Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
LỜI NÓI ĐẦU
------- -------
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới-WTO đánh dấu một sự
chuyển biến mang tính bước ngoặt đối với nền kinh tế. Bước vào một “sân
chơi mang tính quốc tế” vừa là cơ hội để Việt Nam vươn mình ra khỏi phạm
vi khu vực, mang Việt Nam đến với bạn bè quốc tế, đồng thời cũng là một
thách thức lớn đòi hỏi phải có sự vận động một cách toàn diện đối với tất cả
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Vì vậy vấn
đề đặt ra là làm thế nào để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả?
Để thực hiện được mục tiêu trong các doanh nghiệp cần đặt ra cho mình
1 phương hướng hoạt động sao cho hợp lý và có hiệu quả để có thể cạnh tranh
trên thị trường. Cạnh tranh đơn thuần không chỉ là cạnh tranh về chất lượng
mà còn cạnh tranh về giá cả. Vì vậy vấn đề hạ chi phí, hạ giá thành sản phẩm
luôn được đặt lên hang đầu đối với mọi doanh nghiệp. Vấn đề này không còn
là vấn đề mới mẻ nhưng nó luôn là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm.
Vì lí do này hay lí do khác các doanh nghiệp cần có các biện pháp để đạt
được mục tiêu giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo chất
lượngđể tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường.
Việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh
nghiệp có ý nghĩa lớn trong công tác quản lý chi phí và giá thành. Đứng trước
những thách thức đó nhà nước ta đã có nhiều biện pháp như cải cách bộ máy
hành chính, tạo điều kiện thông thoáng cho các nhà đầu tư và tạo ra hành lang
pháp lý thống nhất. Đây là một trong những điều kiện cho các doanh nghiệp
có điều kiện phấn đấu hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đó là một
trong những điều kiện hết sức quan trọng để sản phẩm của doanh nghiệp được
thị trường chấp nhận và có sức cạnh tranh trên thị trường.
Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài” kế toán tập hợp chi
vụ tốt cho công việc nghiên cứu
-Phương pháp hạch toán kế toán:
+Phương pháp chứng từ và kiểm kê.
+Hệ thống tài khoản và ghi sổ kép
+Phương pháp bảng biểu cân đối
-Phương pháp hoạt động kinh tế:
+Phương pháp chỉ số: bằng phương pháp này ta có thể kiểm tra được sự
tăng giảm của một yếu tố giữa các kỳ là bao nhiêu phần trăm là do nguyên
nhân nào gây ra.
+Phương pháp so sánh thống kê: cho biết sự chênh lệch giữa các kỳ từ đó
có hướng đầu tư phát triển.
5. Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1:Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
nhà máy cán thép Thái Nguyên
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại nhà máy cán thép Thái Nguyên
CHƯƠNG 1
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Nguyên tắc kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các
trong thời kỳ của tất cả các TSCĐ sử dụng cho sản xuất trong phạm vi phân
xưởng như: nhà kho, nhà xưởng, máy móc thiết bị…
-Yếu tố chi phí công cụ dụng cụ: Bao gồm những chi phí liên quan đến
việc sử dụng các công cụ dụng cụ, các trang thiết bị về an toàn lao động.
-Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Là những chi phí về dịch vụ mua
ngoài phải trả trong kỳ phục vụ cho hoạt động sản xuất ở phân xưởng như:chi
phí điện, nước, thuê ngoài sửa chữa TSCĐ…
-Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Những chi phí phát sinh bằng tiền phục
vụ cho hoạt động sản xuất ở phân xưởng chưa được kể đến ở các loại trên.
b, Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
Cách phân loại này dựa trên công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất
sản phẩm. Mục đích của cách phân loại này là để tìm ra các nguyên nhân làm
thay đổi giá thành so với định mức và đề ra các biện pháp hạ giá thành sản
phẩm.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất có các loại sau:
-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao
vụ, dịch vụ (có thể bao gồm cả giá thành sản xuất của bán thành phẩm).
-Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lương và các khoản phụ
cấp mang tính chất tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo
sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ cùng với các khoản trích theo tỉ lệ
quy địnhcho các quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ (phần trích tính vào chi
phí).
