ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ HƢƠNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
TẠI CÁC LÀNG CHÀI TRÊN VỊNH HẠ LONG
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
Hà NộI – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ HƢƠNG
NGHIẤN CỨU PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
TẠI CÁC LÀNG CHÀI TRẤN VỊNH HẠ LONG
CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH
(CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM)
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. NGUYỄN THỊ HẢI
Hà NộI – 2013
TRÊN VỊNH HẠ LONG ................................................................................... 36
2.1. Khái quát về Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh
Hạ Long ........................................................................................................... 36
2.2. Các điều kiện phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các
làng chài trên Vịnh Hạ Long ......................................................................... 37
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên............................................................. 38
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ........................................................... 43
2.2.3. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng phục vụ du lịch .............. 53
2.2.4. Chính sách ....................................................................................... 53
2.2.5. Cơng tác quảng bá .......................................................................... 54
2.3. Năng lực và thái độ của cộng đồng ....................................................... 55
2.3.1. Cơ cấu và trình độ lao động ........................................................... 55
2.3.2. Thái độ ứng xử của cộng đồng........................................................ 58
2.3.3. Khả năng tham gia du lịch của cộng đồng địa phương .................. 60
2.4. Thực trạng hoạt động du lịch tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long ... 61
2.4.1. Khái quát hiện trạng hoạt động du lịch của Vịnh Hạ Long ........... 61
2.4.2. Khách du lịch .................................................................................. 62
2.4.3. Doanh thu du lịch ........................................................................... 63
2.4.4. Cơ sở hạ tầng du lịch ..................................................................... 64
2.4.5. Thực trạng tham gia và hưởng lợi của cộng đồng .......................... 67
2.4.6. Hiện trạng khai thác du lịch tại 3 làng chài trên Vịnh Hạ Long .... 71
2.5. Nguyên nhân và thách thức phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng
đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long ................................................... 76
Tiểu kết chƣơng 2 ............................................................................................... 78
CHƢƠNG 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC LÀNG
CHÀI TRÊN VỊNH HẠ LONG ..................................................................... 79
3.1. Định hƣớng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ............... 79
Cộng đồng địa phương
IUCN
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
UBND
Ủy ban nhân dân
Tour
Chương trình du lịch
TCDLVN
Tổng cục du lịch Việt Nam
UNESSCO
United Nations Educational Scidentific and
Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên
hiệp quốc.
UNWTO
Union nation World Tourism Organization
Tổ chức Du lịch thế giới
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng về các mặt kinh tế - văn hóa
- xã hội, nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng và trở thành nhu cầu cơ
bản không thể thiếu được trong đời sống. Hoạt động du lịch đang trở thành “con
gà đẻ trứng vàng” cho nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, ngành du lịch
tuy cịn non trẻ nhưng đã có bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng,
đóng góp những thành tựu đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, ngành du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi
nhọn của Việt Nam. Vì vậy, mục tiêu của ngành du lịch Việt Nam là phải hoạt động
có hiệu quả, hịa nhập với xu hướng phát triển của khu vực và thế giới.
