Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 4 * 2018
Nghiên cứu Y học
TỈ LỆ TÁO BÓN MẠN CHỨC NĂNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở TRẺ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG
Võ Loan Anh*, Tạ Văn Trầm*, Võ Hữu Đức*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ táo bón mạn chức năng và các yếu tố liên quan ở trẻ em đến khám tại phòng khám
nhi, bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2017.
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả.
Đối tượng nghiên cứu: Trẻ từ 1 - 5 tuổi đến khám để được tư vấn dinh dưỡng và sức khỏe tổng quát tại
phòng khám nhi, bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang được nghiên cứu viên chẩn đoán tình trạng táo bón
và cha hoặc mẹ của trẻ được phỏng vấn các câu hỏi có liên quan đến tình trạng táo bón của trẻ bằng phiếu thu
thập số liệu soạn sẵn. Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 19.0.
Kết quả: Qua khảo sát 33 trẻ từ 1 - 5 tuổi đến khám tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang cho kết
quả: tỉ lệ táo bón mạn tính chức năng 30,3%. Về giới tính, trong 18 trẻ trai có 3 trẻ với tỷ lệ 16,7% có táo bón
mạn tính chức năng, trong 15 trẻ gái có 7 trẻ với tỷ lệ 46,7% có táo bón mạn tính chức năng. Mức độ đồng thuận
về tình trạng táo bón giữa chẩn đoán lâm sàng và cảm nhận của cha mẹ ở mức trung bình (Hệ số đồng thuận
Kappa = 0,355).
Kết luận: Tỉ lệ táo bón mạn tính chức năng ở trẻ đến phòng khám là khá cao 30,3%. Đa số phụ huynh chưa
nhận biết con mình bị đang có tình trạng táo bón mạn tính chức năng.
Từ khóa: Táo bón, trẻ em.
ABSTRACT
THE RATIO OF CHILDREN WITH FUNCTIONAL CHRONIC CONSTIPATION AND ITS
ASSOCIATED FACTORS
Vo Loan Anh, Ta Van Tram, Vo Huu Duc
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 22 - No 4- 2018: 61 – 68
Objectives: To determine the ratio of children with functional chronic constipation disease status and its
hiệu sức khoẻ của trẻ mọi lứa tuổi. Táo bón là một
dạng rối loạn sự thải phân. Táo bón ở trẻ em là
vấn đề khá thường gặp. Nó chiếm hơn 3% lý do
đưa trẻ đến khám và 30% đưa trẻ đến khám
chuyên khoa tiêu hóa(2,9,10). Nó xuất hiện trong
năm đầu ở 17 - 40% trẻ bón(4). Nguyên nhân của
táo bón trẻ em rất đa dạng, nhưng qua giai đoạn
sơ sinh nguyên nhân thường gặp nhất của táo
bón là chức năng chiếm 90%(3).
Táo bón chức năng gây nhiều hậu quả về y
học và xã hội nếu tiến triển nặng hoặc trở thành
táo bón mãn tính. Vấn đề điều trị không phức
tạp, nhưng thời gian điều trị duy trì và theo dõi
kéo dài nên rất cần có sự hiểu biết và hợp tác của
người chăm sóc trẻ. Ở nước ta cho tới nay táo bón
trẻ em còn là vấn đề bỏ ngỏ, chưa có nhiều
nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
nhằm xác định tỉ lệ trẻ bị táo bón mạn chức năng
trong các trẻ đến khám tại bệnh viện đa khoa
trung tâm Tiền Giang và tìm mối liên quan của tỷ
lệ táo bón mạn tính chức năng với kiến thức hành
vi của người chăm sóc trẻ trực tiếp.
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
quát, dinh dưỡng tại phòng khám Nhi, bệnh viện
Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, cha mẹ đồng ý
tham gia nghiên cứu(3). Các tiêu chuẩn chẩn đoán
và điều trị táo bón ở trẻ em theo các khuyến cáo
Trẻ ≥ 4 tuổi * và không đủ
tiêu chuẩn chẩn đoán hội
chứng ruột kích thích
Tiêu chuẩn chọn mẫu
1. Tiêu < 2 lần mỗi tuần.
1. Tiêu < 2 lần mỗi tuần.
2. Són phân ít nhất 1 lần mỗi 2. Són phân ít nhất 1 lần mỗi
tuần sau khi đã biết đi cầu.
tuần sau khi đã biết đi cầu.
3. Tiền sử nín giữ phân.
3. Có tư thế nín giữ phân
4. Tiền sử tiêu phân cứng hoặc hoặc tiền sử nín giữ phân tự
ý.
đau khi tiêu.
4.
