TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIÊN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
DANH HÒA AN
KỸ THUẬT CHĂM SÓC NẤM BÀO NGƯ XÁM ( Pleurotus
ostreatus )
THỬ NGHIỆM TRỒNG NẤM RƠM (Volvariella volvacea)
TRÊN PHÔI NẤM BÀO NGƯ XÁM SAU THU HOẠCH
BÁO CÁO
HỌC PHẦN: Thực Tập Ngành Nghề CNSH
Tháng 8, 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIÊN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
DANH HÒA AN
CBHD : Ks. Lê Trần Chí Hiền
KỸ THUẬT CHĂM SÓC NẤM BÀO NGƯ XÁM ( Pleurotus
ostreatus )
THỬ NGHIỆM TRỒNG NẤM RƠM (Volvariella volvacea )
TRÊN PHÔI NẤM BÀO NGƯ XÁM SAU THU HOẠCH
BÁO CÁO
HỌC PHẦN: Thực Tập Ngành Nghề CNSH
sánh sử dụng thành phần dinh dưỡng thích hợp khi trồng nấm rơm. Trong
i
suốt quá trình thực tập điều tôi cảm thấy vui nhất là được làm việc cùng
những người bạn, những anh chị đầy lòng nhiệt tình. Cùng nhau dùng buổi
trưa và nghỉ ngơi tuy đơn giản nhưng đầy ắp tình cảm mọi người dành cho
nhau. Qua chuyến thực tập lần này tôi biết áp dụng được kiến thức chuyên
môn vào thực tiễn, học được tác phong, kỹ năng, thái độ khi làm việc. Giúp
tôi có thêm sự tự tin và yêu mến thêm ngành công nghệ sinh học mà mình
đang theo học.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo và các anh chị cán
bộ của Công ty cổ phần phát triển Nông nghiệp Hải Âu đã tạo cơ hội thuận
lợi và luôn quan tâm hướng dẫn nhiệt tình cho tôi khi còn đang thực tập tại
công ty. Trong suốt quãng đời sinh viên đây là một kỷ niệm thật đẹp và là
hành trang để tôi vững vàng bước ra xã hội. Xin được gửi lời chúc sức khỏe
dồi dào đến ban lãnh đạo và anh chị cán bộ của công ty, chúc công ty ngày
càng phát triển vững mạnh.
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
..................................................................................................
i
MỤC LỤC
.................................................................................
4
CHƯƠNG 3
...................................................................................................
19
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
..................................................................
19
CHƯƠNG 4
...................................................................................................
26
KẾT QUẢ
.......................................................................................................
26
iii
DANH SÁCH HÌNH
Hình
v
vi
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề.
Nấm ăn đã được nuôi trồng từ rất lâu trên thế giới. Từ trước công
nguyên đã có những ghi chép đầu tiên về kỹ thuật trồng nấm. Ngày nay, giá
trị của nấm ăn ngày càng được gia tăng nhờ những minh chứng về giá trị
dinh dưỡng và khả năng trị bệnh của chúng. Nhiều loài nấm được sử dụng
làm dược liệu như: nấm linh chi ( Ganoderma lucidum), nấm bào ngư
(Pleurotus spp.), nấm chân chim (Schizophyllum commune), nấm đông cô
(Lentinus edodes), nấm phục linh (Poria cocos) (Nguyễn Lân Dũng (2008).
Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới từ
hàng trăm năm nay. Do đặc tính khác biệt với thực vật và động vật về khả
năng quang hợp, dinh dưỡng và sinh sản, nấm được xếp thành một giới
riêng. Giới nấm có nhiều loài, chúng đa dạng về hình dáng, màu sắc, gồm
nhiều chủng loại và sống ở khắp nơi. Cho đến nay, con ngưòi mới chỉ biết
đến một số loại để phục vụ cuộc sống. (Nguyễn Lân Dũng (2008).
Nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng
protein (đạm thực vật) chỉ sau thịt, cá, rất giàu chất khoáng và các axit amin
không thay thế, các vitamin A, B, C, D, E v.v… không có các độc tố. Có thể
coi nấm ăn như một loại “rau sạch” và “thịt sạch”. Ngoài giá trị dinh dưõng,
nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa
bệnh như: làm hạ huyết áp, chống bệnh béo phì, chữa bệnh đường ruột,
tẩy máu xấu. Nhiều công trình nghiên cứu về y học xem nấm như là một
có nhiều loài, chúng đa dạng về hình dáng, màu sắc, gồm nhiều chủng loại
và sống ở khắp nơi. Cho đến nay, con ngưòi mới chỉ biết đến một số loại
để phục vụ cuộc sống.
1.2
Mục tiêu chung
1.2.1 Mục tiêu
Xác định được quy trình kỹ thuật trồng nấm bào ngư xám và cách
chăm sóc để đạt hiểu quả cao nhất,
2
Tìm ra được tỉ lệ phối trộn dinh dưỡng để trồng nấm rơm trên môi
trường giá thể phôi nấm bào ngư xám sau thu hoạch và rơm để cho kết quả
trồng tối ưu nhất, sản phẩm đạt năng suất cao...
1.2.2 Mục tiêu củ thể
Khảo sát ảnh hưởng nhiệt độ và độ ẩm đến sự phát triển của nấm
bào ngư trồng trong nhà.
Khảo sát ảnh hưởng tỉ lệ phối trộn của giá thể mùn cưa sau thu hoạch
bào ngư xám và rơm đến sự phát triển của nấm rơm. Đánh giá từng loại giá
thể
Khảo sát tốc độ sinh trưởng của nấm rơm qua từng giá thể. Và tính
năng suất nấm rơm sau thu hoạch.
3
CHƯƠNG 2
khuẩn ở nấm bào ngư non cao hơn nấm bào ngư trưởng thành.
Với nhiều lợi ích to lớn và thiết thực như vậy. Nên có rất nhiều người
dùng nấm như một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, có thể thay thế cho các
sản phẩm có nguồn gốc từ động vật. Nấm bào ngư rất thích hợp đối với
những người ăn kiêng, người lớn tuổi.
Hình 2.1: Nấm bào ngư xám.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên cộng đồng nên thay đổi khẩu phần
ăn từ nhiều thịt sang tăng cường các loại rau, củ, quả. Tuy vậy, hiện nay,
đơn cử như tại Việt Nam, rất nhiều người đang lo ngại các loại rau bày bán
5
trên thị trường bị dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và tiềm ẩn rất nhiều
nguy cơ mất an toàn với sức khỏe. Trong tình hình này, ta có thể thay rau
bằng các loại thực vật sạch và an toàn hơn như nấm để vừa đảm bảo cung
cấp đủ lượng đạm thực vật cần thiết, lại vừa giúp phòng tránh nguy cơ bị
bệnh và bị nhiễm độc. Đặc biệt, trong các loại nấm ăn phổ biến hiện nay,
loài nấm bào ngư xám vừa có mùi vị ngon lại rất tốt với sức khỏe bởi chứa
nhiều hoạt chất có lợi và các chất chống ôxy hóa để giúp phòng chống
bệnh tật và hỗ trợ điều trị bệnh hiệu quả.
Phân loại khoa học nấm bào ngư
Giới (regnum):
Nấm (Fungi)
Ngành (phylum)
Nấm đảm (Basidiomycota)
nấm bào ngư thấp rất thích hợp với các trường hợp rối loạn tiêu hóa hay
thiếu máu não.
6
Thành phần chủ yếu là nước, một ít protid (4%), glucid (3.4%), chất
xơ, lipid. Hàm lượng vitamin cao nhất có thể kể là vitamin B3, PP, B5
(coenzym A) và B9 (acid folat).
Khoáng chất có được là potassium, phosphor, magnésium, sodium,
calcium, sắt và một ít kẽm, đồng, sélénium.