-Chi phí sản xuất chung: Gồm toàn bộ các chi phí còn lại phát sinh
trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất sau khi đã loại trừ chi phí
thành trong kỳ. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
kết quả sử dụng tài sản, vật tư lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất,
nó còn là căn cứ quan trọng để định giá bán và hiệu quả kinh tế của hoạt động
sản xuất sản phẩm.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng yêu cầu của quản lý, hạch toán giá thành cũng như yêu cầu
xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem dưới nhiều góc độ, nhiều phạm
vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng như trên thực tế, giá thành được phân
theo hai cách chủ yếu sau:
a, Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này chỉ tiêu giá thành được chia thành 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: Là loại giá được xác định trước khi bắt đầu sản xuất của
kỳ kế hoạch dựa trên cơ sở giá thành kì trước và các định mức, các dự toán
chi phí của kỳ kế hoạch. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh
nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm
trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định
trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức luôn biến động phù hợp với sự biến
động của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch
giá thành. Giá thành định mức là thước đo chính xác để xác định kết quả sử
dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các
giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt
động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi
kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát
sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế là căn cứ để kiểm
tra, đánh giá tình hình tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành và xác định kết quả
kinh doanh.
b, Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
quả của quá trình sản xuất đó (kết quả đầu ra).
* Sự giống nhau: Chi phí sản xuất và giá thành có mối quan hệ mật thiết với
nhau và giống nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động sống và lao
động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất và chế tạo
sản phẩm. Chi phí sản xuất là cơ sở, là căn cứ để tính giá thành sản phẩm, lao
vụ, dịch vụ đã hoàn thành.
* Sự khác nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
- Chi phí sản xuất không gắn liền với số lượng chủng loại sản phẩm hoàn
thành, còn giá thành sản phẩm lại liên quan đến khối lượng sản phẩm công
việc hoàn thành.
- Chi phí sản xuất chỉ tính đến những chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ,
không tính đến chi phí đó có liên quan đến số sản phẩm hoàn thành hay chưa.
Giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản xuất liên quan đến khối lượng
sản phẩm công việc đã hoàn thành.
- Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể giống hay khác nhau khi có
hay không có chi phí sản xuất dở dang.
Khi chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ bằng chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng chi phí sản xuất
bằng tổng giá thành sản phẩm.
Trong trường hợp có chi phí chờ phân bổ, chi phí phải trả thì chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm trong kỳ là khác nhau. Nếu trong kỳ có chi phí phát
sinh chi phí chờ phân bổ thì chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí đó, còn
giá thành sản phẩm chỉ bao gồm phần chi phí được phân bổ cho kỳ này. Nếu
trong kỳ có phát sinh chi phí phải trả, đây là các khoản chi phí chưa phát sinh
nhưng được trích trước để tính vào giá thành, nên chi phí sản xuất trong kỳ
không bao gồm khoản này, còn giá thành sản phẩm lại có bao gồm.Mối quan
hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm qua sơ đồ sau :
Chi phí SXKD dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
A B
Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá thành, phương pháp
tính thích hợp.
- Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với đặc điểm của
doanh nghiệp và đúng với chế độ hiện hành.
- Vận dụng phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, phương pháp đánh giá sản
phẩm dở dang và phương pháp tính giá thành cho phù hợp.
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí sản xuất, kế hoạch giá thành
sản phẩm, đề xuất những ý kiến để tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành
sản phẩm.
- Định kỳ cung cấp các báo cáo về CPSX và giá thành cho nhà quản trị.
1.2. Đối tượng kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm
1.2.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là xác định giới hạn
về mặt phạm vi mà chi phí cần được tập hợp để phục vụ cho việc kiểm soát
chi phí và tính giá thành sản phẩm.
- Căn cứ để xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất:
+ Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất: Tuỳ theo việc bố trí nhiệm vụ sản
xuất cho các bộ phận, tổ, đội…để xác định.
+ Căn cứ vào đặc điểm quy trình sản xuất: Tuỳ theo đặc điểm quy trình công
nghệ là quy trình phức tạp hay giản đơn, phức tạp kiểu liên tục, song song hay
hỗn hợp.
