luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện kim bảng tỉnh hà nam - Pdf 59

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả luận văn


ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Thương
mại, xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện
thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS,TS. Phạm Thị Tuệ đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách trọn vẹn
và hoàn chỉnh.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2017
Tác giả

Nguyễn Thị Mai Hương


iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................ii
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................1
3.3.1. Đối với Nhà nước:.......................................................................................................85
3.3.2. Đối với tỉnh Hà Nam:...................................................................................................86


v
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu kinh tế huyện Kim Bảng năm 2016. .Error: Reference source not
found


vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
XDCB
NSNN
QLNN
TW
HĐND
UBND
KTXH
DN

Xây dựng cơ bản
Ngân sách Nhà nước
Quản lý Nhà nước
Trung ương
Hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân
Kinh tế xã hội
Doanh nghiệp


1

MỞ ĐẦU

2

nước trên địa bàn huyện thời gian qua vẫn còn những tồn tại, tình trạng thất thoát,
lãng phí kém hiệu quả trong đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN vẫn thường xuyên
xảy ra. Các nguyên nhân chủ yếu làm công tác quản lý nhà nước về đầu tư XDCB
từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn huyện còn tồn tại là: việc quy hoạch, lập kế
hoạch, bố trí vốn đầu tư XDCB còn phân tán, dàn trải; bộ máy quản lý vốn đầu tư
XDCB kém hiệu quả, năng lực của cán bộ chuyên môn còn hạn chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu công việc. Thêm vào đó, do đặc thù của vốn đầu tư XDCB là rất lớn,
quá trình đầu tư xây dựng thường diễn ra trong thời gian dài nên dễ xảy ra tình trạng
thất thoát vốn đầu tư XDCB của Nhà nước. Vậy vấn đề đặt ra là cần thiết phải
nghiên cứu để đưa ra những giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả hoạt động đầu tư
XDCB từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn huyện Kim Bảng, góp phần khắc phục
những tồn tại, bất cập để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn XDCB.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa chọn nội dung: “Quản lý Nhà nước về
đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Kim Bảng tỉnh
Hà Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay có nhiều tác giả đã nghiên cứu về đề tài quản lý nhà nước về
đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN:
* Luận án Tiến sĩ: ‘‘Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ
bản từ vốn ngân sách trong ngành giao thông vận tải Việt Nam" của Nguyễn Thị
Bình, năm 2012. Luận án đưa ra cách tiếp cận mới về quản lý nhà nước đối với đầu
tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN theo năm khâu của quá trình đầu tư xây dựng cơ
bản, bao gồm quản lý nhà nước trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch; lập, thẩm
định, phê duyệt dự án; triển khai các dự án; nghiệm thu, thẩm định chất lượng, bàn
giao công trình; và thanh quyết toán. Tuy nhiên Luận án mới bàn đến vấn đề quản
lý đầu tư XDCB từ vốn NSNN trong ngành giao thông vận tải nên còn một số vấn
đề còn bỏ ngỏ chưa đề cập đến đó là QLNN về đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN.
* Luận án Tiến sĩ: “Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu

hoạch vốn đầu tư XDCB theo niên độ ngân sách hàng năm. Tuy nhiên, luận văn
chưa đề cập đến việc xây dựng kế hoạch vốn, tổ chức bộ máy thực hiện quản lý nhà
nước về đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN.


4

* Đề tài cấp Bộ: “Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà
nước” của PGS. TS Đỗ Văn Thành cùng cộng sự đã thực hiện đề tài cấp Bộ (Bộ
Tài chính, 2005). Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thực trạng cơ chế trong quản lý vốn
đầu tư từ nguồn NSNN nói chung, trong đó có đề cập đến vốn đầu tư XDCB từ
nguồn NSNN. Đồng thời tác giả đã đưa ra các giải pháp về cơ chế nhằm thực hiện
tốt hơn công tác quản lý nguồn vốn NSNN ở Việt Nam, trong đó tác giả nhấn mạnh
đến các cơ chế đối với nhà thầu, chủ đầu tư và các bên tham gia quản lý, giám sát
vốn đầu tư từ nguồn NSNN. Tuy nhiên chưa đề cập đến việc thanh tra, kiểm tra
công tác quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN nhằm đảm bảo việc sử dụng,
quản lý nguồn vốn nhà nước một cách có hiệu quả nhất ở cấp huyện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu đề tài là dựa trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản và phân tích một số tồn tại, vướng mắc, khó khăn trong công tác
quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách để đề xuất những giải
pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được các mục đích nêu trên, luận văn cần tập trung thực hiện các
nhiệm vụ chính sau đây:
* Hệ thống hóa lý thuyết nghiên cứu về QLNN đối với vốn đầu tư XDCB
từ NSNN.
* Phân tích, đánh giá thực trạng về QLNN về vốn đầu tư XDCB từ nguồn

đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước. Xây dựng hệ thống tiêu chí
đánh giá về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách và nhóm nhân tố tác
động đến quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý cấp huyện về quản lý nhà
nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước của huyện Kim Bảng,
tỉnh Hà Nam và là tài liệu tham khảo cho giảng viên và các học viên.


6

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu thành 3 chương cụ thể:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ
bản từ nguồn vốn ngân sách.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn
vốn ngân sách tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà
nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách tại huyện Kim Bảng,
tỉnh Hà Nam.


7

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
1.1. Bản chất, vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
1.1.1. Khái niệm, phân loại đầu tư xây dựng cơ bản

nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá “Tác giả Hoàng Thúy Nguyệt – Tạp
chí nghiên cứu tài chính kế toán 2012”
1.1.1.2 Phân loại đầu tư xây dựng cơ bản
Tùy theo yêu cầu quản lý mà đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN được phân
chia theo những tiêu thức khác nhau.
* Phân loại đầu tư xây dựng cơ bản theo hình thức tái sản xuất
Theo cách phân loại này, đầu tư XDCB gồm: đầu tư xây dựng mới, đầu tư cải
tạo, mở rộng trang bị lại kỹ thuật.
Đầu tư xây dựng mới bao gồm các khoản đầu tư để xây dựng mới các công
trình dự án. Đầu tư xây dựng mới là việc đầu tư theo chiều rộng, cho phép ứng dụng
thuận lợi kỹ thuật tiên tiến và thay đổi sự phân bố sản xuất. Đầu tư xây dựng mới
đòi hỏi phải có vốn đầu tư xây dựng lớn, thời gian xây dựng dài.
Đầu tư cải tạo mở rộng, trang bị lại kỹ thuật bao gồm các khoản đầu tư để mở
rộng hoàn thiện các tài sản cố định hiện có nhằm tăng thêm năng lực, công suất sử
dụng và hiện đại hóa tài sản cố định. Cải tạo, trang bị lại kỹ thuật là yếu tố để phát
triển sản xuất theo chiều sâu.
* Phân loại đầu tư xây dựng cơ bản theo cơ cấu công nghệ (hay cơ cấu kỹ
thuật) của vốn đầu tư
Theo cách phân loại này đầu tư XDCB bao gồm: đầu tư cho xây lắp, cho mua
sắm máy móc thiết bị và cho công tác XDCB khác.
Đầu tư cho xây lắp là các khoản chi để xây dựng, lắp ghép các kết cấu kiến trúc
và lắp đặt máy móc, thiết bị vào đúng vị trí, theo đúng thiết kế kỹ thuật đã được duyệt.
Đầu tư cho mua sắm máy móc thiết bị là những khoản chi hợp thành giá trị
của máy móc thiết bị đầu tư mua sắm nó, bao gồm: chi phí giao dịch hợp lý, giá trị
máy móc ghi trên hóa đơn, chi phí về vận chuyển, bốc xếp, chi phí về bảo quản, chi
phí về gia công tinh chế thiết bị kể từ khi mua sắm đến khi thiết bị được lắp đặt
hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng


9



10

thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chồng lãng
phí nguồn lực.
- Thời gian dài, nhiều biến động: Hoạt động đầu tư phát triển là sự tác động
liên tục có tổ chức, có định hướng (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu
tư và vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng
một hệ thống các biện pháp kinh tế xã hội và tổ chức kỹ thuật, cùng các biện pháp
khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong điều kiện cụ thể xác định và
trên cơ sở vận dụng sáng tạo những qui luật khách quan nói chung và các qui luật
đặc thù của đầu tư nói riêng. Nói một cách khác, hoạt động đầu tư phải diễn ra trong
một thời gian khá dài, thậm chí rất dài.
Ngoài ra hoạt động đầu tư không thể tách rời điều kiện tự nhiên, bị tác động
nhiều bởi yếu tố tự nhiên. Quá trình sản xuất thi công xây dựng cơ bản thường phải
tiến hành ngoài trời nên phụ thuộc nhiều vào điều kiện địa lý, tự nhiên, khí hậu tại
nơi thi công. Nhiều yếu tố tự nhiên có thể ảnh hưởng mà không lường trước được
như tình hình địa chất thuỷ văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất.
Mặt khác giá thành chi phí vật liệu nhân công thường xuyên thay đổi biến động theo
từng giai đoạn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội từng giai đoạn phát triển.
- Tạo ra tài sản cố định có giá trị sử dụng lâu dài: Thời gian xây dựng cơ bản
và thời gian tồn tại sản phẩm xây dựng cơ bản tồn tại lâu dài, Thời gian vận hành
kết quả đầu tư xây dựng tính từ khi đưa công trình vào khai thác sử dụng cho đến
khi hết thời hạn sử dụng. Có những tài sản cố định mang tính chất trường tồn theo
thời gian như: Kim Tự Tháp Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành
ở Trung Quốc... Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài như: Hệ thống
giao thông, cầu cống, sân bay, bến cảng, nhà ga...
- Liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực: Do sản phẩm xây dựng thường
có quy mô lớn, cấu tạo phức tạp nên hoạt động đầu tư trong xây dựng cơ bản là quá

- Khoản chi đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách mang tính chất là khoản
vốn cấp phát không hoàn lại (khác với khoản vốn Nhà nước khác dành cho đầu
tư XDCB).
* Bên cạnh đó, đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách còn có sự
khác biệt với nguồn vốn của doanh nghiệp, đó là:
- Trong đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách, vốn là vốn của nhà nước mà
không phải là của tư nhân, do vậy rất khó quản lý sử dụng, dễ xảy ra thất thoát, lãng
phí, tham nhũng. Ở đây quyền sở hữu về vốn không trùng hợp với quyền sử dụng


12

và quản lý vì thế trách nhiệm quản lý vốn không cao. Động lực cá nhân đối với việc
sử dụng hiệu quả đồng vốn không rõ ràng, mạnh mẽ như nguồn vốn tư nhân. Vì vậy
việc quản lý hiệu quả đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách rất khó khăn, phức tạp.
- Về lĩnh vực đầu tư, đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách thường nhằm vào
lĩnh vực ít được thương mại hoá, không thu hồi vốn ngay, ít có tính cạnh tranh.
- Về mục tiêu đầu tư, đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách thường ít nhắm
tới mục tiêu lợi nhuận trực tiếp. Nó phục vụ lợi ích của cả nền kinh tế, trong khi đầu
tư XDCB của doanh nghiệp và đầu tư nước ngoài thường đề cao lợi nhuận.
- Về môi trường đầu tư, đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách thường diễn ra
trong môi trường thiếu vắng sự cạnh tranh. Và nếu có sự cạnh tranh thì cũng ít khốc
liệt hơn khu vực đầu tư khác.
- Việc định đoạt phạm vi đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách khác biệt với
việc xác định phạm vi đầu tư của doanh nghiệp ở chỗ nhà nước phải giữ vai trò điều
tiết, khắc phục thất bại thị trường, giải quyết vấn đề kinh tế xã hội cùng với việc
tính toán lợi ích chung. Trong lúc đó khu vực đầu tư của doanh nghiệp và đầu tư
nước ngoài nhìn chung chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế.
Những đặc điểm trên đây cho thấy: để quản lý có hiệu quả công tác đầu tư
XDCB từ nguồn vốn ngân sách cần phải có một quy trình quản lý giám sát chặt chẽ

