Kế toán chi phí & tính giá thành kinh doanh buồng ngủ ở Công ty Cổ phần du lịch Nam Định - Pdf 16

Lời mở đầu
Đông nam á nói chung và Việt Nam nói riêng hiện nay đã và đang tìm
mọi biện pháp để thu hút khách du lịch trong và ngoài nớc. Cùng với các chính
sách chủ trơng thu hút khách du lịch nh các hoạt động văn hoá, các hoạt động
quảng bá hình ảnh Việt Nam trên các phơng tiện truyền thông,các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực du lịch cũng đóng vai trò quan trọng. Công ty cổ phần
du lịch Nam Định góp phần không nhỏ trong việc thu hút du lịch đến với Nam
Định nói riêng và Việt Nam nói chung.Với t cách là công ty hoạt động kinh
doanh thì lợi nhuận đóng vai trò cực kỳ quan trọng nó là mục tiêu hoạt động của
công ty. Do đó việc hạch toán kế toán trong doanh nghiệp phải thực hiện rõ ràng
đúng theo tiêu chuẩn kế toán chung.Để nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề này em
chọn đề tài:
Kế toán chi phí và tính giá thành kinh doanh buồng ngủ ở
công ty cổ phần du lịch Nam Định
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm ba phần:
Phần I
Cơ sở lý luận về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong các
đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch
Phần II
Tình hình thực tế về kế toán chi phí và tính giá thành
kinh doanh buồng ngủ ở công ty cổ phần du lịch Nam Định
Phần III
Nhận xét kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành kinh
doanh buồng ngủ ở công ty cổ phần du lịch Nam Định
1
phần i
Cơ sở lý luận về kế toán chi phí và tính
giá thành sản phẩm trong các đơn vị
kinh doanh dịch vụ du lịch
I . sự cần thiết khách quan phải hạch toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm trong các đơn vị kinh Doanh

Để tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch một cách bình thờng các
đơn vị cần phải tiêu hao một lợng lao động sống, lao động vật hoá nhất định. Cụ
thể, những hao phí về vật chất nh: khấu hao tài sản cố định, chi phí về nguyên
liệu vật liệu, điện năng, nhà cửa, trang thiết bị, công cụ lao động nhỏ... những
hao phí này gọi chung là hao phí về lao động vật hoá, còn hao phí về lao động
sống nh tiền lơng, tiền công.
Ngoài ra, còn có một khoản chi phí mà thực chất là một phần giá trị mới
sáng tạo ra đó là các khoản trích theo lơng nh BHXH, BHYT, KPCĐ, các loại
thuế không đợc hoàn trả nh thuế giá trị gia tăng không đợc khấu trừ, thuế tài
nguyên, lãi vay ngân hàng... Trong tổng chi phí đó thì chi phí về lao động sống
chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các khoản chi phí khác. Sở dĩ nh vậy là vì trong du
lịch nói chung và khách sạn nói riêng, sản phẩm dịch vụ du lịch cung cấp cho
khách hàng là các lao vụ dịch vụ là kết quả của lao động sống. Khối lợng và chất
lợng của các lao vụ dịch vụ này phụ thuộc vào yếu tố con ngời đó là: kinh
nghiệm, trình độ nghiệp vụ, ý thức hay nói cách khác đó là mức độ thích hợp của
nhân viên cho một công việc cụ thể.
Do đó, bên cạnh những điều kiện vật chất nh: số lợng, chất lợng, chủng loại
hàng hoá... vai trò của yếu tố con ngời trong quá trình phục vụ không đơn thuần
chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa ngời phục vụ và khách mà còn là phẩm chất
t cách, trình độ tay nghề, kiến thức về văn hoá xã hội, trình độ ngoại ngữ... có ý
nghĩa vô cùng quan trọng.
Nói tóm lại, chi phí mà doanh nghiệp chi ra để cấu thành nên sản phẩm thì
giá trị của sản phẩm bao gồm 3 bộ phận là: c + v + m, trong đó:
c là toàn bộ giá trị của t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản
phẩm dịch vụ nh: khấu hao TSCĐ, công cụ lao động nhỏ, nguyên vật liệu,
điện năng... còn gọi là hao phí lao động vật hoá.
v là chi phí về tiền lơng, tiền công phải thanh toán cho ngời lao động
trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản
phẩm dịch vụ còn gọi là hao phí lao động sống.
m là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động kinh