+ Căn cứ vào trình độ và yêu cầu về thông tin quản lý…
Mà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là: Loại sản phẩm, nhóm sản
phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn sản xuất, phân xưởng sản xuất…
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở cho việc mở
các tài khoản chi tiết (cấp II, cấp III) và các sổ kế toán chi tiết, phục vụ cho
công tác hạch toán chi tiết chi phí sản xuất cho từng đối tượng và giúp tăng
cường công tác quản lý đến từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
1.2.2. Đối tượng kế toán tính giá thành sản phẩm
Xác định đối tượng tính giá thành là xác định đối tượng mà hao phí vật
bổ được quy định, theo trọng lượng sản phẩm hay số lượng sản phẩm sản xuất
ra...
* Tài khoản sử dụng
- Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt
động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong kỳ sản xuất, kinh doanh, kế
toán sử dụng tài khoản 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Kết cấu TK621:
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
8
xxx
xxx
+ Tập hợp chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp thực tế phát sinh trong kỳ
+ Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp sử
dụng không hết được nhập lại kho
+ Kết chuyển chi chí nguyên vật liệu
trực tiếp vào giá thành – TK154
TK621
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
TK621 không có số dư cuối kỳ.
* Phương pháp hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được thể hiện qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ: Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp
KKTX
Ghi chú:
(1) Xuất kho NVL dùng cho sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ.
(2) Mua NVL dùng ngay vào sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ.
(3) Thuế GTGT được khấu trừ.
111, 112, 331
1331
(3)
632
(7)
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
Trên cơ sở tiền lương được phân bổ sẽ tiến hành trích BHXH, BHYT ,BHTN
và KPCĐ theo tỷ lệ quy định lần lượt là 16%, 3%, 1%,1,5% trên tổng quỹ
lương tính vào chi phí.
* Tài khoản sử dụng
- Để theo dõi tình hình phát sinh chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng
TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp.
- Kết cấu TK622:
TK622 không có số dư cuối kỳ.
* Nội dung hạch toán chi phí nhân công trực tiếp thể hiện theo sơ đồ sau:
Sơ đồ: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp theo phương pháp KKTX
Ghi chú:
(1): Lương phải trả công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, thực hiện
dịch vụ.
(2): Tính BHXH, BHYT, KPCĐ cho công nhân sản xuất, thực hiện dịch
vụ.
(3): Trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất.
(4): Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành.
(5): Phần chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường.
1.3.1.3. Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản
phẩm sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây
là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất của
- Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng tài khoản
627- Chi phí sản xuất chung, mở chi tiết cho từng đối tượng, bộ phận sản
xuất.
- Kết cấu tài khoản 627:
TK627 không có số dư cuối kỳ.
TK627 còn có các TK cấp II để theo dõi chi tiết đối tượng.
+ TK6271: Chi phí nhân viên phân xưởng.
+ TK6272: Chi phí vật liệu.
+ TK6273: Chi phí dụng cụ sản xuất.
+ TK6274: Chi phí khấu hao TSCĐ.
+ TK6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ TK6278: Chi phí bằng tiền khác.
Do chi phí sản xuất chung liên quan đến nhiều loại sản phẩm, lao vụ dịch
vụ nên khi phát sinh chi phí sản xuất chung, kế toán căn cứ vào yếu tố chi phí
tập hợp bên Nợ TK627 rồi tiến hành phân bổ theo tiêu thức thích hợp. Trong
thực tế, một số tiêu thức thường được sử dụng là: Phân bổ chi phí sản xuất
chung theo đinh mức, theo giờ công làm việc, theo số giờ máy làm việc…
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
11
+ Tập hợp chi phí sản xuất
chung thực tế pháp sinh trong
kỳ.
+ Các khoản làm giảm chi phí sản xuất chung.
+ Chí phí sản xuất chung cố định không phân
bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong
kỳ do mức sản xuất sản phẩm thực tế sản xuất
ra thấp hơn công suất bình thường.
+ Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào tài
khoản tính giá thành.
xxx xxx
..
(4)
TK133
TK334,338
(1)
TK152,153,142,242
(2)
TK214
(3)
TK111,112
(6)
(5)
TK111,112,335,142,242
(7)
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
(10): Khoản chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ vào giá thành.
1.3.1.4. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở
dang
a, Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
Sau khi tập hợp các chi phí liên quan đến sản xuất sản phẩm vào bên
Nợ các TK621, TK622, TK627 cần tổng hợp các chi phí đó để tính giá thành
sản phẩm.