Như chúng ta đã biết, du lịch là một trong những ngành kinh tế “hết sức phụ
thuộc vào môi trường thiên nhiên cũng như các đặc trưng văn hóa xã hội của cư
dân bản địa” (Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế tại Việt Nam. “Xây dựng
năng lực phục vụ các sáng kiến về du lịch bền vững”. Đề cương dự án, 1997). Từ
đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các nhà khoa học trên thế giới đã đề cập nhiều
đến phát triển du lịch với mục đích đơn thuần là lợi ích kinh tế đang đe dọa mơi
trường sinh thái và nền văn hóa bản địa. Hậu quả của các tác động này sẽ ảnh
hưởng đến sự phát triển lâu dài của ngành du lịch. Chính vì vậy đã xuất hiện yêu
cầu nghiên cứu “phát triển du lịch bền vững” nhằm hạn chế tác động tiêu cực của
hoạt động du lịch, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Một số loại hình du lịch
đã được ra đời bước đầu quan tâm đến khía cạnh mơi trường và văn hóa bản địa
như: du lịch sinh thái, du lịch gắn với thiên nhiên, du lịch mạo hiểm, du lịch
khám phá, du lịch cộng đồng đã góp phần nâng cao hiệu quả của mơ hình du lịch
có trách nhiệm, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Du lịch bền vững cũng như du lịch cộng đồng ở nước ta vẫn còn là một khái
niệm mới. Tuy rằng trong thời gian gần đây cụm từ này đã được nhắc đến khá
nhiều. Thông qua các bài học kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch tại các
quốc gia trên thế giới, nhận thức về một phương thức du lịch có trách nhiệm với
của những người dân chài đã trở thành điểm đến thu hút du khách song việc tham
gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch cho đến nay vẫn cịn ở mức
thấp, chỉ có một số ít hộ tham gia và hưởng lợi từ du lịch. Trong khi đó nguồn lợi
thủy hải sản ngày càng suy giảm, nhiều bản sắc văn hóa truyền thống ngày càng bị
mai một mất đi do sự chi phối của nền kinh tế thị trường. Do đó, việc bảo tồn, gìn
giữ và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng của các làng chài trên vịnh Hạ Long
một mặt góp phần nâng cao đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội; phục dựng các giá
trị văn hóa truyền thống của ngư dân thủy cư trên vịnh Hạ Long và tạo một sản
phẩm du lịch mới mang tính bền vững là hết sức cần thiết.
Để góp phần quảng bá, giới thiệu những giá trị đặc sắc của Vinh Hạ Long
tăng sức hấp dẫn với du khách; giảm tải lượng khách tại các tuyến điểm du lịch
truyền thống; thay đổi sinh kế nâng cao đời sống vật chất và ý thức bảo vệ môi
trường, bảo vệ Di sản của cộng đồng dân cư, phát triển hơn nữa hoạt động du lịch
ở Quảng Ninh nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng, tác giả đã lựa chọn đề tài: “
Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài
trên Vịnh Hạ Long” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Du lịch học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng
đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long.
- Nâng cao mức sống CĐĐP, giảm áp lực tới môi trường & tài nguyên du
lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động du lịch sinh thái dựa vào
cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi 3 làng chài Ba
Hang, Vông Viêng, Cửa Vạn.
+ Về thời gian: Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ năm 2011 – 2012.
phương đã giúp tác giả đánh giá sâu sắc hơn về thực trạng hoạt động du lịch sinh
thái dựa vào cộng đồng tại địa phương.
Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu được tiến hành tập trung vào tháng 3 năm 2012.
5.3. Phƣơng pháp điều tra xã hội học
Sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, tham khảo ý kiến của một số
người chuyên môn ở địa phương về thực trạng hoạt động sinh thái ở ba làng chài
trên Vịnh Hạ Long nhằm làm căn cứ cho những nhận xét, đánh giá của mình. Sử
dụng phương pháp phỏng vấn, đánh giá nhanh và điều tra bảng hỏi. Cụ thể tác
giả tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với người dân địa phương muốn tham
gia và khả năng tham gia vào các hoạt động du lịch, thái độ của người dân địa
phương đối với khách du lịch. Đối với khách du lịch, tác giả điều tra bằng bảng
hỏi đối với khách du lịch quốc tế và nội địa để có những đánh giá nhận xét khách
quan về hoạt động du lịch tại đây. Qua đó đã giúp tác giả hiểu và có cái nhìn chia
sẻ hơn về cuộc sống, con người nơi đây, hiểu rõ hơn về mong muốn, nguyện
vọng của người dân địa phương tham gia làm du lịch cũng như mong muốn của
du khách đến nơi này. Từ đó đề xuất một số giải pháp với hi vọng đóng góp nhỏ
cho sự phát triển du lịch sinh thái trên Vịnh Hạ Long.
