Luận văn thạc sĩ giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh salavan đến năm 2020 - Pdf 31

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học cao học tại trường đại học Tài Chính - Marketing , Tôi
đã có dịp học hỏi và trao đổi với các thầy cô giáo đã tận tình giảng dậy cho tôi có thêm
kiến thức và chuyên môn , đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn TS Phan Đình Quyền đã
tận tình giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Xin cảm ơn các bạn học
cùng lớp đã có thời gian chia sẻ kiến thức và cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn bố
mẹ và gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập.
HỌC VIÊN THỰC HIỆN

SOULYNHA SISOMBOUN


BẢNG VIẾT TẮT

SLST

Du lịch sinh thái

VQG

Vườn quốc gia

CHDCND Lào

Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

TTCP

Thủ tướng chính phủ

WTO

Sơ đồ 3.2: Kênh phân phối sản phẩm DLST đối với khách quốc tế ............................ 66


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................................ 1
2.Tổng quan về tình hình nghiên cứu ........................................................................... 2
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài ................................................................................ 4
Chương 1: Cơ sở khoa học về du lịch và du lịch sinh thái
1.1. Một số lý luận chung về du lịch và du lịch sinh thái ............................................. 6
1.1.1. Một số lý luận chung về du lịch ......................................................................... 6
1.1.2. Khái niệm Du lịch sinh thái ................................................................................ 13
1.2. Những nguyên tắc và điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái.................. 19
1.2.1. Những nguyên tắc của du lịch sinh thái ............................................................. 19
1.2.2. Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái ........................................... 20
1.3. Sản phẩm du lịch sinh thái..................................................................................... 22
1.3.1. Khái niệm về sản phẩm du lịch sinh thái............................................................ 22
1.3.2. Đặc điểm của sản phẩm du lịch sinh thái ........................................................... 23
1.3.3. Những điều kiện để phát triển sản phẩm du lịch sinh thái ................................. 26
1.4. Tính tất yếu về sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST..................... 30
1.5. Tài nguyên du lịch sinh thái .................................................................................. 31
1.5.1 Khái niệm tài nguyên DLST................................................................................ 31
1.5.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái........................................................... 32
1.6. Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển du lịch sinh thái bền vững ......................... 32
1.6.1 Tiêu chuẩn về kinh tế .......................................................................................... 32
1.6.2 Tiêu chuẩn về xã hội, con người ......................................................................... 33
1.6.3 Tiêu chuẩn về môi trường ................................................................................... 33

3.2. Nguyên tắc và yêu cầu đối với phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan đến năm
2020 .............................................................................................................................. 52
3.2.1. Nguyên tắc .......................................................................................................... 52
3.2.2. Yêu cầu ............................................................................................................... 55
3.3. Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan đến năm 2020 ......... 57
3.3.1. Giải pháp phát triển các điểm, tuyến, khu DLST ............................................... 57
3.3.2. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư ........................................................................... 58


3.3.3. Nhóm giải pháp về lao động và đào tạo nguồn nhân lực ................................... 59
3.3.4. Nhóm giải pháp về Marketing DLST và xúc tiến hỗn hơp, mở rộng thị trường
cho DLST ở Salavan..................................................................................................... 62
3.3.5. Nhóm giải pháp liên kết du lịch vùng ................................................................ 65
3.4. Một số kiến nghị đối với việc phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan của nước
CHDCND Lào trong thời gian tới ................................................................................ 66
3.4.1. Kiến nghị với Bộ Văn hóa và Du lịch Lào ......................................................... 66
3.4.2. Đối với nhân dân tỉnh Salavan của CHDCND Lào ............................................ 67
3.4.3. Kiến nghị với Sở Văn hoá và Du lịch tỉnh Salavan............................................ 67
3.4.4. Kiến nghị với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm DLST trên địa bàn tỉnh
...................................................................................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 71




MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND
Lào) đã và đang thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, phát triển kinh tế hàng hoá

T
0

T
0

phong phú, chưa khai thác và bảo tồn những tài nguyên tự nhiên theo đúng qui định…
là những thách thức lớn đối với ngành du lịch nói chung và đối với du lịch tỉnh
T
0