Để tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm theo
phương pháp KKTX, kế toán sử dụng tài khoản 154 - Chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang.
Kết cấu TK154:
* Nội dung kế toán tập hợp chi phí sản xuất được thể hiện trong sơ đồ dưới
Trường CĐ KT-TC TN
Sơ đồ: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp KKTX
Ghi chú:
(1): Phân bổ, kết chuyển chi phí NVL trực tiếp.
(2): Phân bổ, kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp.
(3): Phân bổ, kết chuyển chi phí sản xuất chung.
(4): Hàng hoá, vật liệu gia công chế biến hoàn thành nhập kho.
(5): Sản phẩm hoàn thành nhập kho.
(6): Hàng gửi bán.
(7): Sản phẩm, dịch vụ hoàn thành tiêut hụ ngay.
(8): Khoản chi phí SXC cố định không phân bổ vào giá thanh sản phẩm.
b, Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến,
còn đang nằm trong quá trình sản xuất hoặc đã hoàn thành một vài quy trình
chế biến nhưng cong phải gia công chế biến tiếp mới trở thành thành phẩm.
Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá sản phẩm dở dang, việc sử
dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất, quy trình sản xuất
và tính chất của sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Sau đây là một số phương
pháp đánh giá sản phẩm dở dang:
* Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL trực tiếp
Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí chế biến được tính hết cho
thành phẩm vì vậy, trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị vật liệu chính
mà thôi.
Giá trị SP
dở dang
cuối kỳ
=
Giá trị SP dở dang đầu kỳ + Chi phí
NVLTT phát sinh trong kỳ
(%) mức độ hoàn thành của những sản phẩm làm dở. Vì vậy nhược điểm của
phương pháp này là còn mang tính chủ quan.
* Đánh giá sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến
Đây là trường hợp đặc biệt của phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
theo sản lượng hoàn thành tương đương. Trong phương pháp này người ta coi
mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang là 50% so với thành phẩm. Việc
xác định giá trị sản phẩm dở dang được thực hiện tương tự như phương pháp
ước tính sản lượng tương đương.
Chi phí nguyên vật liệu chính được tính theo mức tiêu thụ thực tế. Các
chi phí chế biến được tính bằng 50% chi phí chế biến phân bổ cho sản phẩm
và được xác định theo công thức sau:
Chi phí chế
biến nằm trong
SPDD
=
Giá trị SPDD của chi phí chế
biến ĐK + Chi phí chế biến
phát sinh trong kỳ
x
Số lượng
SPDD cuối
kỳ
x 50%
Số lượng SP hoàn thành + Số
lượng SPDD cuối kỳ x 50%
Phương pháp này áp dụng cho những doanh nghiệp có chi phí chế
biến chiếm tỷ lệ nhỏ trong giá thành sản phẩm do độ chính xác thấp.
* Đánh giá sản phẩm dở dang theo định mức chi phí
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
15
kỳ quy đổi
ra SP hoàn
thành
Chi phí
chế biến
nằm trong
SPDD
=
x
Chi phí chế
biến đầu kỳ
Chi phí chế biến phát
sinh trong kỳ
+
Số lượng sản phẩm
hoàn thành trong kỳ
Số lượng SPDD cuối kỳ
quy đổi ra SP hoàn thành
+
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
Theo phương pháp này, chi phí sản phẩm dở dang được xác định trên cơ
sở chi phí sản xuất định mức của từng đơn vị sản phẩm, của từng công đoạn
và khối lượng sản phẩm làm dở.
Các chi phí nguyên vật liệu chính cho sản phẩm dở dang được xác định
theo chi phí thực tế như đối với thành phẩm. Các chi phí chế biến khác được
phân bổ cho sản phẩm dở đang dựa trên tiêu thức phân bổ thích hợp.
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp đã xây dựng
được định mức chi phí hợp lý hoặc tính giá thành sản phẩm theo phương pháp
+ Tổng hợp chi phí sản xuất phát
sinh trong kỳ.
+ Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
chuyển sang TK154.
+ Giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn
thành.
xxx xxx
TK 631Nợ
Có
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
Tài khoản 631 không có số dư cuối kỳ.
Sơ đồ: Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất theo phương pháp KKĐK
Ghi chú:
(1): Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ.