thức khác nhau. Việc phân loại chi phí theo tiêu thức thích hợp vừa đáp ứng đợc
yêu cầu công tác quản lý, vừa đáp ứng đợc yêu cầu của kế toán tập hợp chi phí
kinh doanh dịch vụ, thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng tiết kiệm chi phí, hạ
giá thành sản phẩm dịch vụ. Nó không những có ý nghĩa quan trọng đối với công
tác hạch toán mà còn là tiền đề rất quan trọng của việc lập kế hoạch, kiểm tra và
phân tích chi phí dịch vụ trong toàn doanh nghiệp cũng nh từng bộ phận cấu
thành bên trong doanh nghiệp.
4
Đứng trên góc độ phục vụ công tác hạch toán chi phí và tính giá thành thì
có một số cách phân loaị chi phí sau đây:
a.Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất đợc chia
thành các yếu tố chi phí sau (hiện nay chế độ mới chỉ quy định các yếu tố chi phí
chỉ áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất, không có quy định riêng cho các
doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ).
Nguyên liệu, vật liệu chính mua ngoài (gồm cả nửa thành phẩm mua
ngoài)
Vật liệu phụ mua ngoài (gồm cả bao bì, phụ tùng thay thế, công cụ dụng
cụ mua ngoài)
Nhiên liệu mua ngoài.
Năng lợng mua ngoài.
Tiền lơng của công nhân viên.
Trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân viên.
Khấu hao TSCĐ.
Chi phí bằng tiền khác.
Nguyên tắc: phân loại chi phí theo cách này là những khoản chi phí có
chung tính chất kinh tế thì đợc xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí đó
phát sinh ở địa điểm nào, dùng vào mục đích gì trong kinh doanh.
ý nghĩa: cách phân loại này là cơ sở cho việc tập hợp chi phí theo yếu tố và
lập báo cáo chi phí theo yếu tố, cho biết đợc chi phí của doanh nghiệp theo từng

Chi phí bằng tiền khác: khoản mục này bao gồm lãi vay ngân hàng, chi
phí vận chuyển thuê ngoài và các chi phí khác.
Tuy nhiên tuỳ theo từng loại hoạt động kinh doanh cụ thể, số lợng khoản
mục chi phí, nội dung và cấu thành của chúng có khác nhau.
ý nghĩa: Cách phân loại này là cơ sở để hạch toán chi phí theo khoản mục,
phân tích, kiểm tra chi phí theo khoản mục tạo điều kiện tăng cờng chế độ tiết
kiệm chi phí tạo điều kiện hạch toán kinh tế nội bộ có hiệu quả.
C .Phân loại chi phí theo mối quan hệ chi phí với đối t-
ợng chịu chi phí.
Theo cách phân loại này, chi phí đợc chia thành 2 loại:
Chi phí cơ bản: là những chi phí thuộc các yếu tố cơ bản của quá trình
kinh doanh nh chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí khấu hao TSCĐ dùng vào sản xuất và những chi phí trực tiếp khác.
Chi phí quản lý phục vụ: là những chi phí cóính chất quản lý, phục vụ
cho hoạt động kinh doanh của đơn vị.
6
Những chi phí cơ bản liên quan trực tiếp đến từng đối tợng tính giá thành
thì hạch toán trực tiếp, còn những chi phí cơ bản nào liên quan đến nhiều đối t-
ợng tính giá thành thì trực tiếp phân bổ các đối tợng tính giá thành theo các tiêu
thức thích hợp.
Chi phí quản lý phục vụ thì tập hợp riêng theo khoản mục sau đó cuối kỳ
phân bổ một lần cho các đối tợng tính giá liên quan theo tiêu thức phù hợp.
Ngoài cách phân loại chi phí để phục vụ trực tiếp cho công tác hạch toán
chi phí và tính giá thành nh trên, còn có cách phân loại chi phí khác để phục vụ
cho công tác quản lý chi phí, phân tích chi phí. Đó là phân loại chi phí theo mối
tơng quan giữa khối lợng sản phẩm dịch vụ tạo ra và chi phí thì chi phí đợc chia
thành:
Chi phí cố định (chi phí bất biến): là những chi phí không thay đổi khi
có sự biến đổi về khối lợng sản phẩm dịch vụ tạo ra.
Chi phí biến đổi (chi phí khả biến): là những chi phí có mối tơng quan tỷ lệ