T
0

Salavan nói riêng.
Tỉnh Salavan được biết đến là một thành phố du lịch thơ mộng với sông Sê-Đôn
xanh êm đềm và Núi Trường sơn hùng vĩ. Về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh năm
2011-2012 có tổng thu nhập quốc gia đạt được 2.407.26 tỷ kíp, trong đó ngành nông
nghiệp chiếm 53% công nghiệp chiếm 19,49%, dịch vụ chiếm 26,76%. Cùng với
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh phấn đấu đạt tổng thu nhập quốc gia của
tỉnh năm tới là GDP tăng 11-12%, dự kiến tăng trưởng cho các ngành khác như nông
nghiệp dự kiến tăng khoảng 9,63%, công nghiệp 15,19% và dịch vụ 13,34%. Trong
đó, doanh thu từ ngành du lịch cũng chiếm phần khá lớn trong tổng thu nhập quốc gia
của tỉnh, và GDP bình quân trên đầu người là 805$/người/năm. Từ đó, có thể thấy du
lịch là một lĩnh vực rất quan trọng trong nền kinh tế xã hội của tỉnh Salavan.
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái trong hệ thống các khu bảo tồn thiên
nhiên nói riêng là loại hình du lịch vẫn còn mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý
kinh doanh không chỉ đối với Lào mà cho tất cả các nước khác trong giai đoạn mở cửa
và hội nhập. Với lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực, tiềm năng phong phú và đa
dạng của các hệ sinh thái, nên ngay từ thời gian đầu của quá trình phát triển kinh tế

đã từng bước có sự gắn bó cần thiết, vì lợi ích chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Việc nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái hiện nay ở Lào vẫn là loại hình du
lịch mới, chưa có điều kiện khai thác và đưa nó trở thành một trong những ngành kinh
tế dịch vụ trọng điểm. Do đó, du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan mới chỉ được đầu tư,
nghiên cứu trong những năm gần đây.
2


Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Từ nửa cuối thế kỷ 19, cùng với sự ra đời của các Vườn quốc gia các hình thái
du lịch thiên nhiên đã thu hút du khách một cách đặc biệt. Vườn quốc gia Yellowstone
(Mỹ) là một VQG đầu tiên của thế giới được thành lập vào năm 1893.
Thuật ngữ “Du lịch sinh thái” mới chỉ được sử dụng và đề cập đến nhiều trong
thế kỷ 20 khoảng những năm đầu của thập kỷ 90. Về nguồn gốc, Du lịch sinh thái bắt
nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời. Ban đầu các hình thức du lịch này
không gắn liền với mục tiêu bảo tồn. Cho đến thập niên 70 thì ngày càng nhiều các du
khách tham quan nhận thức được hậu quả sinh thái mà họ có thể gây ra cho giá trị của
thiên nhiên và có thể làm tổn thương sâu sắc đến quyền lợi lâu dài của người dân địa
phương. Do đó, đã hình thành nên các tour du lịch chuyên môn hóa mà chỉ đơn giản là
xem chim, cưỡi lạc đà trên sa mạc, đi bộ ngoài thiên nhiên có người hướng dẫn…
đang tăng dần lên. Đến lúc này có thể nói là ngành Du lịch sinh thái (DLST) đã hình
thành và phát triển.
DLST là một hiện tượng phức tạp và đa lĩnh vực. Vấn đề giảm thiểu tác động
môi trường được coi là một tiêu chuẩn đầu tiên cho sự phát triển ngành DLST. Từ đó
thuật ngữ “Công nghệ Sinh thái “ đã được sử dụng nhiều trong kế hoạch xây dựng các
chương trình Du lịch sinh thái.
Hiệp định Du lịch ASEAN, Ngày 04 tháng 11 năm 2001, tại Hội nghị Thượng
đỉnh ASEAN lần thứ 7, Brunei Darussalam đã ký kết Hiệp định Du lịch ASEAN. Việt
Nam và các nước trong khu vực đã nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của
ngành Du lịch sinh thái đối với tăng trưởng kinh tế bền vững của các nước thành viên

- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Salavan
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Chỉ nghiên cứu các loại hình hoạt động du lịch sinh thái tại
tỉnh Salavan.
+ Về thời gian: Từ nay đến năm 2020
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

4


- Phương pháp nghiên cứu sẽ dựa vào phân tích số liệu thứ cấp với mục tiêu
chủ yếu là đánh giá đúng thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan của
nước CHDCND Lào trong thời gian qua.
- Đề tài cũng sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và cách tiếp
cận hệ thống cùng phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh trong quá trình
thực hiện để đảm bảo tính khách quan, khoa học, chính xác.
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn (sử dụng dữ liệu thứ cấp)

5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Một số lý luận chung về du lịch và du lịch sinh thái
1.1.1. Một số lý luận chung về du lịch
1.1.1.1. Khái niệm du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở mọi
nền kinh tế trên thế giới. Nhưng con người vẫn chưa đưa ra được một khái niệm đầy
đủ và toàn diện về du lịch. Ở các quốc gia khác nhau hay đứng dưới các góc độ khác
nhau, khái niệm về du lịch được hiểu theo những cách khác nhau.