Tiền
sử
tiêu
phân cứng
5. Có khối phân lớn trong trực
hoặc đau khi tiêu.
tràng.
6. Tiền sử tiêu phân lớn, nghẹt 5. Có khối phân lớn trong
trực tràng.
bồn cầu. Các triệu chứng đi
kèm có thể là quấy, giảm thèm 6. Tiền sử tiêu phân lớn,
ăn và/hoặc no ngang. Các triệu
Biến số nền của mẫu nghiên cứu
Kiến thức về dự phòng táo bón: là biến định
tính danh định gồm 4 giá trị: chế độ ăn uống với
nhiều rau, trái cây, uống đủ nước có thể ngừa táo
bón, tập thói quen đi tiêu đều đặn hàng ngày,
tăng cường vận động cho trẻ.
Người chăm sóc trực tiếp cho trẻ: là biến
định tính danh định, gồm 4 giá trị là cha mẹ, ông
bà, khác (ghi cụ thể……).
Giới tính của trẻ: là biến nhị giá, gồm 2 giá trị
là trai và gái.
Tuổi của trẻ: là biến định lượng liên tục, đơn
vị tính là tháng tuổi.
Tình trạng dinh dưỡng: là biến giá định tính
danh định gồm 3 giá trị: thiếu cân, vừa cân, thừa
cân béo phì. Tình trạng cân nặng được đánh giá
theo tiêu chuẩn của WHO ở 2 nhóm tuổi khác
nhau như sau(4,9,10):
1. Thiếu cân: Z-scores (BMI) < -2SD
2. Vừa cân: 2SD ≤ Z-scores (BMI) ≤ 2SD đối
với trẻ 24-60 tháng và -2SD ≤ Z-scores (BMI) ≤
1SD đối với trẻ ≥ 61tháng.
3. TCBP: Z-scores (BMI) > 2SD đối với trẻ 2460 tháng và Z-scores (BMI) > 1SD đối với trẻ ≥
61tháng.
Biến số đánh giá hành vi liên quan đến táo bón
Tuổi bắt đầu tập đi tiêu trên bô: là biến định
là biến danh định, gồm 3 giá trị: ăn được nhiều,
ăn rất ít, không ăn.
Kiến thức về hậu quả của táo bón: là biến
định tính danh định, gồm 5 giá trị: bệnh trĩ, sa
niêm mạc trực tràng, ảnh hưởng sự phát triển
tâm lý và sinh hoạt của trẻ, són phân.
Kiến thức về xử trí khi trẻ táo bón: là biến
định tính danh định gồm 4 giá trị: đưa trẻ đi
khám khi có triệu chứng táo bón, bơm thuốc vào
hậu môn để trẻ đi tiêu được trong trường hợp
cấp và sau đó đưa trẻ đi khám, sử dụng thuốc
bơm hậu môn cho trẻ để giải quyết tình trạng táo
bón tại nhà, điều chỉnh chế độ ăn uống để giải
Chuyên Đề Nhi Khoa
Trẻ có biếng ăn qua cảm nhận của người
nuôi: là biến nhị giá, gồm 2 giá trị có và không.
Trẻ có táo bón qua cảm nhận của cha mẹ là
biến nhị giá: gồm 2 giá trị có và không.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm dân số mẫu nghiên cứu
Trong tổng số 33 trẻ gồm 18 trẻ trai (54,5%)
và 15 trẻ gái (45,5%) được đưa vào nghiên cứu. Về
tình trạng dinh dưỡng, đa số trẻ vừa cân (28 trẻ
với tỷ lệ 84,8%), 5 trẻ thừa cân béo phì (15,2%).
Thời gian trẻ đi tiêu phân su chủ yếu là dưới 1
ngày tuổi (16 trẻ với tỷ lệ 48,5%). Về tình trạng đi
Nhẹ cân
0
0
Vừa cân
28
84,8
Thừa cân béo phì
5
15,2
Thời gian đi tiêu phân su
< 1 ngày
16
48,5
1-2 ngày
7
21,2
9,1
Tình trạng táo bón mạn tính chức năng của trẻ
Bảng 2: Tình trạng táo bón mạn tính chức năng của
trẻ (n=33)
Tình trạng táo bón mạn tính chức năng
Có
Không
Tổng cộng
Tần số
Tỷ lệ %
10
23
33
30,3
69,7
100
Trong 33 trẻ được đưa vào nghiên cứu, tỷ lệ
trẻ được chẩn đoán táo bón mạn tính chức năng
là 30,3%.
