Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
1
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
Chương I Tổng quan nghiên cứu đề tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1.1.1 Về góc độ lý thuyết:
Chúng ta biết rằng, một trong những yếu tố cần thiết đem lại thành công cho doanh nghiệp đó là khâu
quản lý. Không những yêu cầu quản lý tốt vể mặt tình hình chung mà còn cả đối với mặt cụ thể diễn ra trong
quá trình hoạt động kinh doanh. Trong đó yêu cầu đối với chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đóng vai
trò quan trọng vì chúng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, do đó chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm phải được quản lý chặt chẽ, linh hoạt từ khâu lập dự toán, trong giai đoạn phát sinh đến khi
tôngr hợp cuối kỳ để vừa đầu tư chi phí hợp lý - cơ sở để tính giá thành sản phẩm vừa có thể đem lại lợi nhuận
cho doanh nghiêp.
Trong công tác quản lý chi phí vận tải và quản lý giá thành sản phẩm vận tải, kế toán là một trong những
công cụ quản lý kinh tế quan trọng. Thông qua việc phản ánh ghi chép, tính toán và kiểm tra của kế toán, đã
cung cấp kịp thời những thông tin kinh tế cho người quản lý doanh nghiệp về tình hình chi phí vận tải. Từ đó
người quản lý doanh nghiệp phải giám sát được những chi phí chi ra, hạn chế tới mức thấp nhất những chi phí
bất hợp lý. Mặt khác thông qua số liệu của kế toán giúp cho các bộ phận chức năng quản lý và các cán bộ công
nhân viên trong doanh nghiệp nắm bắt được việc thực hiện các định mức chi phí và tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành sản phẩm, những tổn thất và lãng phí phát sinh trong quá trình kinh doanh để doanh nghiệp có
biện pháp phấn đấu giảm giá thành sản phẩm.
1.1.2 Về góc độ thực tế
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
1
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
Từ kết quả khảo sát thực tế tại công ty vận tải Biển Đông, 8/8 phiếu điều tra đều nhận định rằng công
tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm dịch vụ vận tải của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn. Một điều khó
khăn đối với các nhà quản trị đó là công ty có nhiều kiểu tàu khác nhau, số năm sử dụng khác nhau, tuyến tàu
khác nhau. Mà khoản mục giá thành vận tải biển lại lại khá nhiều nên công việc tính toán đưa ra định mức khá
nói chung được quyền tự chủ tài chính, tiến hành hoạt động kinh doanh theo chế độ hạch toán kinh tế và chịu
sự tác động của các quy luật trong nền kinh tế thị trường như: quy luật cung - cầu, quy luật lưu thông tiền
tệ,..Các loại hình doanh nghiệp vận tải thuộc các thành phần kinh tế ngày càng phát triển đa dạng, phong phú,
tạo nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ngày càng tăng, tốc độ phát
triển vận tải ngày càng cao, chất lượng phục vụ ngày càng tốt hơn.
Tuy nhiên, sự phát triển của các doanh nghiệp vận tải biển hiện nay còn khá khiêm tốn. Thực tế giá thành
vận tải vẫn còn cao, làm cho giá cước vận tải cũng phải tăng cao tương ứng đã làm hạn chế sự phát triển của
vận tải. Để dịch vụ vận tải phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm với thời gian ngắn nhất, giá thành thấp nhất và kết
quả hoạt động kinh doanh cao nhất các doanh nghiệp vận tải phải không ngừng đầu tư vốn để có quy mô
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
3
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
tương đối lớn về số lượng phương tiện hiện đại, phản ánh thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ, để lập và chọn
phương án tổ chức vận chuyển ngày một tối ưu nhất. Doanh nghiệp vận tải là một doanh nghiệp sản xuất đặc
biệt, không sản xuất ra những sản phẩm có hình thái vật chất.
Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp vận tải có những đặc điểm cơ bản sau:
- Sản phẩm của doanh nghiệp vận tải biển là quá trình dịch vụ vận chuyển hàng hóa, do vậy quá trình
sản xuất và tiêu thụ đồng thời diễn ra, sản phẩm không có hình thái vật chất cụ thể, không có sản phẩm làm
dở.
- Phải quản lý quá trình kinh doanh thành nhiều khâu trực tiếp giao dịch, hợp đồng và thanh toán với
khách hàng, phục vụ khách hàng,…
- Có phạm vi quản lý trên địa bàn rộng, đối tượng quản lý đa dạng nhân viên chủ yếu làm việc ngoài
doanh nghiệp một cách độc lập, lưu động.
- Các doanh nghiệp vận tải biển thường có nhiều loại tàu khác nhau, nhiều nhãn hiệu khác nhau, các
tuyến tàu khác nhau. Do đó yêu cầu quản lý phương tiện cũng khác nhau.