1.1.1.2. Đặc trưng của ngành du lịch
Ngành du lịch mang tính kinh tế: Ngành du lịch là ngành mà mục tiêu cơ bản
của nó là ở chỗ thông qua thúc đẩy, xúc tiến cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch để
tạo thu nhập của nền Kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, cấu tạo chủ yếu của ngành du lịch
là các doanh nghiệp du lịch, các doanh nghiệp này thực hiện các hoạt động kinh doanh
du lịch, do đó mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Vì vậy ngành du lịch phải
tiến hành hạch toán kinh tế. Với quan niệm này, về cơ bản ngành du lịch phải là ngành
mang rõ nét tính kinh tế.
Ngành du lịch mang tính tổng hợp: Hoạt động du lịch là hoạt động mang tính
tổng hợp, trong quá trình hoạt động du lịch, khách du lịch có các nhu cầu về đi lại ăn
ở, du ngoạn, vui chơi giải trí, mua sắm… Để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của kinh
doanh du lịch đòi hỏi phải có các ngành nghề khác nhau cùng sản xuất và cung ứng
các sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch như: cung cấp, tư vấn tin tức, cung cấp các
tuyến điểm du lịch, cung cấp phương tiện giao thông, cung cấp nhà nghỉ cho du
khách… Các sản phẩm và dịch vụ này không phải là những sản phẩm độc lập, riêng
biệt mà là một “chuỗi dịch vụ” vừa kết hợp với nhau vừa đan xen với nhau, vừa lặp đi
lặp lại nhiều lần. Vì thế, sản phẩm và dịch vụ du lịch phải là sản phẩm tổng hợp của sự
phối hợp liên ngành như công ty du lịch, đơn vị bán hàng lưu niệm du lịch… đồng
thời, bao gồm các đơn vị sản xuất khác… sản xuất tư liệu phi vật chất như văn hoá,
giáo dục, khoa học kĩ thuật, y tế, tài chính, hải quan, bưu điện… cuối cùng phải được
khách du lịch chấp nhận.
Ngành du lịch mang tính phục vụ: Vì sản phẩm du lịch chủ yếu cung cấp dịch vụ
thoả mãn nhu cầu khách du lịch như: dịch vụ thiết kế các chương trình du lịch, dịch vụ
7


hướng dẫn, dịch vụ vận chuyển khách bằng các phương tiện khác nhau, dịch vụ làm thủ
tục liên quan tới quá trình du lịch, dịch vụ cho thuê chỗ trọ, dịch vụ phục vụ ăn uống,
dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm… Do đặc điểm của dịch vụ du lịch là sản
phẩm phi vật chất, vô hình, không nhìn thấy được, khó nhận biết được bằng các giác