Thứ nhất, đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự phát triển khoa học công
nghệ của đất nước
Có hai con đường để phát triển khoa học công nghệ, đó là tự nghiên cứu phát
minh ra công nghệ, hoặc bằng việc chuyển giao công nghệ. Muốn làm được điều
này, cần phải có một khối lượng vốn đầu tư mới có thể phát triển khoa học công
nghệ. Với xu hướng quốc tế hoá đời sống như hiện nay, nên tranh thủ hợp tác phát
triển khoa học công nghệ với nước ngoài để tăng tiềm lực khoa học công nghệ của
đất nước thông qua nhiều hình thức như hợp tác nghiên cứu, khuyến khích đầu tư
chuyển giao công nghệ. Đồng thời tăng cường khả năng sáng tạo trong việc cải
thiện công nghệ hiện có phù hợp với điều kiện của đất nước.
Thứ hai, đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự ổn định kinh tế, tạo công ăn
việc làm cho người lao động
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư do ảnh hưởng của
tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư dù là tăng


14

hay giảm cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền
kinh tế. Ví dụ: khi đầu tư tăng làm cho các yếu tố liên quan tăng, tăng sản xuất của
các ngành sẽ thu hút thêm lao động nâng cao đời sống. Mặt khác, đầu tư tăng, cầu
của các yếu tố đầu vào tăng, khi tăng đến một chừng mực nhất định sẽ gây ra tình
trạng lạm phát, nếu lạm phát mà lớn sẽ gây ra tình trạng sản xuất trì trệ, thu nhập
của người lao động thấp đi, thâm hụt ngân sách tăng, kinh tế phát triển chậm lại. Do
vậy khi điều hành nền kinh tế nhà nước phải đưa ra những chính sách để khắc phục
những nhược điểm trên.
Đầu tư XDCB có tác động rất lớn đến việc tạo công ăn việc làm, nâng cao
trình độ đội ngũ lao động. Trong khâu thực hiện đầu tư, số lao động phục vụ cần rất
nhiều đối với những dự án sản xuất kinh doanh thì sau khi đầu tư dự án đưa vào vận
hành phải cần không ít công nhân, cán bộ cho vận hành khi đó tay nghề của người

động liên tục, có tổ chức, có định hướng của cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm
quyền tới các đơn vị và cá nhân thực hiện trong quá trình quản lý để thực hiện đầu tư
xây dựng cơ bản nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong quá trình xây dựng
1.2.1.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn
vốn ngân sách
Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN có tác động rất quan
trọng đến nền kinh tế cũng như sự phát triển của mỗi quốc gia, thể hiện:
- Một là, do yêu cầu của việc quản lý đầu tư XDCB từ NSNN một cách tiết
kiệm và hiệu quả: đầu tư xây dựng cơ bản là đầu tư lớn, dàn trải trên nhiều lĩnh vực
tạo ra cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Để quản lý việc sử dụng có hiệu quả và tiết
kiệm nguồn vốn, nhà nước cần phải quản lý chặt chẽ nếu không các công trình đầu
tư XDCB sẽ dàn trải, chi phí phát sinh cao mà chất lượng các công trình không đảm
bảo dẫn đến lãng phí.
- Hai là, do yêu cầu phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ chính sách và nguyên
tắc tài chính của Nhà nước trong đầu tư XDCB. Trong quá trình đầu tư xây dựng cơ
bản từ vốn NSNN nếu không có sự quản lý nhà nước sẽ dẫn đến tình trạng thất
thoát, không thực hiện đúng mục đích đầu tư, vốn đầu tư sẽ không thực hiện được
đúng chức năng vốn có của nó.
- Ba là, do yêu cầu phải chống lãng phí, thất thoát trong đầu tư XDCB vì vậy
rất cần thiết phải có sự quản lý của nhà nước nếu không tình trạng tham nhũng sẽ


16

xảy ra. Đã có nhiều công trình khi thực hiện quá trình đầu tư kéo dài nhiều năm gây
tổn thất về kinh tế bằng kéo dài thời gian đầu tư và đội giá thầu trong khi vốn ngân
sách nhà nước có hạn. Hơn nữa vốn ngân sách nhà nước bản thân là “của chung”
nên nó đã mang trong mình tính chất dễ lãng phí và thất thoát.
- Bốn là, do yêu cầu cần phải nâng cao chất lượng công trình đầu tư XDCB từ
NSNN, góp phần thúc đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát

- Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước được các cơ quan chức năng của
Nhà nước xác định tính khả thi của việc bố trí các nguồn vốn cho dự án đầu tư, đặc
biệt là việc bố trí vốn ngân sách nhà nước, xác định điểm dự án đầu tư và nhu cầu
sử dụng vốn, giai đoạn thực hiện vốn đầu tư nhà nước, bảo đảm vốn ngân sách nhà
nước và các nguồn vốn khác cho đầu tư, phối hợp giữa với các cơ quan chức năng
để thúc đẩy sử dụng các nguồn vốn một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, Nhà nước tiến
hành kiểm tra, kiểm soát vốn đầu tư để uốn nắn, chấn chỉnh nhằm mục tiêu sử dụng
đúng đắn và tiết kiệm các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. Mặt khác, việc kiểm
tra giám sát nguồn vốn ngân sách còn hạn chế tình trạng thất thoát lãng phí, tham
nhũng trong quá trình sử dụng vốn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư. Bên
cạnh đó, qua hoạt động quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà
nước còn hạn chế những khuyết tật, những hạn chế của kinh tế thị trường như cạnh
tranh thiếu lành mạnh trong giao nhận thầu công trình, hủy hoại tài nguyên, môi
trường... Đây là điều kiện để vốn đầu tư phát triển, một nguồn lực quan trọng của
địa phương, của đất nước được sử dụng tốt
- Định hướng cho các hoạt động đầu tư trong nền kinh tế địa phương, thúc
đẩy việc sử dụng các nguồn lực vốn đầu tư xây dựng của một cách hiệu quả.
Ngay ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, các cơ quan chức năng của Nhà nước đã
phải tiến hành thẩm định tính khả thi của việc bố trí các nguồn lực cho vốn đầu tư
xây dựng, đặc biệt là việc bố trí vốn ngân sách nhà nước, xác định địa điểm xây
dựng, nhu cầu sử dụng đất. Giai đoạn thực hiện đầu tư, nhà nước bảo đảm vốn ngân
sách nhà nước và các nguồn lực khác cho thực hiện đầu tư, phối hợp giữa các cơ
quan chức năng để thúc đẩy sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả. Bên cạnh đó,
Nhà nước tiến hành kiểm tra, kiểm soát quá trình vốn đầu tư phát triển để uốn nắn,
chấn chỉnh, nhằm mục tiêu sử dụng đúng đắn và tiết kiệm các nguồn lực. Vốn ngân


18



19

1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ

nguồn vốn ngân sách

Do những khó khăn và phức tạp trong quản lý, sử dụng, nên việc quản lý đầu
tư XDCB từ nguồn NSNN phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
- Quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN phải tiết kiệm, hiệu quả bởi
nguồn lực thì hữu hạn mà nhu cầu thì vô cùng. Trong điều kiện Ngân sách cũng như
mức độ tích luỹ của nền kinh tế còn thấp thì mỗi đồng vốn bỏ ra đòi hỏi càng phải
thực sự hiệu quả.
- Công khai minh bạch. Quản lý đầu tư XDCB từ NSNN là tài sản của dân mà
Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Do vậy, người dân có quyền được biết Nhà nước
đã chi tiêu thế nào để thuận lợi cho việc theo dõi, giám sát. Công khai minh bạch ở
đây là công khai việc phân bổ vốn đầu tư hàng năm cho các dự án đầu tư; công khai
về tổng mức đầu tư, tổng dự toán được duyệt, kết quả lựa chọn nhà thầu, số liệu
quyết toán,...
- Tập trung thống nhất. Đầu tư XDCB từ NSNN cần có sự tập trung ưu tiên
cho các công trình trọng tâm, trọng điểm Quốc gia. Theo nguyên tắc này, Nhà nước
cần có thứ tự ưu tiên cho các dự án. Việc sắp xếp thứ tự ưu tiên phụ thuộc vào điều
kiện cũng như mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ.
- Phân định rõ chức năng quản lý của Nhà nước và chức năng sản xuất kinh
doanh, phân cấp quản lý về đầu tư xây dựng phù hợp với từng loại nguồn vốn đầu
tư và chủ đầu tư. Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà
nước, của chủ đầu tư, của tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình thực hiện dự án
đầu tư.
- Việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản luôn đi đôi với công tác kiểm tra, giám
sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt phải áp dụng nghiêm các chế tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status