Chính những đặc điểm như vậy đã tác động đến công tác tổ chức kế toán vì vậy thường thì các doanh
nghiệp vận tải phải tổ chức công tác kế toán theo hình thức tập trung.
1.5.2.2 Đặc điểm cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh vận tải
Để tiết kiệm chi phí, nâng cao tính tự chủ trong kinh doanh nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất với chi phí
thấp nhất thì cơ chế quản lý trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải thực hiện theo “ chế độ khoán” như
phẩm mang lại cho khách hàng là kết quả của lao động sống chiếm phần lớn. Khối lượng và chất lượng của
các loại dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố con người: kinh nghiệp trình độ nghiệp vụ, ý thức tổ chức
kỷ luật của người lao động, mức độ thích hợp của nhân viên cho một công việc cụ thể. Bên cạnh những điều
kiện vật chất như: mức độ trang bị, tiện nghi của cơ sở kinh doanh dịch vụ thì vai trò của yếu tố con người
quyết định căn bản đến kết quả kinh doanh dịch vụ.
Tóm lại, chi phí mà doanh nghiệp chi ra để cấu thành nên sản phẩm bao gồm: toàn bộ giá trị tư liệu sản
xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ, chi phí tiền lương, tiền công thanh toán cho người lao
động tham gia vào hoạt động kinh doanh tạo ra sản phẩm dịch vụ, giá trị mới do lao động sống tạo ra trong
quá trình kinh doanh dịch vụ.
Đứng trên góc độ doanh nghiệp, để tiến hành hoạt động kinh doanh tạo ra sản phẩm thì doanh nghiệp phải
bỏ ra hai bộ phận là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ và tiền
công, tiền lương phải thanh toán cho người lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh tạo ra sản phẩm.
Như vậy: Chi phí kinh doanh dịch vụ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật
hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp dịch vụ phải chi ra để tiến hành hoạt động kinh doanh dịch
vụ trong một kỳ nhất định.
1.5.2.2 Nhóm khái niệm về giá thành dịch vụ
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
6
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
• Khái niệm giá thành
Quá trình sản xuất trong các DNSX luôn luôn tồn tại hai mặt đối lập nhau nhưng có quan hệ mật thiết
với nhau, đó là: các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra và kết quả sản xuất thu được - sản phẩm, công việc
hoàn thành. Như vậy doanh nghiệp phải tính được chi phí đã bỏ ra để sản xuất được sản phẩm.
Vậy: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất cho một khối lượng sản phẩm ( công
việc, lao vụ ) nhất định đã hoàn thành.
Qua khái niệm trên chúng ta có thể thấy giá thành là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản
xuất của doanh nghiệp.
• Khái niệm về giá thành sản phẩm dịch vụ
Từ khái niệm giá thành sản phẩm ở trên chúng ta có khái niệm về giá thành sản phẩm dịch vụ như sau:
- L ương lái xe và lương phụ xe
- K hoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
8
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
- N hiên liệu, động lực
- V ật liệu
- K hấu hao phương tiện vận tải: C ác tàu
- S ửa chữa thường xuyên phương tiện vận tải
- C hi phí dịch vụ mua ngoài
- C hi phí thuê tàu
- C hi phí công cụ, dụng cụ
- C hi phí khác.
Ý nghĩa: phân loại chi phí theo công dụng, trước hết nhằm mục đích quản lý chi phí theo từng khoản
mục của sản phẩm, phát hiện khả năng tiềm tàng để hạ giá thành sản phẩm, giúp cho việc phân tích hoạt động
kinh doanh trong doanh nghiệp. Phân loại theo công dụng còn xuất phát từ thực tế khách quan là chi phí phát
sinh cho vận tải và quản lý không phải bao giờ cũng có thể hạch toán được một cách trực tiếp cho từng đối
tượng chịu chi phí mà có thể phân bổ gián tiếp. Thực tế cho thấy, trình độ quản lý nói chung và trình độ tổ
chức hạch toán chi phí, giá thành càng cao, tổ chưc hạch toán kinh tế nội bộ càng chặt chẽ thì số lượng khoản
mục chi phí càng cần phải tinh giản.
c. T heo quá trình tập hợp chi phí.
Theo tiêu thức phân loại này, chi phí vận tải được phân chia thành chi phí trực tiếp và chi phí chung.
Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng tập hợp chi phí như một loại sản
phẩm, lao vụ hay một địa điểm kinh doanh nhất định. Trong doanh nghiệp vận tải biển, đó là các khoản chi phí
nhiên liệu, chi phí tiền lương lái tàu , chi phí khấu hao phương tiện.