6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
6.1. Trên thế giới
Trong vài thập kỷ trở lại đây, du lịch đã thực sự trở thành một ngành kinh
tế quan trọng và phát triển rộng khắp trên thế giới. Cùng với sự phát triển nhanh
chóng đó thì sự xuất hiện ngày càng nhiều những tác động tiêu cực của hoạt động
du lịch đối với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội của lãnh thổ đón khách là một
tất yếu. Vì vậy các nhà nghiên cứu du lịch đã quan tâm nhiều hơn đến việc đánh
giá các tác động này. Những người tiên phong trong lĩnh vực này phải kể đến là
Budowski (Tourism and Environmental Conservation: Confic Coexistense,
Symbiois?, Environmental Conservation, Vol.3, No1, 1976), Mathieson & Wall
Phạm Trung Lương (chủ biên) Du lịch sinh thái – những vấn đề lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam, NXB Giáo dục, 1998; Đặng Duy Lợi “Đánh giá và khai thác
các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ
mục đích du lịch”, luận án PTS khoa Địa lý – Địa chất Trường đại học sư phạm
Hà Nội, 1992, Phạm Quang Anh “phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng
dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam”, luận án PTS khoa Địa lý –
Địa chất, Trường Đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội, 1996,
Nguyễn Thị Sơn “Cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh
thái ở vườn quốc gia Cúc Phương”, luận án tiến sỹ Địa lý, Trường đại học sư
phạm Hà Nội, 2000, Chu Thành Huy, “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái
khu vực Hồ Núi Cốc, Tỉnh Thái Nguyên”, luận văn Thạc sỹ khoa học, Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008.
6.3. Khu vực nghiên cứu
Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO hai lần công
nhận, Kỳ quan thiên nhiên của thế giới do Tổ chức New7wonders bầu chọn, là
một trọng điểm trong phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và Việt
Nam nói chung. Bởi vậy nên, trong những năm qua, có rất nhiều các Cơng trình
nghiên cứu, Hội thảo, Dự án... nghiên cứu về Vịnh Hạ Long. Trong đó là các
nghiên cứu tập trung ở những nội dung chủ yếu: các giá trị của Vịnh Hạ Long,
khai thác và phát triển các tuyến du lịch, vấn đề ô nhiễm môi trường, quản lý du
khách, đa dạng hóa sản phẩm, phát triển du lịch sinh thái trên Vịnh Hạ Long.
Nghiên cứu loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên
Vịnh Hạ Long là một vấn đề mới, chưa có cơng trình nào được công bố. Trên cơ
sở kế thừa và tiếp thu các nghiên cứu đi trước, tác giả đã mạnh dạn chọn hướng
nghiên cứu còn mới mẻ trên với hi vọng đưa du lịch của Vịnh Hạ Long nói riêng,
Du lịch Quảng Ninh và Du lịch Việt Nam nói chung phát triển bền vững, mang
lại lợi ích to lớn cho cộng đồng cư dân địa phương.
7. Bố cục của luận văn
xem du lịch đơn giản như là một kỳ nghỉ hay một chuyến đi để giải trí, làm
phong phú thêm nhận thức của con người.
Cùng với sự phát triển của du lịch, người ta thấy yếu tố kinh tế là không thể
thiếu trong khái niệm du lịch. Theo xu hướng đó, khái niệm du lịch đã thay đổi
cho phù hợp hơn bao hàm các nội dung liên quan đến sự chuyển cư, những hoạt
động tại nơi đến cũng như các vấn đề về kinh tế xã hội liên quan. Gắn kết cả hai
cách nhìn nhận từ phía người du lịch và người kinh doanh du lịch, hai học giả
Hoa Kỳ Mathieson Wall đã khái quát như sau: ”Du lịch là sự chuyển tạm thời
của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra
trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ững những nhu
cầu của họ”.
