(Luận văn thạc sĩ) Chính sách phát triển Hợp tác xã kiểu mới tỉnh Quảng Nam - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ NGUYỄN ĐỨC THẮNG

CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ NGUYỄN ĐỨC THẮNG

CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG HỒNG HIỆP

HÀ NỘI, năm 2019



năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Nguyễn Đức Thắng


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ
công trình nào khác.
Tác giả

Lê Nguyễn Đức Thắng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI ................................................... 9
1.1. Những vấn đề chung về hợp tác xã kiểu mới và chính sách phát triển
HTX kiểu mới ................................................................................................... 9
1.2. Nội dung chính sách phát triển HTX kiểu mới ........................................ 21
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển HTX
kiểu mới ........................................................................................................... 23
1.4. Kinh nghiệm thực tiễn phát triển HTX của một số quốc gia trên thế giới .. 26
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG
NAM ............................................................................................................... 33
2.1. Tổng quan đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam ... 33


Bảng 2.2

Kết quả hoạt động của các HTX trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam

41


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hợp tác xã là một phương thức tổ chức liên kết sản xuất giữa những người
lao động riêng lẻ, yếu thế trong xã hội, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ,
công bằng nhằm nâng cao hiệu quả lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh,
hướng tới cải thiện cuộc sống. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X của
Đảng đã khẳng định, kinh tế nhà nước được đổi mới cùng với kinh tế tập thể
mà nòng cốt là hợp tác xã dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, tiếp
tục thực hiện một cách nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, đối xử
bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt hình
thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh. Kinh tế tập thể với nòng cốt là
hợp tác xã có tác động rất quan trọng đến tăng trưởng chung của toàn bộ nền
kinh tế theo hai hướng, một mặt đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế;
mặt khác đóng góp gián tiếp thông qua nâng cao hiệu quả kinh tế thành viên
của hợp tác xã; góp phần tạo việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo
một cách bền vững.
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ
đã làm cho sản xuất có bước phát triển nhảy vọt. Cùng với những thành tựu
về tăng trưởng kinh tế, thế giới cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức,
trong đó có nhiều thách thức mang tính toàn cầu như vấn đề ô nhiễm môi
trường, biến đổi khí hậu, đói nghèo. Trước thực tế đó, phát triển HTX tạo cơ

phương. Điển hình như HTX NN Ái Nghĩa huyện Đại Lộc tham gia chuỗi giá
trị sản xuất gạo sạch; HTX Hiệp Thuận tham gia chuỗi giá trị sản xuất và tiêu
thụ cây keo; HTX NN Điện Phước 1 thị xã Điện Bàn tham giai xây dựng
chuỗi giá trị sản xuất lúa giống và HTX Duy Đại Sơn huyện Duy Xuyên xây
dựng chuỗi giá trị heo sạch,... Nhiều HTX mở rộng hợp tác, liên doanh, liên
kết trong và ngoài nước, tăng quy mô sản xuất kinh doanh, mở rộng thị
trường, nâng cao vị thế, vai trò của HTX trong trong đời sống xã hội như,
HTX NN Đại Quang, HTX Nông nghiệp Điện Quang, HTX Nông nghiệp I
Điện Phước, HTX Điện Tiến, HTX NN Điện Minh II. Sản phẩm, dịch vụ của
nhiều HTX đã thực sự tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu lao động tại địa phương, tăng thu ngân sách cho nhà nước,
tham gia giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội của địa phương như HTX
DVNN&KDTH Đại Hiệp, HTX Công nghiệp TTCN Đại Hiệp, HTX Tiểu thủ
công nghiệp 27/7 Đại Lộc, HTX Thương mại Điện Thọ. Sau khi thực hiện

2


Luật HTX 2012, Quảng Nam có số lượng HTX tăng nhanh từ 172 HTX vào
năm 2013 lên mức 329 HTX (tăng 157 HTX) vào năm 2018.
Tuy nhiên, thực trạng phát triển kinh tế HTX của cả nước nói chung và ở
Quảng Nam nói riêng vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém cần giải quyết. Trong đó,
những tồn tại, hạn chế trong triển khai thực hiện các chính sách phát triển
HTX tại Quảng Nam là nguyên nhân trọng yếu. Do vậy, tôi chọn đề tài:
"Chính sách phát triển HTX kiểu mới tỉnh Quảng Nam" làm luận văn thạc
sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế, nhằm góp phần đề xuất các giải pháp chính
sách nhằm phát triển các HTX của tỉnh trong thời gian tới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và kết quả thực hiện các

