1
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là
: Phạm Minh Tuấn
Sinh ngày
: 27/08/1991
Nơi sinh
: Hà Nội
Học viên lớp
: CH19B-Kế toán
Khóa 2014-2015
: Trường Đại Học Thương
Mã số
: 63 34 03 01
Mại
Tôi xin cam đoan:
1. Luận văn thạc sỹ kinh tế “Kế toán chi phí và
ty cổ phần Tư vấn xây dựng công trình Hàng hải đã
nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài
một cách tốt nhất.
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo
TS. Hà Thị Thúy Vân - người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian
nghiên cứu đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thành nội dung nghiên
cứu bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên
luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất
mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của các thầy,
cô và các đồng nghiệp để hoàn thiện hơn nữa luận văn của
mình.
Trân trọng cám ơn!
Hà Nội ngày
2015
tháng
năm
4
Học viên
Phạm Minh Tuấn
MỤC LỤC
6
chuyên ngành kế toán của tác giả Trịnh Thị Tuyết Nga - Đại
học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (năm 2009) đã đi sâu vào nghiên
cứu công tác kế toán chi phí tại công ty Cổ phần Tư vấn Thiết
Kế GTVT Phía Nam. Đề tài đã đưa ra một số giải pháp nhằm
hoàn thiện và khắc phục các hạn chế của kế toán chi phí tại
Công ty như hoàn thiện phân loại chi phí, xây dựng kế toán chi
phí dựa trên mức độ hoạt động, xây dựng hệ thống báo cáo
phục vụ kiểm soát phí, xác định chi phí mục tiêu, và thiết kế
phần mềm kế toán chi phí áp dụng thống nhất trong Công ty.
Đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ
phần tư vấn thiết kế xây dựng Bình Định” Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành kế toán của tác giả Nguyễn Hoàng Nghiêm –
Đại học Đà Nẵng (năm 2012) đã nghiên cứu những vấn đề cơ
bản về kế toán quản trị chi phí cả về lý luận và thực tiễn tại
Công ty CP Tư vấn Thiết kế Xây dựng Bình Định nhằm đạt
mục tiêu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty, các
giải pháp này tập trung vào vấn đề phân loại chi phí, lập dự
toán chi phí, tập hợp chi phí và tính giá thành, phân tích biến
động chi phí,...
Luận án tiến sĩ "Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh
nghiệp Xây lắp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Việt Nam" của tác giả Nguyễn Quang Hưng - Trường Học Viện
Tài Chính (năm 2013) đã hệ thống hóa và làm rõ thêm các
vấn đề lý luận về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Các vấn đề
2. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, việc xây dựng cở sở hạ tầng và các công trình giao
thông ngày càng đóng vai trò to lớn và kéo theo đó là sự phát
triển mạnh mẽ của dịch vụ tư vấn thiết kế xây dựng. Tư vấn
thiết kế có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đầu tư xây
dựng một công trình, đăc biệt là các dự án lớn. Dịch vụ tư vấn
thiết kế cung cấp những thông tin quan trọng, những giải
pháp sáng tạo, những tính toán tối ưu nhằm đảm bảo thành
công cho toàn bộ dự án. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng
gay gắt giữa các doanh nghiệp trong ngành tư vấn thiết kế,
đặc biệt là cạnh tranh về giá đấu thầu thì các thông tin về chi
phí và giá thành dịch vụ là căn cứ quan trọng để các nhà
quản trị ra quyết định. Chính vì vậy, kế toán chi phí và giá
thành với nhiệm vụ chính là ghi chép và cung cấp thông tin
một cách kịp thời và chính xác sẽ góp phần đáng kể vào sự
thành công của doanh nghiệp.
Là một doanh nghiệp hoạt động trong ngành tư vấn thiết
kế công trình giao thông, Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng
công trình Hàng hải (CMB) cũng đang chịu sự canh tranh gay
gắt đến từ các đối thủ cả trong và ngoài nước. Vì vậy các
thông tin về chi phí và giá thành dịch vụ được Công ty hết sức
quan tâm. Giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm
dịch vụ là mục tiêu quan trọng được ban lãnh đạo Công ty hết
sức coi trọng. Do vậy, hệ thống kế toán chi phí giá thành phải
được tổ chức phù hợp với đặc điểm sản phẩm, đặc thù của
9
tài tập trung nghiên cứu việc tuân thủ những qui định của chuẩn mực và chế
độ kế toán doanh nghiệp hiện hành về kế toán chi phí và giá thành của đơn vị;
tìm ra những hạn chế, bất cập trong kế toán chi phí và giá thành dịch vụ tại
đơn vị khảo sát, trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm giải
quyết vấn đề.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán chi phí và giá thành dịch vụ tư vấn thiết kế
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các nghiệp vụ phát sinh chủ
yếu trong năm tài chính 2014.