định hoạt động hay phạm vi mà chi phí phát sinh làm cơ sở cho việc tập hợp
chi phí kinh doanh dịch vụ.
b.Phơng pháp kế toán chi phí sản xuất
*Chi phí trực tiếp
Chi phí trực tiếp là những chi phí có quan hệ trực tiếp đến từng đối tợng tập
hợp chi phí riêng biệt. Theo phơng pháp này thì chi phí phát sinh cho đối tợng
nào đợc tập hợp trực tiếp cho đối tợng đó. Để thực hiện tốt phơng pháp này đòi
hỏi phải tổ chức việc ghi chép ban đầu (chứng từ gốc) phải theo đúng đối tợng đã
xác định. Trên cơ sở đó kế toán tổng hợp số liệu từ các chứng từ gốc theo từng
đối tợng tập hợp chi phí liên quan và trực tiếp ghi vào sổ kế toán (tài khoản cấp
1, tài khoản cấp 2, sổ chi tiết). Phơng pháp này đảm bảo tập hợp chi phí theo
đúng đối tợng chịu chi phí với mức độ chính xác cao. Vì vậy cần phải sử dụng
tối đa phơng pháp này đối với các chi phí dịch vụ du lịch có đủ điều kiện tập hợp
trực tiếp.
*Chi phí chung
Chi phí chung là những chi phí có liên quan đến những đối tợng tập hợp chi
phí mà không phân biệt riêng rẽ ngay từ khi hạch toán ban đầu nh chi phí điện n-
ớc, chi phí vệ sinh, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí trực tiếp khác. Các chi phí
này phát sinh không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng theo từng đối tợng chịu
chi phí đợc mà kế toán phải sử dụng phơng pháp gián tiếp hay còn gọi là phơng
pháp phân bổ gián tiếp. Sử dụng phơng pháp này kế toán vẫn tập hợp đợc chi phí
cho từng đối tợng tập hợp chi phí đáp ứng yêu cầu quản lý. Phơng pháp này đòi
hỏi phải tổ chức ghi chép ban đầu với những chi phí có liên quan đến nhiều đối t-
ợng theo từng địa điểm phát sinh chi phí, trên cơ sở đó để tập hợp số liệu theo
từng điểm phát sinh chi phí. Sau đó chọn tiêu chuẩn phân bổ hợp lý để tính toán,
phân bổ chi phí đã tập hợp cho các đối tợng có liên quan. Tiêu chuẩn phân bổ
thích hợp là tiêu chuẩn có quan hệ kinh tế tơng quan tỷ lệ thuận với chi phí cần
phân bổ đảm bảo cho việc phân bổ hợp lý, đồng thời tiêu chuẩn đó đã có thể tính
8
toán hoặc thu thập đợc một cách dễ dàng. Vì vậy tuỳ theo từng khoản mục chi