4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Các HTX kiểu mới đang hoạt động trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam
Phạm vi thời gian: Từ khi có Luật HTX 2012 (có hiệu luật tháng
7/2013), các số liệu được thu thập từ năm 2013 đến năm 2018.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát và đánh giá tình hình thực hiện
chính sách phát triển Hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong
thời gian qua và đề xuất điều chỉnh chính sách thời gian tới. Luận văn chỉ tập
trung vào đối tượng là HTX đã chuyển đổi theo Luật HTX 2012 (HTX kiểu
mới).
5. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mô hình hợp tác xã (HTX) đã được hình thành từ rất lâu trên thế giới,
trước khi ra đời của phong trào thương mại công bằng để giúp người lao động
cải thiện sinh kế và bảo vệ lợi ích của họ. Cho đến nay, có rất nhiều công
trình nghiên cứu về phát triển HTX, chính sách phát triển HTX kiểu mới được
thực hiện trên toàn cầu. Tiêu biểu là một số công trình như:
Nghiên cứu của Schwettmann (2014) đã đánh giá vai trò và tiềm năng
của HTX trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đó là: xóa đói
giảm nghèo dưới mọi hình thức ở mọi nơi; xóa nạn đói, đạt được an ninh
lương thực và cải thiện dinh dưỡng, và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền
vững; đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái;
đảm bảo tính sẵn có và quản lý bền vững về nguồn nước và vệ sinh môi

4


trường; đảm bảo tiếp cận với năng lượng với giá cả phải chăng, đáng tin cậy,
bền vững và hiện đại; đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế bao trùm và bền vững,

5


Ở Việt Nam, đổi mới và phát triển hiệu quả HTX là một vấn đề luôn
được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt từ khi luật HTX năm 2012 được
ban hành và đi vào thực tiễn cuộc sống. Cho đến nay, có rất nhiều công trình
nghiên cứu HTX ở trong nước được thực hiện như:
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2013) cho thấy, HTX có vai trò rất
quan trọng trong việc nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho người dân
trong vùng và liên kết tìm kiếm thị trường đầu ra sản phẩm cho thành viên,
nhưng HTX chưa có vai trò thật rõ ràng trong việc tăng thu nhập cho thành
viên. Lấy lợi nhuận là tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX, nghiên
cứu đã lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của HTX, đó là trình
độ của Ban quản lý HTX, nguồn vốn, quy mô hoạt động, dịch vụ hoạt động
và diện tích phục vụ thành viên. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp ở huyện
Giá Rai tỉnh Bạc Liêu: đẩy mạnh công tác tập huấn chuyên môn nghiệp vụ,
thu hút thêm nguồn vốn, mở rộng quy mô, diện tích phục vụ.
Nguyễn Trường Sơn (2013) đã chỉ ra rằng trình độ văn hóa và chuyên
môn thấp của đội ngũ cán bộ HTX là thách thức không nhỏ và là trở ngại thực
sự cho các HTX của tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc tiếp nhận, ứng dụng, làm
chủ tiến bộ khoa học và công nghệ để chuyển giao cho hộ thành viên và
hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển cho HTX nông nghiệp trong
những năm sắp đến. Tác giả cũng cho rằng, mức độ và tính chất bền vững của
sự phát triển HTX thể hiện một cách khá rõ nét trong việc tuân thủ các
nguyên tắc của kinh tế hợp tác: tự nguyện, cùng có lợi, dân chủ, công khai
minh bạch.
Luận văn thạc sĩ của Bùi Giáng Long (2009), nghiên cứu thực trạng và
giải pháp phát triển HTX nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện
nay. Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng phát triển HTX và đề xuất những