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
9
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
Chi phí chung: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí như nhiều loại sản phẩm,
lao vụ hoặc nhiều địa điểm kinh doanh khác nhau. Các chi phí này không tập hợp được trực tiếp cho từng đối
Chi phí trực tiếp là những chi phí có liên quan trực tiếp đến đối tượng hạch toán. Do đó, hàng ngày khi
chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng nào thì kế toán căn cứ vào chứng từ để ghi trực tiếp vào tài khoản
hạch toán đối tượng đó. Áp dụng phương pháp này đòi hỏi việc ghi chép ban đầu phải theo đúng đối tượng. Từ
đó tập hợp số liệu và ghi trực tiếp vào tài khoản hoặc sổ chi tiết theo đúng đối tượng tập hợp chi phí, áp dụng
phương pháp này mức độ chính xác rất cao.
Phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp:
Đối với doanh nghiệp vận tải vừa làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, vừa làm nhiệm vụ vận chuyển
hành khách thì một số khoản chi phí nếu không chi trực tiếp cho từng đối tượng phải dùng phương pháp phân
bổ gián tiếp. Theo phương pháp này, tổng hợp số liệu từ chứng từ kế toán phản ánh những chi phí liên quan
đến nhiều đối tượng theo địa điểm phát sinh chi phí hoặc theo nội dung chi phí. Sau đó lựa chọn tiêu thức phù
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
11
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
hợp để tính toán, phân bổ chi phí đã tập hợp được cho từng đối tượng chịu chi phí có liên quan. Trình tự phân
bổ như sau:
Bước 1: căn cứ vào chi phí vận tải đã tập hợp chung cho các đối tượng, chọn tiêu thức phân bổ hợp lý, xác
định hệ số phân bổ theo công thức:
H=
T
C
H: Hệ số phân bổ chi phí
C: Tổng chi phí cần phân bổ
T: Tổng số đơn vị tiêu thức phân bổ
Bước 2: phân bổ chi phí vận tải cho từng đối tượng liên quan
C
n
= H
×
T
n
b. T heo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành .
Căn cứ vào số liệu thời và điểm tính giá thành, giá thành sản phẩm dịch vụ được chia làm 3 loại:
Một là: Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm dịch vụ được tính trên cơ sở chi phí kế hoạch và sản
lượng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận của doanh nghiệp thực hiện. Giá thành kế hoạch là
mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp, làm căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
13
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
Hai là: Giá thành định mức là giá thành sản phẩm dịch vụ được tính trên cơ sở định mức chi phí hiện hành
và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp là thước
đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư lao động trong kinh doanh.
Ba là: Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là giá thành sản phẩm dịch vụ được tính trên cơ sở số liệu chi
phí thực tế đã được phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như số lượng sản phẩm thực tế đã tiêu thụ trong
kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán cho cả chỉ tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị.
1.5.3.2.2 Đối tượng tính giá thành dịch vụ vận tải.
Việc xác định đối tượng tính giá thành cũng là công việc đầu tiên của công tác tính giá thành sản
phẩm. Nhưng khác với đối tượng tập hợp chi phí, việc xác định đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán
mở các phiếu tính giá thành sản phẩm, tổ chức công tác tính giá thành theo từng đối tượng, phục vụ cho việc
kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, tính toán hiệu quả kinh tế, xác định chính xác kết quả kinh
doanh và phát hiện khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp.
Đối tượng tính giá thành vận tải cũng phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh, yêu cầu và trình
độ quản lý của doanh nghiệp. Trong đó, đối tượng tính giá thành vận tải hàng hóa là tấnkm - hàng hóa luân
chuyển,đối tượng tính giá thành vận tải hành khách là ngườikm - hành khách luân chuyển.
1.5.3.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành sản phẩm dịch vụ
Chi phí kinh doanh dịch vụ và giá thành sản phẩm dịch vụ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chi phí
kinh doanh dịch vụ là cơ sở để tính toán, xác định giá thành sản phẩm dịch vụ. Chi phí kinh doanh dịch vụ và
giá thành sản phẩm dịch vụ đều là những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra. Việc sử dụng tiết kiệm chi phí kinh
doanh dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm dịch vụ. Tuy vậy chúng có sự khác nhau:
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
nhận vào chi phí dịch vụ vận tải, trong kỳ kinh doanh.
Theo VAS 16 - Chi phí đi vay, chi phí đi vay phải ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ khi
phát sinh, trừ khi được vốn hóa theo quy định.
a. Chứng từ kế toán.