Hành vi liên quan đến táo bón
Kết quả khảo sát cho thấy trong 33 trẻ được
đưa vào nghiên cứu, đa số trẻ bắt đầu đi tiêu trên
bô lúc 6-12 tháng tuổi (19 trẻ với tỷ lệ 57,6%). Đa
số trẻ chưa đi tiêu theo giờ cố định (27 trẻ với tỷ lệ
18,2
Không
27
81,8
Tuổi bắt đầu uống sữa bột
< 6 tháng
24
72,7
6 – 12 tháng
9
27,3
Tuổi bắt đầu cho ăn dặm
< 6 tháng
8
24,2
6 – 12 tháng
25
75,8
Trẻ có ăn đươc rau, củ trong các bửa ăn chính
Ăn rất giỏi
14
42,4
Ăn ít
18
54,5
Không ăn
1
3,0
Trẻ có ăn được trái cây trong các bữa ăn phụ
Ăn được nhiều
điều trị lâu dài 60% trả lời không rõ, 33% trả lời
đồng ý. Táo bón mạn tính chức năng uống thuốc
kéo dài đa số đều cho là có hại cho sức khỏe 72%,
không rõ 27%.
Chuyên Đề Nhi Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 4 * 2018
Bảng 4: Kiến thức và thái độ của người chăm sóc về
tình táo bón (n=33)
Tần số
Tỷ lệ %
Kiến thức về táo bón
Yếu tố nào dẫn đến táo bón ở trẻ em
Ăn ít rau trái cây
28
84,8
Nghiên cứu Y học
Kappa = 0,355 cho thấy mức độ đồng thuận về
tình trạng táo bón giữa chẩn đoán lâm sàng và
cảm nhận của cha mẹ ở mức trung bình.
Bảng 5: Mức độ đồng thuận giữa tình trạng táo bón
mạn tính chức năng được chẩn đoán với nhận định
66,7
Sa niêm mạc trực tràng
9
27,3
Ảnh hưởng tâm lý
7
21,2
Ảnh hưởng sinh hoạt
6
18,2
Són phân.
4
12,1
Anh/Chị làm gì đầu tiên khi trẻ bị bón
Bơm thuốc hậu môn
Sai
5
15,2
Không rõ điều này
13
39,4
Táo bón kéo dài dễ tái phát
Đúng
11
33,3
Sai
2
6,1
Không rõ điều này
20
60,6
72,7
Không rõ điều này
9
27,3
Mức độ đồng thuận giữa tình trạng táo bón mạn
tính chức năng được chẩn đoán với nhận định
của cha mẹ
Có 10 trẻ được chẩn đoán có tình trạng táo
bón mạn tính chức năng khi thăm khám, tuy
nhiên chỉ có 7 trẻ được cha mẹ cảm nhận là có táo
bón. Trong tổng số 23 trẻ không có tình trạng táo
bón mạn tính chức năng thì có 7 trẻ cha mẹ cảm
nhận trẻ đang bị táo bón. Hệ số đồng thuận
Chuyên Đề Nhi Khoa
Cha mẹ cảm
nhận
Tổng
cộng
Có
Không
chức năng với đặc điểm dân số học của trẻ
Bảng 6: Mối liên quan giữa tình trạng táo bón
mạn tính chức năng với đặc điểm dân số học của
trẻ (n=33)
Có táo bón MTCN
Có n(%) Không n(%)
Giới
Trai
3(16,7) 15(83,3)
Gái
7(46,7)
8(53,3)
Lứa tuổi
48 tháng
3(30)
7(70)
Tình trạng dinh dưỡng
Vừa cân
tháng có táo bón mạn tính chức năng là 33,3%;
tỷ lệ trẻ trong 10 trẻ > 48 tháng có táo bón mạn
tính chức năng là 30%. Tỷ lệ trẻ táo bón mạn
tính chức năng ở trẻ thừa cân béo phì (60%) cao
hơn ở trẻ vừa cân (25%).
Tuy nhiên, các sự khác biệt không có ý
65
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 4 * 2018
nghĩa thống kê với phép kiểm Fisher và
p>0,005.
Mối liên quan giữa tình trạng táo bón mạn tính
chức năng với hành vi của trẻ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ trẻ bị táo
bón mạn tính chức năng ở trẻ đi tiêu không cố
định (33,3%) cao hơn ở trẻ đi tiêu cố định
(16,7%); trẻ uống sữa bột lúc 0,005.