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện tại trụ sở Hà Nội của
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng công trình Hàng hải.
+ Về nội dung: Đề tài nghiên cứu trên phương diện kế toán tài chính là
chủ yếu nhưng đồng thời cũng vận dụng kế toán quản trị trong việc lựa chọn
các tiêu thức phân bổ khi tính giá thành sản phẩm và cung cấp thông tin.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp có sẵn:
Tìm kiếm, nghiên cứu các tài liệu kế toán như: Chế độ kế toán doanh
nghiệp của Việt Nam, chuẩn mực kế toán, các quyết định, thông tư hướng
dẫn, chuẩn mực kế toán quốc tế, các giáo trình kế toán… Sưu tầm, nghiên cứu
các bài viết, các ý kiến trao đổi của các chuyên gia trên sách, báo, tạp chí,
internet…
Phương pháp điều tra thực tế:
11
Trực tiếp đến công ty để thu thập các chứng từ, tài liệu cảu Công ty
phục vụ cho đề tài như bộ máy tổ chức, quy trình thực hiện dịch vụ, quy chế
7. Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu gồm phần mở đầu và 3 chương:
Phần mở đầu: Thể hiện tổng quan tình hình nghiên cứu về kế toán chi
phí và giá thành dịch vụ của Việt Nam trong thời gian qua, tính cấp thiết đề tài
nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và
phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đè tài.
Chương 1: Lí luận chung về kế toán chi phí và giá thành trong doanh
nghiệp dịch vụ.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí và giá thành dịch vụ tại Công ty
cổ phần Tư vấn xây dựng công trình Hàng hải.
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí và giá thành
tại Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng công trình Hàng hải.
13
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ GIÁ
THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ
1.1. Một số vấn đề chung về chi phí và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
dịch vụ
1.1.1. Khái niệm, phân loại chi phí
1.1.1.1. Khái niệm
Trong doanh nghiệp, chi phí kinh doanh là một phạm trù rất rộng bao
gồm các loại chi phí phát sinh liên quan đến các hoạt động sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, và các hoạt động khác.
Theo giáo trình Kế toán tài chính (tái bản năm 2010) của Học viện tài
chính do GS. TS Ngô Thế Chi và TS. Trương Thị Thủy chủ biên, “chi phí
của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao
động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh, và tính cho một kỳ nhất định”. Trong
chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay
chưa".
Như vậy, từ các khái niệm về chi phí trên ta có thể thấy bản chất chi phí
của doanh nghiệp là những tiêu hao về nguồn lực như tài nguyên, vật chất,
sức lao động… đã hoặc có khả năng tương đối chắc chắn sẽ được sử dụng
trong quá trình sản xuất kinh doanh và được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào để tiến hành hoạt động cũng đều phải có đủ 3
yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Sự tiêu hao các
yếu tố này trong quá trính sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương
ứng. Các loại chi phí này phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình sản
xuất kinh doanh, nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất. Tính
đa dạng của nó gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của các loại hình sản xuất
15
kinh doanh khác nhau, các công nghệ sản xuất khác nhau và sự phát triển
không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Chẳng hạn như đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thì chi phí tiền lương, tiền công luôn
chiếm tỉ trọng cao vì đặc thù lao động trí óc là chủ yếu.
Quá trình tiêu hao các nguồn lực để tiến hành sản xuất kinh doanh cũng
chính là quá trình phát sinh các chi phí hay nói cách khác đó là quá trình
chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào các đối tượng tính giá nhất định trong
suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu về chi phí chúng ta cũng cần phải xem xét và phân biệt
được sự khác nhau giữa khái niệm chi phí và chi tiêu của doanh nghiệp. Chi
tiêu của doanh nghiệp là các khoản tiền chi ra không kể các khoản đã dùng
vào việc gì và dùng như thế nào. Trong khi đó chi phí bao gồm những hao phí
về tài sản và lao động có liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập để
hình thành nên lợi nhuận của kỳ hạch toán chứ không phải mọi khoản chi ra
được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả
trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công
nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến
việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất
như: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí công cụ, dụng cụ,
chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ và quản lý sản
xuất ở phân xưởng sản xuất.
Chi phí ngoài sản xuất: các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản
xuất như hoạt động tiêu thụ sản phẩm, quản lý doanh nghiệp và các hoạt động
khác.
Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh
trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ. Loại chi phí này
có: chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân
17
viên bán hàng và chi phí khác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ sản phẩm,
hàng hóa.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc
phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp.