=
Hệ số
phân bổ
x
Tiêu chuẩn phân bổ
cho đối tượng n
2. Bản chất, chức năng của giá thành sản phẩm dịch vụ
du lịch
a. Bản chất giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lợng hoạt động sản
xuất kinh doanh, trình độ tổ chức quản lý kinh tế, trình độ sử dụng hợp lý tiết
kiệm nguyên vật liệu trong lĩnh vực kinh doanh du lịch. Mặt khác giá thành còn
là cơ sở xác định kết quả tài chính, thớc đo hao phí lao động cần thiết phải phù
đắp trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch theo nguyên tắc hạch toán "lấy
thu bù chi và có lãi". Giá thành là công cụ để giám đốc chất lợng hoạt động kinh
doanh dịch vụ du lịch.
b. Chức năng của giá thành
Giá thành có 2 chức năng cơ bản đó là:
Chức năng thớc đo bù đắp chi phí: Với chức năng này thì chỉ tiêu giá
thành sẽ là căn cứ để xác định khả năng bù đắp chi phí mà doanh nghiệp
đã bỏ ra để tạo ra sản phẩm và thực hiện giá trị của mình.
Chức năng lập giá: Để thực hiện đợc yêu cầu bù đắp chi phí phải căn cứ
vào giá thành sản phẩm dịch vụ. Do đó giá thành có chức năng cơ sở để
lập giá.
3. Các loại giá thành sản phẩm dịch vụ
Trong kinh doanh dịch vụ, kế toán xác định 2 loại giá thành, đó là giá thành
sản xuất của dịch vụ và giá thành toàn bộ của dịch vụ tiêu thụ.
Giá thành sản xuất là toàn bộ hao phí của các yếu tố dùng để tạo ra sản
phẩm dịch vụ hoàn thành.
Giá thành toàn bộ bao gồm giá thành sản xuất và chi phí ở khâu tiêu thụ

động kinh doanh vận chuyển là ngời/km vận chuyển, đối với hoạt động kinh
doanh buồng ngủ là phòng/01 ngày đêm theo từng loại buồng, đối với hoạt
động kinh doanh ăn uống và hoạt động khác thì việc tính giá thành đợc tính
theo từng sản phẩm.
5.Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa chi phí và
giá thành sản phẩm dịch vụ
Mặc dù giữa chi phí và giá thành có mối quan hệ với nhau nhng giữa chúng
còn có điểm khác nhau về phạm vi và nội dung. Vì vậy, cần phân biệt phạm vi và
giới hạn của chúng để ứng dụng tốt hơn trong việc tính giá thành sản phẩm dịch
vụ du lịch.
Chi phí kinh doanh dịch vụ chỉ tính những chi phí phát sinh trong một
kỳ nhất định (tháng, quý, năm) không tính đến nó liên quan đến khối l-
ợng sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành. Từ đó chi phí kinh doanh dịch vụ
du lịch tính cho một kỳ, còn giá thành liên quan đến cả chi phí của thời
kỳ trớc chuyển sang (chi phí dở dang đầu kỳ) và chi phí của kỳ này
chuyển sang kỳ sau (chi phí dở dang cuối kỳ).
11
Chi phí kinh doanh dịch vụ gắn liền với khối lợng chủng loại sản phẩm
dịch vụ hoàn thành, trong khi đó giá thành lại liên quan mật thiết đến
khối lợng và chủng loại sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành.
Nh vậy sự khác nhau giữa chi phí và giá thành thể hiện ở 2 khía cạnh sau:
Về mặt chất: Chi phí kinh doanh dịch vụ là những yếu tố đa hao phí
trong quá trình kinh doanh nhng cha hẳn đã hoàn thành. Còn giá thành
sản phẩm dịch vụ là những yếu tố tiêu hao cho quá trình kinh doanh một
lợng sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành.
Về mặt lợng: Thờng về mặt lợng giữa chúng không có sự thống nhất với
nhau. Giá thành sản phẩm dịch vụ có thể bao gồm cả chi phí của thời kỳ
trớc chuyển sang, chi phí đã chi ra trong kỳ và loại trừ chi phí chuyển
sang kỳ sau. Nó đợc biểu hiện qua công thức sau:
Z = D