2.1.1.1 Chất đạm.
Hàm lượng đạm (protein) trong nấm có thấp hơn thịt cá, nhưng cao
hơn trong các loại rau quả. Đặc biệt, nấm chứa rất nhiều các acid amin,
trong đó có 9 loại acid amin cần thiết cho con người. Nấm rất giàu leucin và
lysin, là hai loại acid amin có ít trong ngũ cốc. Xét về chất lượng thì đạm ở
nấm không thua gì đạm ở động vật. Thông thường lượng đạm trong nấm
cũng thay đổi theo loài.
Thành phần dinh dưỡng trong Nấm có đầy đủ các acid amin thiết yếu như :
Isoleucine, leucine, methionine, phenylalanine, threonine, valine, tryptophan,
histidine. Đặc biệt nấm giàu lysine và leucine, ít tryptophan và methionine.
Tùy theo cơ chất trồng nấm mà hàm lượng đạm trong dinh dưỡng của nấm
có nhiều thay đổi. Nhưng nhìn chung, lượng đạm – thành phần dinh dưỡng
trong nấm là (10,5 – 30,4% ) chỉ đứng sao thịt và sữa, cao hơn các loại rau
cải, ngũ cốc như khoai tây (7,6%), bắ p cải (18,4%), lúa mạch (7,3%) và lúa
mì (13,2%). (Lê Duy Thắng, Trần Văn Minh (2001), Sổ tay hướng dẫn
trồng nấm, Nxb Nông Nghiệp.)
2.1.1.2 Chất sơ.
Thành phần dinh dưỡng trong nấm còn phải kể đến chất xơ. Tổng
lượng Carbohydrat và sợi: chiếm từ 51 – 88% trongnấm tươi và khoảng 4 –
2.1.2 Điều kiện ngoại cảnh và sự phát triển của nấm bào ngư
2.1.2.1 Điều kiện ngoại cảnh
Sự sinh trưởng của nấm bào ngư chịu tác động của nhiều yếu tố khác
nhau của môi trường như: nhiệt độ, độ ẩm, pH, ánh sáng, oxy…
+ Nhiệt độ cần cho quá trình ủ tơ trong khoảng 20 – 30oC và để nấm
tạo quả thể là từ 15 – 25oC.
8
+ Độ ẩm cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của quả thể. Trong
thời kỳ tưới đón nấm, độ ẩm không khí không được dưới 70%, tốt nhất ở
70 – 95%. Độ ẩm thấp hơn 70% quả thể bị vàng và khô mép. Độ ẩm ở
50%, nấm ngừng phát triển và chết, dạng bán cầu lệch và dạng lá bị khô
mặt và cháy vàng ở bìa mép mũ nấm. Ngược lại, độ ẩm cao (95%) chưa
hẳn đã tốt cho nấm, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống.
+ Cơ chất khi chế biến thường có những biến đổi về pH. Đối với
nấm bào ngư, khả năng chịu đựng sự dao động pH tương đối tốt, pH môi
trường có thể giảm xuống pH 4,4 hoặc tăng lên pH 9, tơ nấm vẫn mọc
được. Tuy nhiên, pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm bào ngư trong
khoảng pH 5 – pH 6. pH thấp làm quả thể không hình thành và ngược lại
pH quá kiềm làm tai nấm bị dị hình.