(2): Phân bổ chi phí NVL trực tiếp.
(3): Phân bổ chi phí nhân công trực tiếp.
(4): Phân bổ, kết chuyển chi phí sản xuất chung.
(5): Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
(6): Giá thành sản xuất của sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
1.4. Tính giá thành sản phẩm
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu
chi phí sản xuất đã tập hợp được để tính giá thành và giá thành đơn vị thực tế
của sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm
sản phẩm, yêu cầu quản lý, mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm mà doanh nghiệp có thể lựa chọn
một trong các phương pháp tính giá thành sản phẩm sau:
- Phương pháp tính giá thành trực tiếp (phương pháp giản đơn).
Nếu áp dụng phương pháp này, kế toán dựa vào số liệu về chi phí sản
xuất đã tập hợp được trong kỳ và số liệu về sản phẩm dở dang đã được đánh
giá để xác định tổng giá thành sản phẩm theo công thức:
Giá thành đơn Tổng giá thành sản phẩm
vị sản phẩm
Số lượng đơn vị sản phẩm hoàn thành trong kỳ
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ tính toán nhưng khó áp
dụng đối với doanh nghiệp có nhiều sản phẩm.
1.4.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo đơn đặt hàng
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tính dồn và tích
luỹ theo từng đơn đặt hàng. Kế toán không cần tính giá trị sản phẩm dở dang.
Toàn bộ chi phí sản xuất đã tập hợp được tính đến khi hoàn thành một đơn đặt
hàng là giá thành sản xuất của đơn đặt hàng đó.
Đặc điểm của phương pháp này là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh đều
được tập hợp theo tong đơn đặt hàng, không kể số lượng sản phẩm của đơn
đặt hàng là nhiều hay ít, quy trình công nghệ giản đơn hay phức tạp. Đối với
các chi phí trực tiếp phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn hàng nào
thì tập hợp trực tiếp cho đơn hàng đó theo các chứng từ gốc hoặc các bảng
phân bổ chi phí.
Đối với chi phí sản xuất chung, sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho
từng đơn hàng theo tiêu chuẩn phù hợp (giờ công sản xuất, nhân công trực
tiếp…)
Việc tính giá thành ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt
hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không trùng với kỳ báo cáo.
Đối với những đơn đặt hàng đến kỳ báo cáo chưa hoàn thành thì toàn bộ chi
phí đã tập hợp theo đơn đặt hàng đó coi là sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển
kỳ sau. Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí đã tập hợp
được theo đơn đặt hàng đó chính bằng tổng giá thành sản phẩm và giá thành
đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm của đơn đặt hàng chia
cho số lượng sản phẩm trong đơn hàng.
nhưng cho ra nhiều loại sản phẩm chính khác nhau mà chi phí không tập hợp
riêng được cho từng loại sản phẩm.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong trường hợp này là toàn bộ quy
trình công nghệ, còn đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm, đơn vị
sản phẩm hoàn thành. Kỳ tính giá thành là cuối tháng hoặc quý.
Theo phương pháp này, kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy đổi các
loại sản phẩm về sản phẩm gốc, rồi từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến
giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp được để tính giá thành sản phẩm gốc
và giá thành tong loại sản phẩm.
Công thức tính như sau:
Trong đó:
1.4.4. Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo tỷ lệ
Phương pháp này áp dụng thích hợp cho các doanh nghiệp trong cùng
một quy trình sản xuất ra nhóm sản phẩm có quy cách, kích cỡ, phẩm cấp
khác nhau.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong trường hợp này là toàn bộ quy
trình công nghệ, còn đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm.
Để tính được giá thành cho từng quy cách hoặc phẩm cấp sản phẩm thì
trước hết phải lựa chọn tiêu thức phân bổ giá thành, tiêu thức phân bổ có thể
là giá thành kế hoạch, giá thành định mức của sản phẩm.