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật
liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung toàn
Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản
xuất và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí:
Chi phí trực tiếp: là chi phí có thể tách biệt phát sinh một cách riêng biệt
cho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp như một sản phẩm ở doanh
nghiệp sản xuất.
Chi phí gián tiếp: là chi phí chung hay chi phí kết hợp không có liên
quan tới hoạt động cụ thể nào mà liên quan cùng lúc tới nhiều hoạt động,
nhiều công việc.
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định các phương pháp kế
toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp lý
và cũng qua đó cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để có những quyết
sách kịp thời và đúng đắn có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
•
Phân loại chi phí theo yếu tố:
Cách phân loại chi phí này có tác dụng giải trình kết quả sản xuất kinh
doanh trong kỳ kế toán, được trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính
phục vụ cho yêu cầu thông tin và quản trị doanh nghiệp. Theo cách phân loại
này, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành:
Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Là toàn bộ giá trị các loại nguyên vật
liệu chính, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu xây dựng cơ bản…..mà
19
doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất.
Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền lương, tiền công phải trả, tiền trích
Để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình, doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí đã chi ra cho từng loại
hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ là bao nhiêu, tỷ trọng từng loại chi
phí, khả năng hạ thấp các loại chi phí này... Chỉ tiêu thỏa mãn được những
thông tin mang các nội dung trên chính là giá thành sản phẩm.
Theo giáo trình “Kế toán tài chính” (năm 2010) của Trường Đại học
Thương mại do TS. Nguyễn Tuấn Duy và TS. Đặng Thị Hòa làm chủ biên,
“Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất tính cho
một khối lượng sản phẩm (công việc, lao vụ) nhất định đã hoàn thành”.
Theo giáo trình “Kế toán tài chính” (năm 2010) của Học viện tài chính
do GS. TS Ngô Thế Chi và TS. Trương Thị Thủy chủ biên, “giá thành sản
xuất sản phẩm được xác định bao gồm những hao phí về lao động sống và
lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành
một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định”.
Theo giáo trình “Kế toán chi phí giá thành” (năm 2009) của TS. Phan
Đức Dũng, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, “Giá thành sản phẩm là chi
phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm hoàn thành. Giá thành đơn
vị sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một đơn vị thành phẩm.”
Từ các khái niệm trên có thể thấy giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu
mang tính giới hạn và xác định, là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả
sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh, là cơ sở để xác
định giá bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ, là căn cứ quan trọng để các nhà
quản trị doanh nghiệp ra quyết định về chiến lược kinh doanh của doanh
21
nghiệp.
Về mặt bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là biểu
hiện hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì
•
Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá
thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành ba loại sau:
- Giá thành sản phẩm kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính toán
trên cơ sở chi phí kế hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch. Giá thành kế
hoạch bao giờ cũng được tính toán trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trong một thời kỳ. Giá thành sản phẩm kế hoạch là mục tiêu
phấn đấu trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó còn là căn cứ để so
sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành sản phẩm định mức: Giá thành sản phẩm định mức là giá
thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ
tính cho một đơn vị sản phẩm. Định mức chi phí được xác định trên cơ sở các
định mức kinh tế-kỹ thuật của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Giá
thành sản phẩm định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Giá thành sản phẩm thực tế: Giá thành sản phẩm thực tế là giá thành
sản phẩm được tính toán và xác định trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế
phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như số lượng sản phẩm thực tế đã
sản xuất và tiêu thụ trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được khi
kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và được tính toán cho cả chỉ tiêu
tổng giá thành và giá thành đơn vị. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử
23
dụng các giải pháp kinh tế, kỹ thuật, tổ chức và công nghệ... để thực hiện quá
•
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01) các nguyên tắc kế toán
có ảnh hưởng đến kế toán chi phí và giá thành sản phẩm:
- Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của
doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu,
doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không
căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương
tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính
của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Như vậy, mọi chi phí của doanh nghiệp phải được ghi nhận tại thời
điểm phát sinh, không căn cứ vào dòng tiền ra và vào doanh nghiệp.
- Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc
của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả
hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận.
Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn
mực kế toán cụ thể.
Như vậy các chi phí ghi nhận khi xuất dùng nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ hay khấu hao tài sản cố định đều bị ảnh hưởng bởi nguyên tắc giá
gốc.
- Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh
nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm.
Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải
trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài
chính.
Nguyên tắc nhất quán đảm bảo cho việc ghi nhận các yếu tố chi phí một
cách hợp lý, không tạo nên các thay đổi bất thường trong giá thành sản phẩm
và nếu có thì phải có giải trình đảm bảo cho việc cung cấp thông tin minh