những kiến thức đã được học để đưa ra những
đề xuất mới phù hợp với tình hình hiện tại kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Bo Kẻo.
3.Mục đích và đối tượng nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu và hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến chính sách phát
triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Bo Kẻo.
- Phân tích những nhân tố tác động đến chính sách phát triển kinh tế nông
nghiệp.
- Phân tích thực trạng các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp của Bo
Kẻo từ năm 2011-2016, và các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo
cho tầm nhìn 2016-2020.
- Đánh giá các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo.
- Đề xuất các biện pháp để chính sách đạt hiệu quả, đồng thời đề xuất một số
chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo khác.
*Đối tượng nghiên cứu:
- Là tập trung nghiên cứu những lý luận và thực tiễn chính sách phát triển
kinh tế nông nghiệp cấp tỉnh Bo Kẻo nước CHDCND Lào.


12
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo.
- Làm rõ thực trạng thực hiện các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Bo


13
nội dung chủ yếu của đề tài, phân tích các số liệu thống kê từ nhiều nguồn để rút ra
những nhận xét, đánh giá mang tính khái quát cao làm nổi bật những nội dung chính
của luận văn. Sau khi dùng các phương pháp thu thập số liệu trên thì đề tài sử dụng
phương pháp trình phân tích để thấy rõ được vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tíchcác
chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo trong các năm. Các số liệu so
sánh để thấy được hiệu quả của các chính sách đến kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo.
- Phương pháp thống kê: hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, xử lý và
phân tích các con số (mặt lượng) của hiện tượng kinh tế-xã hội để tìm hiểu bản chất
và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và không
gian cụ thể. Từ các số liệu thống kê, bài luận văn đi đến phân tích và rút ra các nhận
xét khách quan nhất về các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Bo Kẻo.
- Phương pháp tổng hợp: Từ các số liệu so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp
lại những điểm mạnh và hạn chế của các chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp
Bo Kẻo.
- Phương pháp tư duy: Kết các phương pháp trên, dùng phương pháp tư duy
để thấy được sự logic, chặt chẽ trong từng con số, biểu đồ, bảng biểu,... Từ đó làm
rõ vấn đề của đề tài đưa ra
6. Kết cấu của luận văn.
Ngoài mục lục, lời cam đoan, lời cảm ơn, danh mục bảng biểu, hình vẽ danh
mục từ viết tắt, và lời mở đầu, thì kết cấu của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số cơ sở lý luận về chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp
trên địa bàn cấp tỉnh.
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Bo
Kor nước CHDCND Lào.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế nông
nghiệp ở tỉnh Bo Kẻo nước CHDCND Lào đến năm 2020 và những năm tiếp theo.




15
Trong nông nghiệp, ruộng đất là một trong những tư liệu sản xuất chủ yếu.
Đặc điểm của ruộng đất với tư cách tư liệu sản xuất là: nếu sử dụng ruộng đất hợp
lý thì độ màu mỡ của đất không bị cạn kiệt, mà tăng lên. Đặc trưng cho nông nghiệp
là tính chất thời vụ của những công việc quan trọng nhất về sản xuất, sản phẩm, là
sự tách rời khá lớn giữa thời gian sản xuất và thời kỳ làm việc do đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp tạo nên.
+ Theo nghĩa rộng. Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất bao gồm cả
nông, lâm và ngư nghiệp. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền
kinh tế, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển.
+ Theo nghĩa hẹp. Nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con
người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm
như lương thực thực phẩm cho con người và xã hội.
Trong bài luận văn này, khái niệm nông nghiệp được sử dụng theo khái niệm
nông nghiệp của Lào.
* Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp:
-Khái niệm kinh tế nông nghiệp:
Kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, biểu hiện
bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, những hình thức tiêu dùng các sản
phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế
quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp. Nói cách khác, hệ
thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh tế trong nông nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng
đến sự phát triển kinh tế của đất nước.
Kinh tế nông nghiệp còn là một bộ môn khoa học nghiên cứu những vấn đề kinh tế
của sản xuất nông nghiệp: Mối quan hệ giữa người với người, tác động vào sự vận dụng
cụ thể các quy luật kinh tế về sản xuất và phân phối sản phẩm trong nội bộ ngành nông
nghiệp. Kinh tế nông nghiệp là tổng hợp các ngành sản xuất gắn liền với các quá trình

cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp. Đất đai quyết định
đến sự phát triển của nông nghiệp. Đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, với các loại tư liệu
sản xuất khác trong quá trình xây dựng chúng bị hao mòn, nhưng đối với đất nếu biết


