Thực trạng và giải pháp xuất nhập khẩu lao động Việt Nam - Pdf 59

Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn 10 năm trở lại đây thế giới đã chứng kiến các cuộc khủng hoảng kinh tế
làm suy giảm đáng kể nền kinh tế thế giới như cuộc khủng hoảng tài chính 1997 – 1998
và mới đây là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2009. Trong thời gian gần đây nền kinh
tế của các nước chịu ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu có dấu hiệu phục hồi
trở lại, tuy nhiên tình trạng thất nghiệp vẫn còn diễn ra với số lượng lớn. Và cần có một
hướng giải quyết cho những lao động thất nghiệp này.
Một trong những hướng giải quyết đó là: Xuất khẩu lao động. Nắm bắt được thời
cơ thuận lợi đó trong những năm qua Việt Nam đã đề ra những chính sách, mục tiêu
phương hướng cho việc xuất khẩu lao động nhằm giải quyết việc làm cho người lao động.
Với định hướng xuất khẩu lao động rõ ràng và phù hợp với xu hướng phát triển của nền
kinh tế đã được Đảng và Nhà nước xác định như là một trong những lĩnh vực đối ngoại
đặc biệt, một trong những chiến lược để phát triển nền kinh tế đất nước. Tuy vậy việc
xuất khẩu lao động của nước ta còn gặp một số hạn chế về trình độ tay nghề, ngoại ngữ,
kỉ luật lao động… Đòi hỏi sự nhập cuộc của các nhà quản lý, doanh nghiệp, người lao
động đi xuất khẩu để cùng “chung tay” giải quyết vấn đề trên. Đó là lý do để chúng tôi
chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của đề tài là làm rõ vấn đề xuất khẩu lao động và công tác mở rộng
thị trường và từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế, nhược điểm của lao
động Việt Nam để lao động xuất khẩu của nước ta ngày càng có vị thế vững chắc trên thị
trường lao động quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên những tài liệu, số liệu của Cục quản lý lao động ngoài
nước –Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, CIEM – Trung tâm thông tin tư liệu – Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và báo cáo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 2009 về công tác xuất khẩu lao động và số liệu dân số của nước ta.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu như:

tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần được
huy động vào quá trình lao động. Nguồn lao động bao gồm những người từ độ tuổi lao
động trở lên (ở nước ta là đủ 15 tuổi).
1.3 Sức lao động
Là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải xã hội,
phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá
trình lao động xã hội.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường sức lao động cũng là một loại hàng
hóa và cũng được trao đổi trên thị trường ngoài nước. Sức lao động là một loại hàng
hóa đặc biệt không chỉ vì sự khác biệt với hàng hóa thông thường là khi sử dụng nó sẽ
tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, mà còn được thể hiện ở chất lượng hàng
hóa này phụ thuộc chặt chẽ vào một loạt các nhân tố có tính đặc thù. Chất lượng của
hàng hóa sức lao động ở đây được phản ánh ở khả năng dẻo dai, bền bỉ trong lao động
của người lao động, khả năng thành thạo và sáng tạo trong công việc và khối lượng
công việc hoặc sản phẩm được hoàn thành bởi người lao động trong một đơn vị thời
gian.
1.4 Việc làm
Theo điều 13 – Bộ luật Lao động đã nêu rõ: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
1.5 Thất nghiệp
Là tình trạng người có sức lao động, từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm hoạt động
kinh tế tại thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc.
1.6 Thị trường lao động
Là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là những người sở
hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó. Thị trường lao
động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trường và chịu sự tác động
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 2
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
của hệ thống quy luật của nền kinh tế thị trường. Một thị trường lao động tốt là thị
trường mà ở đó lượng cầu về lao động tương ứng với lượng cung về lao động.