Tổ chức Du lịch thế giới WTO (World Travel Organization) cho rằng: ”Du
lịch là hành động rời khỏi nơi thường trú để đi đến một nơi khác, một môi trường
khác trong thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí
nghỉ dưỡng”.
I.I Piroogiơnic: ”Du lịch là hoạt động của dân cư trong thời gian rảnh rỗi
liên quan đến sự di chuyển và cư trú tạm thời bên ngoài nơi thường trú nhằm
mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình
độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự
nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ”.[21, tr12]
Luật du lịch Việt Nam 2005, khái niệm du lịch được xác định chính thức
như sau: ”Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngồi
nơi cư trú thường xun của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tham quan,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Như vậy ta thấy rằng, du lịch là khái niệm bao hàm hai nội dung cơ bản.
Một mặt mang ý nghĩa là việc nghỉ ngơi, giải trí liên quan mật thiết đến sự di
chuyển chỗ ở của khách du lịch. Mặt khác, du lịch được nhìn nhận như hoạt động
gắn chặt với các hoạt động kinh tế - sản xuất, tiêu thụ những giá trị của lãnh thổ
đồng địa phương.
Như định nghĩa của Wood (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến các
khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử mơi trường tự
nhiên và văn hóa mà khơng làm thay đổi sự tồn vẹn các các hệ sinh thái. Đồng
thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích
về tài chính cho người dân địa phương.”[8, tr8-9]
Định nghĩa của Allen (1993): “Du lịch sinh thái được phân biệt với các
loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục đối với môi trường và sinh
thái, thơng qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. Du lịch sinh thái
tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được
giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công
tác bảo vệ môi trường. Phát triển Du lịch sinh thái sẽ làm giảm thiểu tác động
của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được
hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp
tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”.[8,tr9]
Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: “Du lịch sinh thái là
việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi
trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”.[8,tr10]
Nhìn chung, cho đến nay khái niệm Du lịch sinh thái vẫn cịn được hiểu
dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy vậy đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tế chính
thức về Du lịch sinh thái đều cho rằng Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa
vào thiên nhiên, hỗ trợ các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt
sinh thái. Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những giá trị thiên nhiên
và văn hóa mà khơng gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ
sinh thái và văn hóa bản địa.
Ở Việt Nam, Du lịch sinh thái là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ khoảng
giữa những năm 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt
của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Để có sự thống nhất về khái
hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa nếu đảm bảo đầy đủ các
nguyên tắc cơ bản của Du lịch sinh thái: giáo dục môi trường, bảo tồn và phát
triển bền vững, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương đều được coi
là du lịch sinh thái.
Theo ý kiến riêng của tác giả, chỉ khi chúng ta xem Du lịch sinh thái là một
quan điểm du lịch mới có thể phản ánh được tồn bộ nội dung, bản chất của hành
vi du lịch này. Và chỉ có như vậy chúng ta mới phát huy được vai trò trong việc
bảo vệ, phục hồi môi trường tự nhiên và các giá trị nhân văn đặc sắc đồng thời
nâng cao đời sống vật chất cho công đồng cư dân bản địa. Theo cách hiểu đó, vị
trí của du lịch sinh thái được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.1. Vị trí của du lịch sinh thái. [8,tr16]
1.1.3. Các đặc trƣng cơ bản của du lịch sinh thái
Bản chất của hoạt động du lịch nói chung và Du lịch sinh thái nói riêng là
quá trình sử dụng những giá trị đặc trưng của các loại tài nguyên du lịch tự nhiên và
nhân văn kết hợp với các điều kiện về cơ sở hạ tầng, dịch vụ của lãnh thổ nhằm tạo
ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn mang lại lợi ích cho xã hội.