dưỡng cán bộ quản lý HTX, 65% tổng số cán bộ quản lý HTX đã qua các lớp
bồi dưỡng nhưng kiến thức chưa sát với nhu cầu hoạt động của HTX, kinh phí
đào tạo phân tán ở nhiều cơ quan trung ương và địa phương. Chính sách hỗ
trợ xúc tiến thương mại chưa có chương trình riêng cho HTX, đây là khâu yếu
và HTX có nhu cầu rất lớn. Chính sách hỗ trợ về giao đất, cho thuê đất đối
với HTX chưa được ban hành; phần lớn các địa phương không còn quỹ đất
giao và cho thuê để HTX làm trụ sở, cơ sở chế biến, nếu có thì thời hạn cho
thuê dưới 5 năm, không khuyến khích đầu tư; pháp luật đầu tư chưa qui định
ưu đãi tiền thuê đất cho HTX, các địa phương chưa thực hiện được. Thủ tục

7


hành chính chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp chế biến đối
với dự án của HTX chậm được giải quyết. Chính sách hỗ trợ về thuế áp dụng
như doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng thủ tục miễn, giảm thuế rất phức tạp, hầu
hết các HTX không được hỗ trợ, chưa có chính sách ưu đãi thuế riêng cho
HTX theo qui định của Luật HTX.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm có 3 chương chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển hợp tác xã
kiểu mới
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển HTX kiểu mới
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển HTX
kiểu mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

8


Ở Việt Nam, hợp tác xã kiểu mới là mô hình hợp tác xã được vận hành
theo Luật HTX năm 2012, theo đó HTX kiểu mới được định nghĩa: “Hợp tác

9


xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07
thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành
viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản
lý hợp tác xã”. Đặc biệt. “kiểu mới” ở đây nhấn mạnh, hợp tác xã hoạt động
như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các
nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Sự khác biệt giữa
HTX kiểu cũ và kiểu mới được thể hiện chi tiết ở bảng 1.1.
Có thể khẳng định, hợp tác xã kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ do
những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn,
góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể
và của từng thành viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
Bảng 1.1. Phân biệt HTX kiểu cũ và HTX kiểu mới
HTX hiểu cũ
Cách thức
thành lập

HTX kiểu mới

Áp đặt, “Từ trên xuống”



HTX hiểu cũ

HTX kiểu mới

tức là được độc quyền hoá và giao lưu kinh tế, từng bước phát
hành chính hoá.
triển trên cơ sở luật pháp của Nhà
nước.
Thành viên
tham gia

Thể nhân

Thể nhân, pháp nhân

Sở hữu

Sở hữu tập thể trên cơ sở tập Sở hữu chung trên cơ sở góp vốn,
thể hoá tư liệu sản xuất.
đan xen giữa sở hữu tập thể và sở
hữu cá thể của thành viên.

Tổ chức bộ Chức năng quản lý và điều
máy quản lý hành trong HTX được lồng
HTX
ghép. Bộ máy quản lý của
HTX bao gồm: Ban quản trị,
Ban kiểm soát, Trưởng ban
quản trị kiêm chủ nhiệm HTX.


Trực tiếp tổ chức sản xuất, lao Nội dung hoạt động đa dạng có
động tập trung, thủ tiêu sự độc thể làm dịch vụ, hoặc vừa làm
lập của kinh tế hộ.
dịch vụ vừa sản xuất kinh doanh
đa ngành nghề, song đều hướng
vào hỗ trợ kinh tế hộ tự chủ phát
triển.