phạm vi rộng hơn đối tợng tính giá thành. Có trờng hợp một đối tợng tập hợp chi
phí có thể có nhiều đối tợng tính giá thành.
7.Phơng pháp tính giá thành sản phẩm du lịch dịch vụ
Phơng pháp tính giá thành là hệ thống các phơng pháp, kỹ thuật đợc sử
dụng để tính toán, xác định giá thành sản phẩm dịch vụ. Có nhiều phơng pháp đ-
ợc sử dụng để tính giá thành, tuỳ theo đặc điểm tập hợp chi phí và đối tợng tính
giá thành kế toán sử dụng phơng pháp tính giá thành cho phù hợp. Trong hoạt
động kinh doanh dịch vụ buồng ngủ ngời ta thờng sử dụng các phơng pháp sau:
a. Phơng pháp tính giá thành giản đơn
Phơng pháp này thờng đợc áp dụng trong ngành du lịch và quy trình phục
vụ hoạt động kinh doanh du lịch giản đơn, đối tợng tập hợp chi phí ở đây thờng
phù hợp với đối tợng tính giá thành. Đối tợng tập hợp chi phí dịch vụ du lịch là
toàn bộ quy trình phục vụ, còn đối tợng tính giá thành là hình thức dịch vụ do
quy trình phục vụ đã hoàn thành.
Kỳ tính giá thành trong các doanh nghiệp dịch vụ du lịch thờng là một
tháng hoặc một quý vào ngày cuối tháng hoặc cuối quý. Khi đó giá thành đợc
xác định theo công thức:
Do đặc điểm của ngành kinh doanh dịch vụ du lịch là không có sản phẩm
nhập kho, khó xác định chi phí sản xuất kinh doanh dở dang nên coi nh không
có sản phẩm dở dang. Vậy phơng pháp tính giá thành giản đơn còn gọi là phơng
pháp tổng cộng chi phí.
Sau khi tính đợc tổng giá thành sản xuất của từng dịch vụ cụ thể thì có thể
tính đợc giá thành đơn vị sản phẩm dịch vụ:
b. Phơng pháp tính giá thành theo hệ số
Phơng pháp tính giá thành theo hệ số còn gọi là phơng pháp tính giá thành
quy về sản phẩm chuẩn. Hoạt động kinh doanh buồng ngủ có thể áp dụng đợc
13
Tổng giá thành
thực tế của khối
lượng sản phẩm

Khi tính giá thành hoạt động kinh doanh buồng ngủ có thể tính giá thành
đơn vị cho một giờng hoặc tính giá thành cho một phòng ngủ theo từng loại
phòng. Song để tính giá thành theo phơng pháp này thì phải xác định đợc hệ số
giá thành giữa các loại buồng. áp dụng phơng pháp này thì việc xác định hệ số
giá thành phải đợc cơ quan chủ quản xét duyệt và hệ số giá thành phải đợc áp
dụng thống nhất từ khi lập kế hoạch đến khi sử dụng để tính toán, có thể tính
riêng cho từng khoản mục.
Việc xác định hệ số giá thành giữa các loại buồng, kế toán căn cứ vào các
tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật để xác định cho mỗi loại buồng một hệ số tính giá
thành. Trong đó chọn một loại buồng làm tiêu chuẩn cho hệ số bằng 1.Sau khi
xác định hệ số giá thành giữa các loại buồng, kế toán căn cứ vào số lợt buồng
thực tế cho thuê của từng loại buồng trong kỳ và căn cứ vào hệ số tính giá thành
của từng loại buồng để tính tổng số buồng quy đổi ra loại tiêu chuẩn có hệ số
bằng 1 theo công thức:
Trong đó: i là loại buồng (1, 2, 3...)
Do nghiệp vụ kinh doanh buồng ngủ thờng không có sản phẩm dở dang đầu
kỳ và cuối kỳ nên:
Từ đó tính đợc giá thành và giá thành đơn vị của từng loại buồng ngủ theo
công thức:
14
Tổng số buồng
ngủ thực hiện
quy đổi
=