Du lịch sinh thái là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao
gồm tất cả các đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung như: tính đa
ngành, tính đa thành phần, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ, tính chi
phí, tính xã hội hóa. Bên cạnh đó Du lịch sinh thái cũng có những đặc trưng
riêng, bao gồm:
- Tính giáo dục cao về mơi trường [8,18]: Du lịch sinh thái hướng con người,
du khách tiếp cận gần hơn với hoạt động bảo vệ môi trường. Bằng các tài liệu, các
nguồn thông tin, hướng dẫn viên, các phương tiện trên điểm, tuyến tham quan…
nhằm nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn cho du khách. Giáo dục mơi
Cộng đồng là một trong những khái niệm xã hội học có nhiều tuyến nghĩa
khác nhau cũng như đối với tất cả các khái niệm xã hội học khác về cơ cấu xã hội,
khuôn mẫu, văn hóa, quy định hay thiết chế xã hội. Hơn nữa cộng đồng còn là đối
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, mỗi ngành lại chế
tạo ra đối tượng riêng của mình tạo nên những nét nghĩa khoa học khác nhau về khái
niệm cộng đồng.
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách tương
đối rộng rãi để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về
quy mơ, đặc tính xã hội. Rộng nhất là nói đến những khối tập hợp người, các liên
minh rộng lớn như cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các nước
ASEAN… Nhỏ hơn danh từ này được áp dụng cho một kiểu, hạng xã hội căn cứ
vào những đặc tính tượng đối về sắc tộc, chủng tộc hay tơn giáo như : cộng đồng
người Do thái, cộng đồng người da đen tại Chicago… và nhỏ hơn nữa danh từ
cộng đồng còn được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay
một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lý tưởng xã hội, lứa
tuổi, nghề nghiệp, thân phận xã hội như các đảng phái, những nhóm người lái xe
taxi, nhóm người khiếm thị, khiếm thính…
Tóm lại, có hai cách hiểu về cộng đồng : cộng đồng tính và cộng đồng thể.
Cộng đồng tính: là thuộc tính hay là quan hệ xã hội có những đặc trưng mà
các nhà xã hội học đã cố gắng xác định và cụ thể hóa.
Cộng đồng thể: là những nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với
rất nhiều thể có qui mơ khác nhau, đó là các thể nhỏ, thể vừa, thể lớn và thể cực
lớn, kể từ gia đình đến quốc gia và nhân loại.
Mặc dù có hai cách hiểu khác nhau nhưng khơng phải là đối lập nhau mà
một cộng đồng thường mang những đặc điểm sau đây :
- Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan này đôi
khi được gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt, tương quan
thân mật.
Theo Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009): “Du lịch sinh thái cộng
đồng là một hình thái du lịch trong đó cụ thể là người dân địa phương đứng ra
phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế
địa phương”.
Theo Tổ chức Respondsible Ecological Social Tour (1997): Du lịch sinh
thái cộng đồng “là phương thức tổ chức du lịch đề cao về mơi trường, văn hóa xã
hội. Du lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng
và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng đời
thường của họ”.
Keith W.Sproule và Ary S.Suhandi quan niệm: "Du lịch sinh thái dựa vào
cộng đồng là nói tới các tổ chức kinh doanh du lịch sinh thái do cộng đồng sở
hữu và quản lý. Hơn nữa, du lịch sinh thái bao hàm ý một cộng đồng đang chăm
lo đến tài nguyên thiên nhiên của mình để có thu nhập nhờ du lịch và đang sử
dụng thu nhập đó để làm cho đời sống của cộng đồng mình được tốt lên. Nó thu
hút cơng việc bảo tồn, công việc kinh doanh và sự phát triển cộng đồng."
Yếu tố “dựa vào cộng đồng” là tạo cơ hội trao quyền cho cộng đồng, tăng
cường sự tham gia của họ vào việc ra quyết định, khuyến khích sự tham gia của
cộng đồng. Như vậy du lịch sinh thái cộng đồng nhấn mạnh cả ba yếu tố: môi
trường, du lịch và cộng đồng.