17
sử dụng hợp lý thì đất có thể ngày càng tốt hơn.
Đất đai thể hiện: Vị trí cố định; diện tích không gian bị giới hạn; vừa là tư liệu lao
động, vừa là đối tượng lao động, vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm lao
động của con người, vừa là bộ phận của lãnh thổ quốc gia mà Nhà nước là người đại
diện quản lý, vừa là kết quả khai phá, cải tạo, bảo vệ của nhiều thế hệ dân tộc, cộng
đồng làng xã, dòng họ, gia đình; đất đai, nếu được sử dụng và sử dụng hợp lý thì độ
màu mỡ sẽ không ngừng tăng lên, sản phẩm mang lại cho người lao động càng nhiều,
thu nhập sẽ càng cao.
Đất gắn liền với vị trí địa lý, địa hình. Cho nên mỗi vùng đều có một diện tích đất
cố định. Đất gắn chặt với các điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, chịu ảnh hưởng
bởi khí hậu, thời tiết của vùng đó. Tùy vào điệu kiện từng vùng mà có phương thức sản
xuất phù hợp.
Tính cố định của đất đai gắn liền với điều kiện kinh tế của vùng. Trong nông
nghiệp điều đó là điều kiện để quyết định nền sản xuất sản phẩm nào thì thu được lợi
nhuận cao. Đối với công nghiệp thì đó là lực lượng lao động của vùng, điều kiện vận
chuyển vật tư hàng hóa, thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đối với xây dựng thì đó là vị trí
công trình nhà xưởng, hạ tầng cơ sở...
+Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi. Các
loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát
triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều
kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng. Chúng rất nhạy
cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động
trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối
cùng. Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong

chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư – kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc
thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề
dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nồng nhàn.
Thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, quyết định đến
năng suất, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp và yêu cầu nhiều nhân lực trong một
thời gian ngắn, chủ yếu tập trung vào thời điểm làm đất, thu hoạch và gieo cấy.
+Trong hội nhập quốc tế, kinh tế nông nghiệp còn chịu sự ảnh hưởng của nền


19
kinh tế quốc dân, và mối quan hệ kinh tế giữa các nước.
Nông nghiệp nước CHDCND Lào đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng
nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp
nước ta khi chuyển lên xây dựng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là rất
thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. Đến nay nhiều nước có nền kinh tế phát
triển, nông nghiệp đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâu công việc được
thực hiện bằng máy móc, một số loại cây con chủ yếu được thực hiện cơ giới hoá tổng
hợp hoặc tự động hoá. Năng suất ruộng đất và năng suất lao động đạt trình độ cao, tạo
ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tỷ lệ dân số và lao động nông nghiệp giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối. Đời sống
người dân nông nghiệp và nông thôn được nâng cao ngày càng xích gần với thành thị.
Trong khi đó, nông nghiệp nước ta với điểm xuất phát còn rất thấp, cơ sở vật chất
còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao
động còn thấp v.v… Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, khẳng định phát triển
nền nông nghiệp nhiều thành phần và hộ nông dân được xác định là đơn vị tự chủ,
nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, nhất
là về sản lượng lương thực. Sản xuất lương thực chẳng những trang trải được nhu
cầu trong nước, có dự trữ mà còn dư thừa để xuất khẩu. Bên cạnh đó một số sản