Như vậy đã xuất hiện nhu cầu trao đổi giữa một bên là những quốc gia có
nguồng lao động dôi dư với một bên là các nước có nhiều việc làm, cần thiết phải có đủ
số lượng lao động để sản xuất. Do đó vô hình chung đã làm xuất hiện (Cung - Cầu):
cung là đại diện cho bên có nguồn lao động, còn cầu là đại diện cho bên các nước có
nhiều việc lam, đi thuê lao động. Điều này cũng đồng nghĩa với việc đã hình thành lên
một loại thị trường, đó là thị trường hành hóa lao động quốc tế.
Khi lao động được hai bên mang ra thỏa thuận, trao đổi, thuê mướn, lúc này sức
lao động trở thành một loại hàng hóa như những loại hàng hóa hữu hình bình thường
khác. Như vậy, sức lao động cũng là một loại hàng hóa khi nó được đem ra trao đổi,
mua bán thuê mướn và khi đã là một loại hành hóa thì hành hóa sức lao động cũng phải
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 3
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
tuân theo quy luật khách quan của thị trường: Quy luật cung - cầu, quy luật giá cả, quy
luật cạnh tranh... như những loại hàng hóa hữu hình khác.
Qua sự phân tích ở trên cho ta thấy: Để có thể hình thành thị trường lao động
xuất khẩu trước hết phải xuất phát từ những nhu cầu trao đổi hoặc thuê mướn lao động
giữa bên cho thuê lao động và bên đi thuê lao động. Thực chất, khi xuất hiện nhu cầu
trao đổi, thuê mướn lao động giữa các quốc gia này và quốc gia khác, là đã hình thành
lên hai yếu tố cơ bản của thị trường, đó là cung và cầu về lao động. Như vậy thì thị
trường hàng hóa sức lao động quốc tế đã hình thành từ đây.
Ngày nay trong sự hội nhập và phát triển đời sống kinh tế xã hội thì quan hệ
cung cầu không bị bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, biên giới của một nước chỉ còn ý
nghĩa hành chính, còn quan hệ này ngày càng diễn ra trên phạm vi quốc tế, mà trong đó
bên cung đóng vai trò là bên xuất khẩu và cầu sẽ đại diện cho bên nhập khẩu lao động.
3. Các hình thức xuất khẩu lao động
3.1 Chia theo hàng hóa sức lao động
Xuất khẩu lao đông có nghề: là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc
thì đã được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước
ngoại làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi
phí để đào tạo nữa.

4. Những đặc điểm, sự cần thiết và vai trò của việc xuất khẩu lao động
4.1 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
4.1.1 Xuất khẩu lao động là một loại hoạt động kinh tế và diễn ra gay gắt
Ở nhiều nước trên thế giới, xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp
quan trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ và thu ngoại tệ bằng
hình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi ích khác. Những lợi ích
này đã buộc các nước xuất khẩu lao động phải chiếm lĩnh mức cao nhất thị trường lao
động ở nước ngoài, mà việc chiếm lĩnh được hay không lại dựa trên quan hệ cung cầu
sức lao động. Nó chịu sự điều tiết, sự tác động của các quy luật của kinh tế thị trường.
Bên cung phải tính toán mọi hoạt động của mình đẻ làm sao bù đắp được chi phí và có
phần lãi vì vậy cần phải có cơ chế thích hợp để tăng khả năng tối đa về cung lao động.
Bên cầu cũng phải tính toán kỹ lưỡng hiệu quả của việc nhập khẩu lao động.
Như vậy, việc quản lý Nhà nước, sự điều chỉnh pháp luật luôn luôn luôn bám sát
đặc điểm này. Làm sao để mục tiêu kinh tế phải là mục tiêu số 1 của mọi chính sách
pháp luật về xuất khẩu lao động.
4.1.2 Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội
Thực chất, xuất khẩu lao động không tách rời khỏi người lao động. Do vậy, mọi
chính sách pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp với chính sách xã
hội: Phải đảm bảo làm sao để người lao động ở nước ngoài được lao động như cam kết
ở trong hợp đồng, cũng như đảm bảo các hoạt động công đoàn... hơn nữa, người lao
động xuất khẩu dẫu sao cũng chỉ có thời hạn do vậy cần phải có những chế độ tiếp nhận
và sử dụng người lao động sau khi họ hoàn thành hợp đồng và trở về nước.
4.1.3 Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hòa giữa quản lý vĩ mô của Nhà nước
và sự chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Xuất khẩu lao động thực hiện trên cơ sở của hợp đồng cung ứng lao động. Nếu
như trước đây (giai đoạn 1980-1990) Việt Nam tham gia thị trường lao động quốc tế đã
xuất khẩu lao động của mình qua các hiệp định song phương, trong đó quy định khá chi
tiết về điều kiện lương, ăn ở, đi lại, bảo vệ người lao động ở nước ngoài. Thì ngày nay,
trong cơ chế của nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động