Để phục vụ việc ghi sổ kế toán chi phí sản xuất, kế toán sử dụng các chứng từ sau: phiếu xuất kho, hóa
đơn GTGT, hóa đơn bán hàng thông thường, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, bảng thanh toán tiền
lương và các khoản trích theo lương( BHYT,BHXH, BHTN,KPCĐ), các chứng từ tự lập khác.
b. Vận dụng tài khoản kế toá n
• Tài khoản kế toán
Kế toán nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng TK 621 “chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp”. Tài khoản này
dùng để phản ánh chi phí nhiên liệu dùng vào kinh doanh vận tải.
Kết cấu TK 621 “ Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp”
Bên nợ: phản ánh trị giá nhiên liệu, vật liệu dùng vào sản xuất kinh doanh vận tải.
Bên có: - Các khoản giảm chi phí theo quy định
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
16
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
- Kết chuyển chi phí nhiên liệu, vật liệu vào TK 154 hoặc TK 631 để tính giá thành sản phẩm.
TK 621 không có số dư cuối kỳ.
Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 - chi phí nhân công trực tiếp. Tài khoản
này dùng để phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Kết cấu TK 622
Bên nợ: - Tiền lương phả trả cho lái tàu, phụ tàu
- Khoản trích BHYT, BHXH,BHTN, KPCĐ.
Bên có: - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154 hoặc TK 631 để tính giá thành sản phẩm.
TK 622 cuối kỳ không có số dư.
Kế toán chi phí sản xuất chung thực hiện trên TK 627 - chi phí sản xuất chung. Tài khoản 627 dùng để
phản ánh những chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình chế tạo sản phẩm.
Kết cấu TK 627
Bên nợ: Tập hợp các khoản chi phí sản xuất chung như chi phí nhân viên quản lý đội tàu, chi phí khấu hao
18
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
Trong đó: Nghiệp vụ 1: Vật liệu xuất kho sử dụng trực tiếp cho dịch vụ vận tải.
Nghiệp vụ 2a : Mua nguyên vật liệu không qua kho sử dụng cho dịch vụ vận tải.
Nghiệp vụ 2b : Thuế GTGT khi mua nguyên vật liệu
Nghiệp vụ 3 : Trị giá nguyên liệu, vật liệu xuất kho sử dụng trong kỳ cho dịch vụ vận tải ( theo phương
pháp kiểm kê định kỳ).
Nghiệp vụ 4 : Vật liệu không sử dụng hết cho sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ cuối kỳ nhập lại kho.
Nghiệp vụ 5 : Cuối kỳ, tính phân bổ và kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng
tập hợp chi phí ( theo phương pháp kê khai thường xuyên).
Nghiệp vụ 6: Chi phí nguyên vật liệu vượt trên mức bình thường
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
111,112, 141, 331…
133
(2a)
(2b)
611
(3)
154
(5)
632
(6)
631
(7)
19
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
Nghiệp vụ 7: Cuối kỳ, tính, phân bổ và kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng
tập hợp chi phí ( theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp như sau:
Trong đó: Nghiệp vụ 1: Chi phí nhân viên
Nghiệp vụ 2: Chi phí vật liệu, công cụ
Nghiệp vụ 3: Chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ.
Nghiệp vụ 4: Chi phí phân bổ dần, chi phí trích trước.
Nghiệp vụ 5a : Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
627
334,338
(1)
111,112,152
(6)
152, 153
(2)
214
(3)
142,242, 335
(4)
111, 112, 331
5a
133
154
(7)
631
(8)
632
(9)
5b
22
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
Nghiệp vụ 5b : Thuế GTGT của chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
vận tải
phát sinh
trong kỳ
Giá trị nhiên
liệu còn ở
phương tiện
cuối kỳ
+ -
23
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Thương Mại
b. Phương pháp tính giá thành theo định mức
Phương pháp tính giá thành vận tải theo định mức thường áp dụng với các doanh nghiệp vận tải đã xây
dựng được hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật ổn định và hợp lý, chế độ quản lý theo định mức đã được hoàn
thiện, thực hiện tốt chế độ hạch toán ban đầu.
Phương pháp này đòi hỏi thực hiện những bước sau:
- Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí được duyệt để tính giá thành cho
hoạt động vận tải.
- Quản lý chặt chẽ chi phí định mức, chênh lệch thoát ly định mức, phân tích các nguyên nhân gây thoát ly
định mức.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống định mức chuẩn, khi có sự thay đổi định mức phải kịp thời tính toán lại
giá thành định mức và số chi phí chênh lệch do thoát ly định mức.
c. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
SV: Nguyễn Thị Bình K43D4
Giá thành đơn vị
sản phẩm vận tải
Tổng giá thành sản phẩm vận tải
Khối lượng vận tải hoàn thành
=