ảnh hướng đối với ngành du lịch dẫn tới sự đình đốn du lịch như: động đất, biến đổi khí
hậu , dịch bệnh…
Ngành du lịch mang tính phụ thuộc: Tính phụ thuộc của ngành trước hết biểu
hiện ở sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia mang tính định hướng tài nguyên du lịch.
Một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch cần có là tài nguyên du lịch
phải độc đáo, hấp dẫn. Hơn nữa, tính phụ thuộc của ngành du lịch còn biểu hiện ở tính
phục thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nguồn khách là yếu tố
sống còn của ngành du lịch, mà việc thu hút khách được quyết định bởi trình độ phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia hoặc khu vực; và ngược lại, trình độ kinh tế nước tiếp đón
lại quyết định tới khả năng tiếp đón đối với khách du lịch và ảnh hưởng tới chất lượng
các dịch vụ ở mức độ nhất định. Biểu hiện khác nữa về tính phụ thuộc đó là sự phụ
thuộc vào sự hợp tác toàn diện, sự phát triển hợp lý giữa các ngành, nghề có liên quan
tới du lịch. Bất cứ một ngành nghề nào đó có liên quan tới du lịch mà tuột khỏi “mắt
xích” thì hoạt động kinh doanh của ngành du lịch sẽ khó có thể đạt được kết quả như
mong muốn.
1.1.1.3. Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi
trường.
Đối với sự phát triển kinh tế:
- Tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ,
đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Du lịch là một
ngành đã giúp nhiều quốc gia thu được hàng tỷ USD mỗi năm, bởi vì, đây là hoạt động
xuất khẩu tại chỗ có hiệu quả nhất. Thu nhập từ du lịch quốc tế mỗi năm đều tăng, năm
2003, thu nhập từ du lịch quốc tế đạt 523 tỉ USD, tăng 6,5% so với năm 2002. Tổ chức
du lịch thế giới (WTO) tin rằng du lịch quốc tế sẽ tiếp tục tăng trưởng và đặt mục tiêu
khách du lịch sẽ đạt khoảng 1 tỉ người vào năm 2010 và 1,6 tỉ người vào năm 2020
(UNWTO, 2009). Để đạt được thành tựu trên là vì: (1) Du lịch là ngành “xuất khẩu tại
chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, … theo giá bán lẻ
cao hơn. (2) Du lịch là ngành “xuất khẩu vô hình” sản phẩm du lịch, bao gồm như cảnh
quan thiên nhiên, giá trị di tích lịch sử - văn hóa, tính độc đáo trong truyền thống phong
tục tập quán…Sản phẩm này không bị mất đi mà giá trị ngày càng được tăng thêm khi

giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại chúng…
Đối với sự phát triển xã hội:

10


- Đóng góp của du lịch vào việc tạo ra việc làm cũng không thể bị xem nhẹ. Lao
động trong ngành du lịch ngày càng tăng, đầu tư vào du lịch có xu hướng tạo ra việc làm
nhiều hơn và nhanh hơn so với đầu tư vào các hoạt động kinh tế khác trong thời gian
vừa qua và trong tương lai.
Để phát triển được tài nguyên du lịch ở những vùng, thường là xa xôi, hẻo lánh
thì đòi hỏi phải đầu tư cơ sở hạ tầng và các dịch vụ đi kèm thiết yếu khác. Do vậy việc
phát triển dẫn đến phân phối lại thu nhập và làm giảm bớt nghèo đói; đóng góp vào việc
khôi phục các nghề thủ công, lễ hội và truyền thống; và cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao
phúc lợi chung của xã hội (UN 1999). Nói chung, du lịch được tin tưởng là sẽ làm giảm
quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển.
- Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo có hiệu quả cho các nước chủ
nhà. Xét về mặt kinh tế, các hàng hóa nội địa bao gồm các hàng công nghiệp hoặc tiểu
thủ công nghiệp…được giới thiệu tại chỗ đến khách du lịch, họ sẽ tuyên truyền đến
người thân, bạn bè và từ đó có cơ hội mở rộng con đường xuất khẩu cho các mặt hàng
này. Còn xét về mặt xã hội, đây là kênh để quảng bá về các thành tựu kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội, con người, phong tục tập quán…Đặc biệt, du lịch văn hóa ngày càng
đông, khách du lịch thiên về tham quan các khu di tích, lịch sử…Vì vậy, góp phần làm
tôn tạo các ngành nghề thủ công mỹ nghệ nhiều hơn, tô đậm nét văn hóa qua các sản
phẩm này. Một yếu tố không kém phần quang trọng là du lịch làm tăng thêm tình đoàn
kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết cá nhân giữa các vùng với nhau và của nhân dân
giữa các quốc gia với nhau. Ngoài những ý nghĩa tích cực như ta đã phân tích trên thì
phát triển du lịch cũng ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội. Thật vậy, nếu du lịch
quốc tế thụ động phát triển quá tải sẽ làm mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, gây
áp lực lạm phát. Hơn nữa nếu việc phát triển du lịch quá tải sẽ gây ra sự phụ thuộc của

Đối với an ninh, chính trị, ngoại giao:
- Tình hình chính trị ổn định của Lào có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển
kinh tế, giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người lao động, làm tăng nhu cầu tiêu
dùng của xã hội. Điều này cũng tác động tích cực trong việc tạo lập và triển khai chiến
lược phát triển nền kinh tế Lào nói chung trong đó là du lịch.
- Trong xu hướng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, Quốc hội đã ban
hành và tiếp tục hòan thiện các Bộ Luật như Luật du lịch để đẩy nhanh tiến trình cải
cách kinh tế ở Lào.