triệu người.
Theo số liệu điều tra năm 2009 cho thấy dân số trong độ tuổi lao động là 66% so
với tổng dân số, hằng năm tăng thêm 1,2 triệu lao động/năm, chiếm 3% trong tổng số
lực lượng lao động. Riêng lao động kỹ thuật cao 3 triệu người tốt nghiệp trung cấp
(chiếm 3,9%), 1,1 triệu tốt nghiệp cao đẳng (chiểm 1,3%), 2,7 triệu tốt nghiệp đại học
(chiếm 3,4%), 141 nghìn người có học vị trên đại học (chiếm 0,2%). Chỉ có 4 triệu
người chưa đi học (chiếm 5,1%) so với dân số từ 5 tuổi trở lên
Với tình trạng tốc độ phát triển nguồn lao động nêu trên, mâu thuẫn giữa lao
động và việc làm ngày càng trở nên gay gắt với nền kinh tế. Nếu không giải quyết một
cách hài hòa và có những bước đi thích hợp giữa mục tiêu kinh tế và xã hội sẽ dẫn tới
mất ổn định nghiêm trọng về mặt xã hội. Cùng với hướng giải quyết việc làm trong
nước là chính, xuất khẩu lao động là một định hướng chiến lược tích cực quan trọng,
lâu dài, cần phải được phát triển lên một tầm cao mới.
Để giải quyết được vấn đề này, xuất khẩu lao động đã trở thành một lĩnh vực
cứu cánh cho bài toán giải quyết việc làm không những của Việt Nam mà còn đối với
cả hầu hết các nước xuất khẩu lao động trong khu vực và trên thế giới.
4.3 Vai trò của việc xuất khẩu lao động
Với tư cách là một lĩnh vực hoạt động kinh tế, cần phải đươc xem xét, đánh giá
các mặt hiệu quả tích cực mà xuất khẩu lao động đã mang lại. Một khi nhận thức đúng
đắn về hiệu quả của xuất khẩu lao động, cùng với việc vạch ra các chỉ tiêu, xác định nó
là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá hiện trạng và chỉ ra các phương hướng cũng như
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động.
4.3.1 Về mục tiêu kinh tế
Trong khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế chưa lâu, kinh tế nước ta còn gặp vô
vàn khó khăn, mọi nguồn lực còn eo hẹp thì việc hàng năm chúng ta đưa hàng vạn lao
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 6
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
động ra nước ngoài làm việc đã mang về cho đất nước hàng tỷ USD/năm.Đóng góp
quan trọng vào việc phát triển đất nước.
4.3.2 Về mục tiêu xã hội