Tổng cộng
24(100)
9(100)
chức năng
Tuổi ăn dặm
< 6 tháng
>6 tháng
Tình trạng
Có
2(25)
8(32)
táo bón
Không
6(75)
17(25)
mạn tính
Tổng cộng
8(100)
25(100)
chức năng
Tiền sử táo bón theo cảm
nhận của cha mẹ
Có
Không
Tình trạng
Có
7(50)
3(15,8)
táo bón
Không
> 0,05
> 0,05
BÀN LUẬN
Tình trạng táo bón mạn tính chức năng của trẻ
Trong 33 trẻ được đưa vào nghiên cứu, tỷ lệ
trẻ được chẩn đoán táo bón mạn tính chức năng
là 30,3%. Về giới tính, trong 18 trẻ trai có 3 trẻ với
tỷ lệ 16,7% có táo bón mạn tính chức năng, trong
15 trẻ gái có 7 trẻ với tỷ lệ 46,7% có táo bón mạn
tính chức năng. Trẻ gái táo bón mạn tính chức
năng nhiều hơn có thể do trẻ ít năng động, không
chịu đi tiêu nơi thiếu điều kiện vệ sinh. Kết quả
này tương tự như nghiên cứu của Lê Thị Hồng
Minh(3). Cần làm thêm nghiên cứu tâm lý hành vi
của bé gái để tìm cách giáo dục trẻ.
Tỷ lệ trẻ táo bón mạn tính chức năng ở trẻ
thừa cân béo phì (60%) cao hơn ở trẻ vừa cân
(25%). Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê với phép kiểm Fisher và p > 0,005. Điều
này có thể do trẻ béo phì có chế độ ăn nhiều
đường, đạm, béo, ít ăn rau trái cây, ít vận động.
Điều này là yếu tố cần lưu ý khai thác táo bón
mạn tính chức năng ở trẻ béo phì.
Đa số trẻ bắt đầu uống sữa bột lúc dưới 6
tháng tuổi (24 trẻ với tỷ lệ 72,7%). Tỉ lệ này khá
cao, do đó cần tuyên truyền rộng rãi hơn từ các
bệnh viện sản về vấn đề cho con bú mẹ hoàn toàn
chỉ 24% đưa đi khám. Táo bón mạn tính chức
đi tiêu không cố định (33,3%) cao hơn ở trẻ đi
năng đa số trả lời khó điều trị với tỉ lệ là 45%.
tiêu cố định (16,7%). Tuy nhiên, các sự khác biệt
KIẾNNGHỊ
không có ý nghĩa thống kê với phép kiểm Fisher
và p > 0,005. Điều này rất phù hợp với hướng dẫn
phòng và điều trị bón cần rèn luyện trẻ đi tiêu cố
định vào một thời điểm trong ngày.
Táo bón mạn tính chức năng đa số trả lời khó
Bác sỹ phòng khám nhi cần chú ý đánh giá
tình trạng táo bón mạn tính chức năng của trẻ em
đến khám dù với lý do khám không liên quan để
có hướng dẫn đúng cho phụ huynh và can thiệp
điều trị sớm sẽ cho kết quả điều trị tốt hơn.
điều trị đa số (45%), 55% không rõ. Táo bón mạn
tính chức năng dễ tái phát và táo bón mạn tính
chức năng phải điều trị lâu dài 60% trả lời không
rõ, 33% trả lời đồng ý. Táo bón mạn tính chức
năng uống thuốc kéo dài đa số đều cho là có hại
cho sức khỏe 72%, không rõ 27%. Điều này chứng
tỏ phụ huynh đa số không biết về vấn đề điều trị
táo bón mạn tính chức năng và tỉ lệ lớn cho rằng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
độ ăn không giúp phòng ngừa táo bón ở trẻ em
mà cần phối hợp nhiều phương pháp: tập thói
4.
quen đi tiêu đều đặn, không nên nín nhịn lâu,
chế độ ăn, tâm lý.
5.
KẾT LUẬN
Tỉ lệ táo bón mạn tính chức năng ở trẻ đến
6.
phòng khám là khá cao 30,3%. Xử trí đầu tiên khi
thấy trẻ bón, đa số chọn tự xử trí trước bằng thay
đổi chế độ ăn (45%), tự bơm thuốc hậu môn 30%,
Chuyên Đề Nhi Khoa
7.
Bệnh viện Nhi Đồng 1 (2012) Phác đồ điều trị Nhi khoa
68
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 4 * 2018
/>Viện Dinh dưỡng quốc gia (2014) Cách phân loại và đánh
giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào Z-Score, Accessed at
/>WHO AnthroPlus for personal computers Manual:
Software for assessing growth of the world's children and
adolescents (2009) WHO AnthroPlus. Geneva: WHO.
10.
World Health Organization (2016). Measuring overweight
and
obesity,
/>
Ngày nhận bài báo:
14/06/2017
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
14/07/2018
Ngày bài báo được đăng:
30/08/2018
Chuyên Đề Nhi Khoa