=
n
i 1
Số buồng ngủ
thực hiện

Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm lao vụ, dịch vụ là khâu trọng
tâm trong toàn bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du
lịch. Hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm chính xác sẽ tạo điều kiện xác
định đúng đắn những chi phí mà đơn vị đã chi ra trong quá trình hoạt động kinh
doanh trên cơ sở đó tính đợc chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị
góp phần thúc đẩy việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, nâng cao chất lợng
phục vụ để ngày càng thu hút khách du lịch trong nớc và quốc tế.
15
Giá thành đơn vị loại buồng i =
Tổng giá thành loại buồng i
Số phòng thực hiện loại buồng i
Giá thành
thực tế
=
Giá thành kế
hoạch
x
Số lượng sản phẩm
thực tế thực hiện
x
Tỷ lệ giá
thành
Tỷ lệ giá thành
=
Chi phí thực tế (giá thành thực tế)
Chi phí kế hoạch (giá thành kế hoạch)
1. nhiệm vụ kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
dịch vụ du lịch .
Công tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm dịch vụ là những chỉ tiêu
quan trọng đợc các nhà doanh nghiệp quan tâm vì chúng gắn liền với kết quả

doanh nghiệp ra các quyết định quản lý thích hợp trớc mắt cũng nh lâu dài
đối với sự phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
16
Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí theo đúng đối tợng kế toán
tập hợp chi phí đã xác định theo các yếu tố chi phí và khoản mục giá thành.
2. Tài khoản sử dụng
Để tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ, kế toán sử dụng các tài khoản sau:

Tài khoản 621 "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp"
.
Kết cấu của tài khoản này nh sau:
Bên Nợ: - Trị giá thực tế nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho quá trình
thực hiện lao vụ dịch vụ trong kỳ.
Bên Có: - Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại kho.
- Kết chuyển hoặc phân bổ trị giá nguyên vật liệu trực tiếp vào
tài khoản liên quan để tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
Tài khoản này không có số d cuối kỳ.

Tài khoản 622 "Chi phí nhân công trực tiếp".
Chi phí nhân công trực tiếp là
những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch
vụ bao gồm: tiền lơng chính, lơng phụ, các khoản phụ cấp, trích BHXH,
BHYT, KPCĐ theo số tiền lơng của công nhân trực tiếp sản xuất.
Kết cấu của tài khoản này nh sau:
Bên Nợ: - Chi phí nhân công trực tiếp thực hiện lao vụ dịch vụ trong kỳ
bao gồm: tiền lơng, tiền công và các khoản trích tiền lơng theo
quy định.
Bên Có: - Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cho các
đối tợng chịu chi phí vào cuối kỳ.
Tài khoản 622 không có số d cuối kỳ.

Kết cấu của tài khoản này nh sau:
Bên Nợ: - Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
- Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Bên Có: - Giá thành sản phẩm nhập kho, lao vụ dịch vụ hoàn thành kết
chuyển vào TK 632 "Giá vốn hàng bán"
- Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ kết chuyển vào TK154 "chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang"
Tài khoản này không có số d cuối kỳ
3. Trình tự kế toán
Khi phát sinh chi phí nguyên vật liệu dùng cho hoạt động kinh doanh du lịch
kế toán ghi:
Nợ TK621 "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp"
Có TK152 "Nguyên liệu vật liệu"
Khi tính tiền lơng phải trả cho công nhân viên trực tiếp thực hiện lao vụ dịch
vụ và trích BHXH trên tiền lơng phải trả cho công nhân viên trực tiếp hoạt
động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch kế toán ghi:
+ Tính tiền lơng phải trả cho công nhân viên trực tiếp sản xuất, kế toán ghi:
Nợ TK622 "Chi phí nhân công trực tiếp"
Có TK334 "Phải trả công nhân viên"
18
+ Trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp ghi:
Nợ TK622 "Chi phí nhân công trực tiếp"
Có TK338 "Phải trả phải nộp khác"
Cuối kỳ phải tính các chi phí về khấu hao TSCĐ dùng phục vụ trực tiếp cho
hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, kế toán ghi:
Nợ TK627 "Chi phí sản xuất chung"
Có TK214 "Hao mòn TSCĐ"
Khi phát sinh chi phí về công cụ dụng cụ dùng phục vụ trực tiếp cho hoạt
động kinh doanh du lịch:
+ Đối với công cụ dụng cụ loại phân bổ một lần, kế toán ghi:

Sau khi tập hợp chi phí xong, kế toán tiến hành tính giá thành theo đối tợng
phải tính giá. Do đặc điểm của kinh doanh buồng ngủ là không có sản phẩm dở
dang tức TK154 "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang" không có số d cuối kỳ.
Khi đó ta có:
Tổng chi phí phát sinh trong kỳ = Tổng giá thành
Trong chế độ kế toán hiện nay còn có nhiều vấn đề cha quy định rõ cho
từng loại ngành nghề kinh doanh đặc biệt là trong ngành du lịch thơng mại. Do
vậy, tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng đơn vị, kế toán tự mở sổ chi tiết để phản
ánh cụ thể, chính xác các khoản chi phí từ đó làm cơ sở tính giá thành cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi phát sinh chi phí kế toán căn cứ vào
chứng từ gốc hàng ngày ghi vào sổ chi tiết có liên quan của từng loại hình hoạt
động kinh doanh. Nếu một loại chi phí mà có liên quan đến nhiều loại hoạt động
thì phải tiến hành phân bổ cho thích hợp.
Cuối tháng dựa vào các sổ chi tiết chi phí kinh doanh theo từng đối tợng và
các sổ liên quan tới việc phân bổ chi phí, kế toán chi phí vằ tính giá thành sẽ tập
hợp chi phí theo từng đối tợng tập hợp chi phí.
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành trong doanh nghiệp dịch
vụ du lịch (theo phơng pháp kê khai thờng xuyên)
20
K/c giá thành sản
xuất dịch vụ
TK Lq TK 621 TK 154 TK 632 TK 911
TK 622 TK 642
TK 627
Đối với doanh nghiệp áp dụng theo phơng pháp kiểm kê định kỳ, cách tập
hợp chi tiết vào TK621, TK622, TK627 tiến hành theo định kỳ, trình tự và cách
làm giống nh kê khai thờng xuyên. Cuối kỳ không kết chuyển chi phí trực tiếp
sang TK154 "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang" mà kết chuyển sang TK631
vào đầu kỳ sau. Cách tập hợp chi phí quản lý doanh nghiệp cũng giống nh phơng
pháp kê khai thờng xuyên chỉ khác là theo định kỳ.