đang phát triển, thì nguồn kiều hối xuất khẩu lao động trở thành một nguồn quan trọng
trong việc làm cân bằng cán cân thanh toán. Bên cạnh đó một số quốc gia đã đưa lượng
kiều hối từ xuất khẩu lao động vào tính toán thu nhập quốc dân. Chính những vấn đề
này buộc chúng ta phải thừa nhận vai trò tích cực và những thay đổi do xuất khẩu lao
động mang lại cho tổng nguồn thu của nền kinh tế quốc gia. Vì vậy, không một quốc
gia nào khi làm công tác xuất khẩu lao động lại chỉ chú ý và đảm bảo thu nhập kinh tế,
quyền lợi cá nhân người lao động mà không tính đến những lợi ích quốc gia.
5.3 Việc làm khi lao động trở về nước
Như ta đã biết sau khi kết thúc hợp đồng trở về thì người lao động thường có
tâm lý không trở lại nghề cũ mà tìm một công việc khác nhẹ nhàng hơn và có thu nhập
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 7
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
cao hơn. Bên cạnh đó, một bộ phận những người lao động khác khi trở về họ thực sự
không thể tự tìm kiếm được việc làm mới, kể cả trở lại nghề cũ hoặc tìm những công
việc có thu nhập không đáng kể. Vì thế, phần lớn họ có nguyện vọng được tiếp tục xuất
khẩu lao động. Tuy vậy, do chúng ta chưa thực sự ý thức được vấn đề hậu xuất khẩu
lao động, nên thường thì người lao động khi trở về lại phải bắt đầu tìm kiếm từ đầu một
khi họ muốn tiếp tục ra nước ngoài làm việc. Chính vì vậy mà không phải ai muốn trở
lại hoặc sang một nước khác có điều kiện làm việc, thu nhập tốt hơn cũng có thể sang
được. Do vậy đây là một thực trạng rất khó khăn. Trong khi đó ở một số nước như
Philippine, Thái Lan ... một khi người lao động đã hoàn thành trở về, họ thường được
chính doanh nghiệp vận động tái xuất bằng những chính sách ưu tiên đặc biệt, nhằm
khuyến khích người lao động tiếp tục trở lại nước cũ hoặc là sang lao động ở một nước
khác có điều kiện làm việc tốt hơn nên có rất nhiều lao động tham gia tái xuất, thậm chí
có rất nhiều lao động cả đời chỉ đi lao động ở nước ngoài. Đây là chính sách hậu xuất
khẩu lao động rất quan trọng mà các quốc gia đã quan tâm khai thác triệt để từ lâu, nó
cúng có thể coi là biện pháp hạn chế thất nghiệp hậu xuất khẩu mà Việt Nam chúng ta
cần phải quan tâm và phát triển hơn nữa.
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA
VIỆT NAM

động đã qua đào tạo của nước ta chiếm khoảng hơn 25,3% trong đó tỉ lệ qua đào tạo
chuyên môn kĩ thuật chiếm khoảng 16,8% lực lượng lao động. Điều này chứng tỏ rằng
lực lượng lao động Việt Nam ngày càng được củng cố về chất lượng.
Tuy vậy lực lượng lao động nước ta còn gặp một số hạn chế như sau:
Cơ cấu đào tạo giữa đại học, cao đẳng, trung cấp và công nhân kĩ thuật rất bất
hợp lý, nó thể hiện ở chỗ tỉ lệ này là 1 – 2,6 – 4,2 trong khi đó ở các nước khác là 1 – 4
– 10. Điều đó lý giải tại sao mà lao động ở nước ta luôn xảy ra tình trạng “thừa thầy
thiếu thợ”. Còn theo đánh giá của BERI về sức cạnh tranh của lao động theo thang điểm
100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 32
điểm về chất lượng lao động và 16 điểm về kĩ năng lao động. Điều này phản ánh chất
lượng lao động của Việt Nam so với các nước khác là còn thấp, nếu không được cải
thiện thì sẽ không đủ sức cạnh tranh trong tương lai.
Lực lượng lao động nước ta chưa có tác phong công nghiệp còn thấp, tính kỉ luật
trong quá trình làm việc chưa cao.
Nhìn chung, nước ta là một nước có nguồn lao động dồi dào, tốc độ phát triển
tương đối cao tuy nhiên lao động nước ta còn yếu về kĩ năng và trình độ lao động, một
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 9
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
cơ cấu lao động bất hợp lý nên đã tạo ra một khó khăn lớn trong quá trình giải quyết
việc làm. Trong tương lai nếu không được khắc phục thì nguồn nhân lực không còn là
điểm mạnh của nước ta trong quá trình phát triển đất nước.
2. Khái quát chung về thị trường xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Chi phí nhân công rẻ và cung lao động dồi dào nên thị trường xuất khẩu lao
động Việt Nam có tính hấp dẫn cao. Và cũng thật dễ hiểu tại sao thị trường xuất khẩu
lao động của Việt Nam ngày càng được mở rộng.
Thị trường lao động của nước ta khá đa dạng và phong phú, đáp ứng được nhiều
yêu cầu lao động của các nước. Chính vì vậy mà lao động Việt Nam đã có mặt ở hầu
hết khắp các châu lục trên thế giới. Nhưng có thể thấy thị trường xuất khẩu lao động
của Việt Nam tập trung chủ yếu ở một số quốc gia ở châu Á có nhiều điểm tương đồng
về văn hóa, phong tục tập quán và khí hậu… cộng thêm vào đó là chi phí đi lại rẻ nên