Công thức tính như sau:
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
19
Giá thành đơn
vị sản phẩm
gốc
=
Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm
Số lượng sản phẩm quy đổi( sản phẩm gốc)
Giá thành đơn vị
SPDD
cuối kỳ
-
Giá thành thực tế
đơn vị SP từng loại
=
Giá thành kế hoạch( hoặc định
mức) đơn vị sản phẩm từng
loại
x
Tỷ lệ
chi phí
Tỷ lệ chi phí
=
Tổng giá thành thực tế của các loại sản phẩm
Tổng giá kế hoạch của các loại sản phẩm
x 100%
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
1.4.5. Phương pháp tính giá thành loại trừ chi phí sản xuất sản phẩm phụ
Phương pháp này được áp dụng đối với các doanh nghiệp mà trong cùng
một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu được còn có thể thu
được những sản phẩm phụ.
Để tính giá trị sản phẩm chính kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ
ra khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ không phải là
đối tượng tính giá thành và được đánh giá theo quy định.
Công thức tính như sau:
1.4.6. Phương pháp tính giá thành theo định mức
Phương pháp này có thể áp dụng với mọi loại hình doanh nghiệp với các
giai đoạn sau. Tuỳ thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể mà đối tượng tính
giá thành trong các doanh nghiệp loại này có thể là thành phẩm ở giai đoạn
công nghệ cuối cùng hoặc bán thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ và
thành phẩm ở giai đoạn cuối. Do có sự khác nhau về đối tượng tính giá thành
nên phương pháp tính giá thành phân bước được chia làm 2 phương pháp :
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
20
Tổng giá
thành SP
chính
=
Trị giá
SPDD
đầu kỳ
Chi phí
PS
trong
kỳ
+
-
Giá trị
SP phụ
thu hồi
Giá trị
SPDD
cuối kỳ
-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
sơ đồ sau:
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
21
=
+
+
+
+…+
Z SP
hoàn chỉnh
CP NVL
trực tiếp
CP NVL
gián tiếp
CP chế bến
bước 2
CP chế
bến
bước n
CP chế bến
bước 1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
theo hình thức Nhật ký_ sổ cái
Ghi chú: : Ghi hằng ngày
: Ghi cuối tháng
: Đối chiếu kiểm tra
Qua sơ đồ trên ta thấy : Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc hoặc bảng
- Sổ chi tiết thanh toán với người bán, người mua, ngân sách nhà nước.
- Sổ chi tiết tài khoản đầu tư chứng khoán.
- Sổ chi tiết tiêu thụ.
- Sổ chi tiết nguồn vốn kinh doanh.
1.5.2. Hình thức kế toán Nhật ký chung
Đặc trưng của phương pháp này là tất cả các nghiêp vụ kinh tế phát sinh
đều phải được ghi vào sổ Nhật ký mà đặc biệt là sổ Nhật ký chung, theo trình
tự thời gian phát sinh và định khoản kế toán của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số
liệu trên sổ Nhật ký để ghi vào sổ cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.
Hình thức Nhật ký chung gồm các loại sổ sau:
- Sổ Nhật ký chung.
- Sổ cái.
- Sổ kế toán chi tiết.
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
23
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường CĐ KT-TC TN
Trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
theo hình thức Nhật ký chung
Ghi chú: : Ghi hàng ngày.
: Ghi cuối tháng
: Đối chiếu kiểm tra.
Qua sơ đồ trên ta thấy: Hàng ngày căn cứ vào chứng từ đựoc làm căn cứ
ghi sổ.Trước hết ta ghi nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào Nhật ký chung sau đó
căn cứ vào số liệu ghi ở Nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế
toán phù hợp. Nếu đơn vị có mở sổ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi
sổ Nhật ký chung là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi vào sổ kế toán
chi tiết.
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ gốc hoặc bảng
tổng hợp chứng từ cùng loại có cùng nội dung kinh tế.
Hình thức này phù hợp với một loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp
dụng máy vi tính. Tuy nhiên việc ghi chép bị trùng lắp nhiều nên việc lập báo
cáo hay bị gặp nhiều khó khăn nhất là trong trường hợp doanh nghiệp thực
hiện kế toán thủ công.
Sổ sách của hình thức này gồm:
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
- Sổ cái.
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ là ghi theo thòi gian, phản ánh toàn bộ chứng
từ ghi sổ đ được lập trong tháng. Sổ này nhằm quản lý chặt chẽ chứng từ ghi
sổ và kiểm tra, đối chiếu số liệu với sổ cái.
Trình tự ghi sổ theo hình thức Chứng từ ghi sổ được thể hiện qua sơ đồ sau:
Nguyễn Thị Lan Lớp K29 B6
25