kinh tế nông thôn ,từ yêu cầu của CNH, HDH và yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Phát triển kinh tế nông nghiệp trước hết phải xuất phát từ vị trí của nông nghiệp và
thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Lào. Kinh tế nông nghiệp trước mắt cũng
như lâu dài vẫn giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở Lào.Trong
tương lai nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất quan trọng bảo đảm các mặt hàng thiết
yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Trên địa bàn nông thôn
có gần 70% lao động xã hội, đó là nguồn cung cấp lao động cho các ngành trong
nền kinh tế quốc dân. Do vậy, việc xác lập cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lí có ý
nghĩa quan trọng trong việc sử dụng lao động phù hợp để phát triển nền kinh tế nói
chung và khu vực kinh tế nông nghiệp nói riêng.
Trong giai đoạn hiện nay, CNH,HDH nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu để xây dựng Lào thành một nước công nghiệp. Trước hết phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xoá bỏ tình trạng thuần nông,phát triển công
ngiệp và dịch vụ,thúc đẩy hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hoá, phát
triển công nghiệp đăc biệt là công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản phẩm.


22
CNH, HDH nông nghiệp nông thôn làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội như:
thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin liên lạc, các cơ sở nông nghiệp, dịch vụ văn
hoá, y tế, giáo dục ngày càng phát triển, là điều kiện vật chất quan trọng cho chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng đô
thị hoá. Phát triển kinh tế nông nghiệp là do đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Sự
phát triển của nền kinh tế nước ta trong những năm đổi mới đã tạo đà cho nông
nghiệp và kinh tế nghiệp bắt nhịp vào quá trình chuyển sang kinh tế thị trường. Tuy
nhiên, nó đang đặt ra cho nông nghiệp những yêu cầu mới, cũng như những thách
thức gay gắt trong sự phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế
đều được tiền tệ hoá. Cơ cấu nông nghiệp trong cơ chế thị trường trong cơ chế thị
trường cũng phải bảo đảm và tuân thủ các mối quan hệ đó. Thị trường phát triển đòi
hỏi cơ cấu kinh tếnông nghiệp cũng phải biến đổi theo hướng đa dạng hơn, tuân thủ

- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan
trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an
ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái của đất nước.
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ,
gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông
nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng
nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị
theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp
với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng; khai thác tốt các điều kiện thuận
lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp,
nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội,
ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông


24
thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự
lực tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận,
dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho
phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân.
- Thứ ba, Góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng đẩy mạnh tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa:

nghiệp ở những địa bàn trên có vai trò lớn trong ổn định kinh tế, chính trị, xã hội và tài
nguyên, môi trường an ninh quốc phòng của quốc gia.
Trong sản xuất nông nghiệp, các phương pháp canh tác và thâm canh có tác động
rất lớn đến môi trường đất, nước và hệ sinh vật. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các
phương pháp thâm canh tăng vụ với việc sử dụng nhiều phân hóa học, thuốc trừ sâu có
ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí, tiêu diệt nhiều loài sinh vật.
Trong nông nghiệp, đất đai không thuần túy là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt
của nông - lâm - ngư nghiệp mà còn là môi trường tự nhiên gắn liền với nhiều yếu tố
sinh thái. Việc sử dụng đất đai vào sản xuất nông nghiệp gắn liền với sử dụng các yếu
tố nên tạo độ phì của đất, nước mặt, nước ngầm, hệ sinh vật... Do đó, sử dụng đất trong
sản xuất nông nghiệp hợp lý hay không có thể tăng độ hài hòa của hệ sinh thái hoặc
ngược lại có thể làm đất đai, môi trường sinh thái bị huy hoại.
- Thứ năm, Kinh tế nông nghiệp phát triển , góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế
quốc dân:
Nông nghiệp phát triển sẽ dẫn đến các ngành chế biến phát triển, dịch chuyển dần
cơ câu từ nông nghiệp- công nghiệp- dịch vụ. Góp phần phát triển bền vững của nền
kinh tế quốc dân.
- Thứ sáu, Kinh tế nông nghiệp là một tích cực góp phần thúc đẩy hội nhập
quốc tế:
Kinh tế nông nghiệp đã tác động bối cảnh giữa các nước trong hội nhập kinh tế
quốc tế. Nó không chỉ cạnh tranh về sản phẩm nó còn cạnh tranh về năng suất, chất
lượng hàng nông sản, cạnh tranh về các phương thức giao dịch mua bán và dịch vụ
thanh toán và... Điều này đòi hỏi các nước phải lựa chọn sản phẩm để sản xuất, lựa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status