(Nguồn số liệu: Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
Nhìn vào biểu đồ xuất khẩu lao động của nước ta từ năm 1980 đến nay ta có thể
chia làm 3 thời kì chủ yếu như sau:
Thời kì thứ nhất từ năm 1980 đến 1990
Thời kì thứ hai từ năm 1991 đến năm 2000
Thời kì thứ ba từ năm 2001 đến nay
3.1.1. thời kì từ năm 1980 đến năm 1990
Trong thời kì này nước ta chủ yếu có mối quan hệ hợp tác lao động với các nước
ở khu vực Đông Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa như là Liên Xô, Tiệp Khắc,
CHDC Đức, … Và một số quốc gia thuộc khu vực Trung Đông như Irắc, Quatar…Nói
dung hơn là ở thời kì này nước ta chủ yếu là đưa cán bộ, công nhân viên đi bồi dưỡng,
nâng cao trình độ tay nghề về những ngành kĩ thuật then chốt mà nước ta đang cần hoặc
những ngành có độ phức tạp và tinh vi trong quá trình chế tạo sản phẩm và trong cả dây
chuyền công nghệ hoặc học hỏi thêm những kiến thức và rèn luyện tay nghề để có thể
tự chế tạo ra những sản phẩm mới.
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 11
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
BẢNG 1: SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
THỜI KÌ 1980 – 1990
NĂM
SỐ LAO
ĐỘNG
Tiền gửi về
(Triệu VND)
1980 1570 0
1981 20230 0.955
1982 25970 8.5
1983 12402 25.1
1984 4489 32.1
1985 5008 76.9

1980 1570 1570 0
1981 20230 14882 5348
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 12
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
1982 25970 12116 13784
1983 12402 4603 7799
1984 4489 3297 1192
1985 5008 3658 1350
1986 9012 1800 7212
1987 46098 21024 25074
1988 71835 25109 46726
1989 40618 12034 28584
1990 3069 921 2148
TỔNG 240301 101014 139217
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội )
Với tổng số 240301 lao động được đưa đi xuất khẩu thì có tới 101014 lao động
có tay nghề chiếm tỉ lệ 42,06% so với 139217 lao động chưa có nghề. Điều này cho
thấy tỉ lệ lao động có tay nghề của nước ta được đưa đi xuất khẩu chiếm một tỉ trong
khá cao. Đặc biệt vào năm 1980 tỉ lệ này là 100% còn từ những năm 1981 trở đi thì số
lượng lao động giản đơn được tăng lên, nguyên nhân chính là do yêu cầu của phía
Chính phủ các nước tiếp nhận lao động Việt Nam không yêu cầu về trình độ tay nghề
của lao động. Phần lớn các nước này phân phối ngay lao động Việt Nam vào các nhà
máy, cơ sở sản xuất. Họ tự kèm cặp đào tạo cho lao động nước ta để trở thành công
nhân thực thụ. Đây là một đặc điểm rất đặc biệt của lao động Việt Nam khi đi làm việc
ở nước ngoài kể từ trước đến nay. Nó cũng rất khác biệt với hoạt động xuất khẩu lao
động của các nước khác trong khu vực như Philippin, Thái Lan…trong cùng khoảng
thời gian này.
Về cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam xuất khẩu được thể hiện ở bảng
số liệu sau:
BẢNG 3: SỐ LIỆU VỀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ CỦA LAO ĐỘNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status