11


HTX hiểu cũ
Phạm vi
hoạt động

HTX kiểu mới

Theo địa giới hành chính

Không bị giới hạn bởi địa giới
hành chính

Thực hiện Các nguyên tắc HTX bị vi
các nguyên phạm
tắc HTX

Các nguyên tắc HTX được tôn
trọng


Hội đồng quản trị được bầu ra để đảm nhiệm chức năng chăm sóc lợi ích của
thành viên. Họ đại diện cho thành viên. Ban Điều hành và đứng đầu là Giám
đốc hợp tác xã có nhiệm vụ bảo đảm hợp tác xã hoạt động có hiệu quả nhất.
Nhân viên là những người trực tiếp cung ứng các dịch vụ cho thành viên. Họ
mưu tìm lợi ích từ hợp tác xã qua chế độ lương và phúc lợi xã hội. Hình ảnh
tứ giác với bốn cạnh phía trên là một minh hoạ rõ ràng về những mối quan hệ
giữa bốn nhóm thành phần trong hợp tác xã. Khi nhìn vào cơ cấu tổ chức của
hợp tác xã, chúng ta thấy rằng nó dường như phức tạp hơn bởi nó có hai cơ
cấu cùng tồn tại và hoạt động: khía cạnh hiệp hội hoạt động trên cơ sở dân
chủ và khía cạnh doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở kinh doanh. Tính bất khả
chuyển nhượng của hợp tác xã. Tài sản hình thành từ hoạt động của hợp tác
xã là tài sản chung không chia của hợp tác xã. Đây là đặc điểm mang tính bản
chất của hợp tác xã, đề cao giá trị cộng đ ồng của hợp tác xã. Tài sản chung
được hình thành và phát triển không có mục đích tự thân, mà hướng đến việc
phục vụ hiệu quả nhu cầu chung thành viên. Tài sản chung không chia được
xem là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển hợp tác xã bền vững.
Từ những kinh nghiệm thành công trong và ngoài nước, chúng ta có thể
tin tưởng một cách chắc chắn rằng hợp tác xã có thể hoạt động tốt như bất kỳ
doanh nghiệp nào. Thậm chí hợp tác xã có thể hoạt động tốt hơn doanh
nghiệp, nếu chúng ta am hiểu bản chất của hợp tác xã, biết cách sử dụng và
khai thác công cụ tập thể độc đáo này - một công cụ vừa mang tính chất của
một doanh nghi ệp kinh doanh, vừa mang tính chất của một hiệp hội dân chủ.
Đây là công cụ hữu hiệu nhất giúp kinh tế hộ nâng cao sức cạnh tranh và phát
triển.
b/ Nguyên tắc của HTX kiểu mới
Nguyên tắc tự nguyện: Theo nguyên tắc này, việc gia nhập HTX của
mỗi cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân là hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện,
không bị cưỡng chế hoặc sức ép của các tổ chức cá nhân nào. Để đảm bảo
nguyên tắc này, các cá nhân, hộ gia đình nên xem xét kỹ lưỡng trước khi tham


tăng tiềm năng và sức mạnh của các HTX thành viên. Các HTX trong nước
cũng cần hợp tác với các HTX trong khu vực và các nước khác trên thế giới
để một mặt góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mặt khác, góp
phần tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân ta với các nước

14


bạn bè trên thế giới, đồng thời có những đóng góp thiết thực vào sự phát triển
chung của phong trào HTX trên thế giới.
c/ Vai trò của HTX kiểu mới
Lịch sử phát triển của các HTX ở Việt Nam đã khẳng định được vai trò
và vị trí to lớn của HTX trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Vào
những năm 50 và đến cuối năm 1960, ở Miền Bắc, có 2,4 triệu hộ (chiếm
84,8%) và 76% diện tích ruộng đất trong nông nghiệp vào làm ăn tập thể
trong 41.000 HTX. Chính số lượng đông đúc của HTX đã góp phần tạo nên
một lượng lương thực lớn, góp phần giải quyết vấn đề lương thực ở miền Bắc
và chi viện cho công cuộc đấu tranh ở Miền Nam. Sau ngày giải phóng, tính
đến hết năm 1985, cả nước có 54.100 HTX, và hơn 90% số hộ vào HTX.
Trong giai đoạn này, mặc dù có những sai lầm trong cách thức phân phối vật
phẩm nhưng các HTX cũng đã tạo ra được một lượng vật phẩm lớn cho xã
hội, góp phần giải quyết những vấn đề khó khăn nhất trong giai đoạn này.
Vai trò kinh tế
Từ khi luật HTX đi vào thực tiễn và sau gần 15 năm thực hiện nghị
quyết Trung ương 5 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu
quả kinh tế tập thể, có thể thấy nhiều HTX kiểu mới đã thể hiện tốt vai trò
kinh tế của mình trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Các HTX đã bước
đầu hỗ trợ cho kinh tế thành viên thông qua việc đáp ứng từng bước các loại
dịch vụ và các nhu cầu cơ bản trong sản xuất và đời sống của thành viên, giúp
kinh tế thành viên giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất và mở rộng