lợi nhuận thu đợc cao hơn hẳn các nghiệp vụ khác.
Trong cơ chế thị trờng, khách hàng là thợng đế, vì vậy để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng, Công ty không ngừng nâng cấp phòng ở, cải tạo nội thất trong
các phòng và khu vệ sinh khép kín, trang bị thêm các thiết bị ngoại nhập và lắp
thêm các phơng tiện hiện đại nh: tivi màu, điều hoà nhiệt độ, điện thoại, sopanh,
tủ lạnh, đệm ... Công ty có:
Phòng đặc biệt (giành cho khách quốc tế) gồm 52 phòng.
Phòng loại I gồm 185 phòng.
Phòng loại II gồm có 135 phòng.
Công ty luôn đặt mục tiêu hàng đầu là lấy thu bù chi và có lãi nên giá cả
cho thuê rất mềm dẻo, phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Giá phòng đặc biệt là 300.000 VNĐ/1 phòng/ 1 ngày đêm.
Bình quân các phòng còn lại giá từ 100.000đ/ 1 phòng/ 1 ngày đêm
22
Trong năm 2004 nghiệp vụ kinh doanh buồng ngủ ở Công ty đã hoạt động
với công suất là 75,25% và số khách lu trú tại khách sạn trung bình là hai ngày.
Tính chất hoạt động của Công ty cũng giống nh các khách sạn khác là thời gian
kéo dài suốt cả ngày lẫn đêm, kể cả ngày lễ và ngày chủ nhật. Do đó, Công ty đã
tính toán để bố trí các ca làm việc phù hợp, đảm bảo việc phục vụ khách một
cách thuận lợi nhất tại mọi thời điểm.
Hiện nay, tổng số cán bộ công nhân viên trong Công ty là 451 ngời trong
đó 40 ngời là lao động gián tiếp còn 411 ngời là lao động trực tiếp. Hầu hết nhân
viên phục vụ đã đợc đào tạo qua trờng lớp nghiệp vụ nên có trình độ chuyên môn
cao, năng động trong công việc, phục vụ khách tận tình chu đáo cùng với đội
ngũ lãnh đạo Công ty luôn đôn đốc, trực tiếp xuống các phòng ban để nắm bắt
tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty để từ đó có biện pháp thích hợp,
không ngừng đa Công ty ngày càng đi lên phù hợp với nhu cầu của thị trờng.
2.Đặc điểm quy trình kinh doanh buồng ngủ của Công ty.
Quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh buồng ngủ của Công ty theo
các giai đoạn sau:

Thanh toán và tiễn khách: Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình tổ
chức phục vụ khách. Công việc chủ yếu trong giai đoạn này là tiễn
khách và thanh toán với khách theo phơng thức thanh toán đã ghi trong
hợp đồng. Sau khi khách trả phòng, nhân viên phục vụ kiểm tra phòng
và viết phiếu báo trả phòng đa cho khách, sau đó khách nộp qua phòng
lễ tân. Công đoạn tiễn khách do bộ phận lễ tân thực hiện.
3.Đặc điểm tổ chức kinh doanh và tổ chức quản lý
của Công ty.
a. Đặc điểm tổ chức kinh doanh của Công ty.
Hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phân Du lịch Nam Định là hoạt
động kinh doanh dịch vụ du lịch. Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty bao
gồm :
1. Kinh doanh lu trú (buồng ngủ).
2. Kinh doanh ăn uống.
3. Kinh doanh hớng dẫn du lịch.
4. Kinh doanh bán hàng.
5. Kinh doanh vận chuyển.
6. Kinh doanh cho thuê phòng làm việc, nhà ở , kiốt.
7. Kinh doanh dịch vụ tennis, bóng bàn, bể bơi, masage ...
b. Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty.
Công ty Cổ phần Du lịch Nam Định là đơn vị đợc tổ chức thành phòng ban,
thực hiện chức năng quản lý nhất định.
Ban giám đốc: chịu trách nhiệm chỉ đạo chung toàn bộ hoạt động của
Công ty và quyết định mọi hoạt động của Công ty theo đúng kế hoạch
đợc Sở Du lịch phê duyệt.
Phòng tổ chức hành chính: chịu trách nhiệm tổ chức quản lý cán bộ,
giải quyết chế độ chính sách về tiền lơng, bảo hiểm xã hội và các chế
độ khác cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
24
Phòng kế hoạch: có chức năng lập kế hoạch kinh doanh cho giám đốc

kế
hoạch
Phòng
kế toán
Bộ
phận
buồng
Bộ
phận lễ
tân
Bộ
phận tu
sửa
Bộ
phận
giặt là
Bộ
phận
nhà ăn
Bộ
phận
bảo vệ
Trung
tâm
công
nghệ
TT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status