+ Ánh sáng chỉ cần thiết cho việc tạo nụ nấm. Ánh sáng tốt nhất là
khoảng 2000 lux, cường độ ánh sáng quá mạnh sẽ ngăn cản việc hình thành
nụ nấm. Đặc biệt quá trình nẩy mầm của bào tử và tăng trưởng của tơ nấm
bào ngư có liên quan đến nồng độ CO2 cao (22%), nhưng khi cần ra quả thể
thì nồng độ CO2 phải giảm và lượng oxy cần thiết tăng lên. Nếu không mũ
nấm sẽ hẹp lại trong khi chân nấm lại dài ra, dẫn đến tai nấm bị dị dạng. (
Lê Duy Thắng, Trần Văn Minh (2001), Sổ tay hướng dẫn trồng nấm, Nxb
Nông Nghiệp).
nấm vừa chuyển sang dạng lá. ( https://khoahoccaytrong.net/huongdanky
10
thuattrongnambaongutrenmuncua)
2.2 Giới thiệu nấm rơm
Nấm rơm (Volvariella volvacea) là loài nấm ăn được của vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới được trồng đầu tiên ở Trung Quốc vào đầu năm 1822.
Khoảng từ năm 19321935,nấm rơm được đưa vào Việt Nam, Malaysia và
các nước Đông Nam Á khác (Lê Thanh Hải, 2013).
Nấm rơm là loại nấm khá quen thuộc của nhân dân các nước Châu Á,
nhất là Đông Nam Á, chủ yếu là vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nấm
thường mọc trên nguyên liệu phổ biến là rơm nên có tên chung là nấm rơm
(Straw mushroom) (Trung tâm UNESCO, 2004).
Nấm rơm (còn gọi là Nấm rạ, Thảo Cô) có tên khoa học là Volvariella
volvacea (Bull. Ex Fr.), thuộc họ Pluteaceae, bộ Agaricales, lớp phụ
Hymenomycetidae, lớp Hymenomycetes, ngành phụ Basidiomycotina, ngành
Nấm thậtEumycota, giới NấmMycota hay Fungi (Nguyễn Lân Dũng,
2003).
Hình 2.4: Nấm rơm.
Nấm rơm có tên khoa học là Volvariella volvacea, có hơn 100 loài và
chỉ khác nhau về màu sắc có loại màu xám trắng, xám đen, có loại màu đen
nhung…kích thước đường kính Volvariella volvacea lớn nhỏ từng chủng
loài giống khác nhau. Volvariella volvacea thích hợp để sinh trưởng và phát
triển ở các vùng nhiệ t đới, vùng cận nhiệt đới như: Trung Quốc, Thái Lan,
11
Đài Loan, Việt Nam (Nguyễn Văn Đạt, 2010).
Bộ: Agaricales
Họ: Plutaceae
Chi: volvariella
Loài: volvariella volvacea
Tên khác: Nấm rạ, nấm đen, thảo cô, nấm trứng.
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng nấm rơm
Nấm rơm là một trong những loại thực phẩm được nhiều người yêu
thích, nấm có thể chế biến riêng hoặc có thể phối hợp với các món ăn, các
bài thuốc và được xem như là một loại “rau sạch”, “thịt sạch” có tỷ lệ
protein cao và các acid amin (trong đó có nhiều loại a cid amin không thay
12
thế được), không làm tăng lượng cholesterol trong máu như nhiều loại thịt
động vật, ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm rơm có thành phần chất xơ tương
đối cao và thành phần lipit thấp nên có khả năng phòng trừ bệnh về huyết
áp, chống bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, chữa bệnh đường ruột,…Tuy
nhiên, nếu nấm rơm quá già, chế biến không kỹ lưỡng, khi ăn số lượng
2.2.1.3 Hàm lượng chất khoáng
Tương tự hầu hết các loại rau cải, nấm là nguồn khoáng rất tốt. Nấm
rơm được ghi nhận là giàu Kali, Calci, Phosphat, chúng chiếm từ 5670%
lượng tro tổng cộng, Phosphat và sắt thường hiện diện ở phiến lá và mũ
nấm. Ở quả thể trưởng thành, thì lượng Na và P giảm, trong khi K, Ca giữ
nguyên. Ăn nấm bảo đảm bổ sung đầy đủ cho nhu cầu về khoáng mỗi ngày
(Lê Duy Thắng, 1997). Tỷ lệ từng nguyên tố trong tổng số muối khoáng ở
nấm rơm (%) thay đổi tùy vào từng giai đoạn phát triển của quả thể nấm.