các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại ứng dụng vào sản xuất làm tăng
năng suất cây trồng, vật nuôi. Ở nông thôn, các HTX dịch vụ nông nghiệp đã
tạo ra một số thay đổi đáng kể trong quá trình sản xuất nông nghiệp, mạnh
dạn chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng, vật nuôi, hướng dẫn các hộ ứng
dụng công nghệ mới vào sản xuất làm tăng giá trị sản lượng trên một đơn vị
diện tích, đồng thời tạo ra nhiều việc làm mới cho thành viên thông qua việc
triển khai các dịch vụ phục vụ đời sống và phát triển ngành nghề.
Phát triển thị trường: trong quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh, các
hộ thành viên thường gặp khó khăn trong vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm.
HTX với những hoạt động tích cực của mình đã là cầu nối giữa kinh tế hộ và
thị trường. Hiện nay, khi thị trường dịch vụ ở các địa phương hoạt động theo
cơ chế mở, bản thân các HTX đã nỗ lực vươn lên làm tốt và hiệu quả hơn các
lĩnh vực dịch vụ điện, thuỷ lợi, nước sạch, xử lý ô nhiễm môi trường …Thông
qua việc phát triển các mô hình HTX kiểu mới này mà nhiều vùng sản xuất

16


hàng hoá đã hình thành, khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá ngày
càng được nâng cao.
Với tư cách là người tạo điều kiện và cung cấp các dịch vụ về vốn, tín
dụng, khoa học kỹ thuật, vật tư …cho các hộ nông dân, HTX kiểu mới đã góp
phần đáng kể vào việc mở rộng cơ cấu ngành nghề, thúc đẩy kinh tế hộ phát
triển. Quá trình sản xuất kinh doanh theo mô hình HTX kiểu mới góp phần
tăng năng suất lao động, sản xuất và cung cấp phần lớn hàng hoá phục vụ nhu
cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đầu tư đáng kể cho việc xây dựng kết
cấu hạ tầng ở nông thôn.
Vai trò xã hội – văn hoá:
HTX là tổ chức kinh tế - xã hội mang tính chất trợ giúp người dân, được
xây dựng trên cơ sở các giá trị về tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng,

triển kinh tế là mục tiêu mà mọi tổ chức kinh tế đều hướng tới. HTX cũng là
một tổ chức kinh tế nên cũng phải hướng tới mục tiêu này. Như ta đã biết,
mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp luôn là tìm kiếm lợi nhuận để bù
đắp chi phí sản xuất, để tồn tại và phát triển. Nếu không có lợi nhuận, doanh
nghiệp không thể trả công cho người lao động, duy trì việc làm lâu dài của họ,
cũng như không thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ lâu dài cho khách hàng và
cộng đồng. Tuy nhiên, khác với các loại hình doanh nghiệp luôn tối ưu hóa
lợi nhuận, lợi nhuận của HTX là phương tiện, động cơ để HTX có thể hỗ trợ,
tương trợ cho thành viên của mình một cách lâu dài, toàn diện và tốt hơn.
1.1.3. Phân loại HTX kiểu mới
a/ Phân loại theo ngành nghề: Căn cứ theo ngành nghề hoạt động sản
xuất, có thể phân chia HTX thành các loại như sau:
HTX nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản: đây là các HTX hoạt động sản
xuất hoặc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm
nghiệp, thủy sản.
HTX công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng: đây là các HTX sản
xuất hoặc cung ứng các sản phẩm hoặc dịch vụ trong lĩnh vực sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
HTX thương mại, dịch vụ: đây là các HTX hoạt động trong lĩnh vực
thương mại, dịch vụ như vận tải, tín dụng nhân dân.
b/ Phân loại theo chức năng: Căn cứ vào chức năng hoạt động, tính chất
hoạt động và trình độ xã hội, quy mô và đặc điểm hình thành HTX để phân
chia các HTX. Có thể phân chia ra các loại HTX như sau:
HTX dịch vụ từng khâu, nội dung hoạt động tập trung vào từng lĩnh vực

18


trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc trong quá trình sản xuất
phục vụ sản xuất.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status