12


1.1.2. Khái niệm Du lịch sinh thái
1.1.2.1. Khái niệm
“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã thu hút
được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái niệm
rộng, được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau. Đối với một số người du lịch sinh thái được
hiểu đơn giản là sự kết hợp của 2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc.
Song đứng ở góc độ nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm du lịch
sinh thái là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã có từ đầu những năm
1800. Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm
biển, nghỉ núi… đều được hiểu là du lịch sinh thái.
Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO, 2009): du lịch sinh thái là loại hình du
lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với
mục đích chính là để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu
vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà khách đến
thăm. Ngoài ra du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự
nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải
nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với mỗi người
dân địa phương và du khách đến thăm.

Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là một đặc trưng khác biệt
vì nó được phát triển trong môi trường có những hấp dẫn ưu thế về mặt tự nhiên. Vì thế,
trong du lịch sinh thái, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch
phải được duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du
lịch. Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ,
yêu cầu sử dụng các phương tiên, dịch vụ về tiện nghi của du khách thường thấp hơn
các yêu cầu về đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng. Các hoạt động trong du lịch
sinh thái thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc
bảo vệ môi trường.
Có giáo dục môi trường: Đặc điểm giáo dục môi trường trong du lịch sinh thái là
một yếu tố cơ bản phân biệt du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác. Giáo dục và
thuyết minh môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách
thông qua tài liệu, hướng dẫn viên, các phương tiện tại điểm, tuyến tham quan là những

14


hình thức quan trọng trong việc trong việc làm giàu kinh nghiệm du lịch, nâng cao nhận
thức về môi trường và bảo tồn.
Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích du lịch: du lịch
sinh thái cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đống địa phương trên cơ sở cung
cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia
vào quản lý, vận hành dịch vụ du lịch sinh thái. Đó cũng là cách để người dân có thể trở
thành những người bảo tồn tích cực.
Cung cấp các kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách: Việc thỏa
mãn những mong muốn của du khách là nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du
lịch lý thú, là sự tồn tại sống còn lâu dài của ngành du lịch sinh thái. Vì vậy, các dịch vụ
du lịch trong du lịch sinh thái tập trung nhiều vào việc đáp ứng những nhu cầu nhận thức
và kinh nghiệm du lịch hơn là các dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi. Thỏa mãn những nhu
cầu này của khách du lịch sinh thái chỉ nên đứng sau công tác bảo tồn và bảo vệ những

hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những ưu
tiên hàng đầu thì ngược lại du lịch sinh thái coi đây là một trong những nguyên tắc cơ
bản, quan trọng cần được tuân thủ, bởi vì:
- Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu của hoạt
động du lịch sinh thái.
- Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh
thái điển hình. Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng
nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch sinh thái.
Với nguyên tắc này mọi hoạt động du lịch sinh thái sẽ phải được quản lý chặt chẽ
để giảm thiểu các tác động đến môi trường, đồng thời phần thu nhập từ hoạt động du
lịch sinh thái sẽ được đầu tư trở lại để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy
trì sự phát triển các hệ sinh thái.
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng:
Được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động du lịch
sinh thái, bởi vì các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời với
các giá trị của hệ sinht thái ở một khu vực cụ thể. Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục
sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương sẽ làm giảm sự cân bằng sinh
thái tự nhiên vốn có của khu vực, vì nó sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó. Hậu quả của quá
trình này sẽ tác động trực tiếp đến du lịch sinh thái. Chính vì vậy, việc phát huy bản sắc

16


văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của du
lịch sinh thái.
Để, Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương:
Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái. Nếu như
các loại hình du lịch khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt
động du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại du lịch sinh thái sẽ dành
một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp vào việc cải thiện môi

Dùng vận tải thô

Là kinh nghiệm “bất

thái tiên phong

nhiên xa xôi,

nhóm nhỏ

sơ; ít nhu cầu về

thường đầu tiên”, yêu cầu

còn ít được sử

(dưới 10

các dịch vụ và cơ

mức độ thách thức cao về

dụng.

người)

sở hạ tầng.

sự hiểu biết và các kĩ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status