2.2.1.4 Hàm lượng vitamin
Nấm rơm còn cần được cung cấp một số nguyên tố khoáng và
vitamin để quá trình sinh trưởng và phát triển.
Nguồn vitamin như: vitamin B1, vitamin B6, vitamin H …Các nguồn
vitamin này có trong các loại bột cám bắp hoặc cám gạo.
Nấm rơm có chứa phong phú các loại vitamin, lượng vitamin có trong
100 gram nấm rơm tươi như sau: vitamin B1: 0,35 mg, vitamin B2: 1,632,98
mg, axit nicotinic (B5): 64,88 mg, vitamin C: 158,44206,27 mg,…(Nguyễn
Lân Dũng, 2003).
2.2.1.5 Nước
Nước là thành phần cơ bản trong tế bào sợi nấm và quả thể nấm,
thường chiếm khoảng 8090% trọng lượng quả thể nấm. Do vậy trong quá
trình trồng nấm rơm cần cung cấp đủ nhu cầu nước cho nấm sinh trưởng
và phát triển.
Bào tử chỉ có khả năng nảy mầm hay sợi nấm chỉ có khả năng sinh
trưởng khi độ ẩm cơ chất từ 65 – 75%. Nếu thiếu nước sợi nấm sẽ chết,
14
quả thể nấm không hình thành hoặc hình thành nhưng không lớn.
Chất lượng của nguồn nước cung cấp trong quá trình trồng nấm cũng
ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển quả thể, do vậy nước cung cấp
những hoạt động biến dưỡng bên trong nấm.
2.2.2.6 Độ pH
pH môi trường nấm rơm có thể phát triển tốt là 67,5. Vì vậy cần lưu
ý nước tưới cho nấm rơm phải là nước ngọt, không nhiễm phèn, không
nhiễm mặn, không nhiễm bẩn nhất là ô nhiễm thuốc sát trùng
2.2.3 Sự phát triển của nấm rơm.
Theo Lê Duy Thắng (1997), hiện nay trên thế giới có khoảng 100 loài
nấm rơm, trong đó có khoảng 20 loài được ghi nhận và mô tả. Nấm rơm
(Volvariella volvacea) có đặc điểm sau:
Nấm rơm không có khả năng quang hợp, có đời sống hoại sinh, dự trữ
đường dưới dạng glycogen, sinh sản chủ yếu bằng bào tử và lấy chất dinh
dưỡng thông qua màng tế bào sợi nấm…
2.2.3.1 Tai nấm
Tai nấm lúc còn non được bao trong vỏ bọc (Volva) từ dạng hình cầu,
dạng nút đến dạng trứng, dạng kéo dài. Khi trưởng thành, tai nấm sẽ xé vỏ
bọc và vươn mũ lên cao, bao gốc lúc này chỉ còn lại phần trùm lấy phần
gốc chân cuống nấm. Bao gốc là hệ sợi tơ nấm có chứa sắc tố melanin tạo
ra màu đen ở bao và độ đậm nhạt tuỳ thuộc vào ánh sáng nếu ánh sáng càng
nhiều thì bao gốc càng đen. Bao gốc đóng vai trò bảo vệ nấm tránh tia tử
ngoại, côn trùng, ngăn chặn sự thoát hơi nước của các cơ quan bên trong.
2.2.3.2 Cuống nấm
Cuống nấm là bó sợi xốp dài từ 38 cm, đường kính 0,51,5 cm, xếp
theo kiểu vòng tròn đồng tâm, khi còn non thì mềm và dòn nhưng khi già lại
cứng.
Cuống nấm đưa mũ nấm lên cao để phát tán bào tử đi xa, đồng thời
vận chuyển dinh dưỡng cung cấp cho mũ nấm.
2.2.3.3 Mũ nấm
Mũ nấm hình nón, cũng có melanin nhưng nhạt dần từ trung tâm ra rìa
16