Luận văn Thạc sỹ khoa học Khí tượng và khí hậu học: Nghiên cứu dự báo hạn mùa các đợt xâm nhập lạnh đến Việt Nam bằng mô hình khí hậu khu vực - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Vũ Văn Khương

NGHIÊN CỨU DỰ BÁO HẠN MÙA CÁC ĐỢT XÂM NHẬP
LẠNH ĐẾN VIỆT NAM BẰNG MÔ HÌNH KHÍ HẬU KHU VỰC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Vũ Văn Khương

NGHIÊN CỨU DỰ BÁO HẠN MÙA CÁC ĐỢT XÂM NHẬP
LẠNH ĐẾN VIỆT NAM BẰNG MÔ HÌNH KHÍ HẬU KHU VỰC

Chuyên ngành: Khí tượng và khí hậu học
Mã số: 60440222
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS. TS. Phan Văn Tân

Hà Nội - 2017
2

1.1. Khái niệm..........................................................................................................9
1.1.1. Khái niệm và định nghĩa về gió mùa ..........................................................9
1.1.2. Những nhân tố hình thành gió mùa ..........................................................11
1.1.3. Khái niệm về không khí lạnh ....................................................................12
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ...................................................................14
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước ...................................................................19
1.4. Nhận xét chung ...............................................................................................22
Chương 2. Số liệu và phương pháp ............................................................................24
2.1. Số liệu quan trắc các đợt KKL ở Việt Nam ....................................................24
2.2. Số liệu tái phân tích ERA - Interim. ...............................................................24
2.3. Khu vực tính toán số liệu. ...............................................................................24
2.4. Số liệu dự báo từ các mô hình khu vực ..........................................................25
2.4.1. Giới thiệu sơ bộ chung về hai mô hình RegCM và WRF .........................25
2.4.2. Mô tả cách thực hiện chạy dự báo. ..........................................................26
2.4.3. Số liệu mô hình được sử dụng trong luận văn. ........................................28
2.5. Các chỉ tiêu xác định KKL xâm nhập. ............................................................28
2.5.1. Chỉ tiêu 1. .................................................................................................28
2.5.2. Chỉ tiêu 2. .................................................................................................28
2.5.3. Chỉ tiêu 3. .................................................................................................29
2.5.4. Chỉ tiêu 4 ..................................................................................................29
2.5.5. Chỉ tiêu 5 ..................................................................................................29
2.6. Phương pháp dự báo hạn mùa các đợt xâm nhập lạnh đến Việt Nam bằng mô
hình khí hậu khu vực. ............................................................................................30
2.7. Phương pháp đánh giá. ...................................................................................32
2.7.1. Sai số trung bình hay sai số hệ thống ME ................................................32

2


2.7.2. Sai số trung bình tuyệt đối MAE ..............................................................32

Hình 2.1 Khu vực tính toán số liệu trong luận văn

25

Hình 2.2. Sơ đồ cấu trúc của phương pháp xây dựng luận văn.

31

Hình 3.1. Kết quả số đợt KKL phát hiện bởi bộ chỉ tiêu 3.

33

Hình 3.2. Kết quả số đợt KKL phát hiện bởi bộ chỉ tiêu 4.

34

Hình 3.3. Biểu đồ tần suất xuất hiện của các đợt KKL theo giá trị biến

35

thiên khí áp trung bình 24 giờ (%).
Hình 3.4. Đồ thị khảo sát yếu tố gió tại khu vực 2.

38

Hình 3.5. Bộ chỉ tiêu xác định các đợt KKL trên cơ sở số liệu tái phân tích

43

ERA Interim trong 22 mùa đông (từ tháng 9 năm 1993 đến hết tháng 6 năm

42

trên bộ số liệu tái phân tích ERA interim trong 22 mùa đông (từ tháng 8
năm 1993 đến hết tháng 6 năm 2015).
Bảng 3.5. Số đợt KKL khống phát hiện bởi bộ chỉ tiêu CTK từng tháng

44

trên bộ số liệu tái phân tích ERA interim trong 22 mùa đông (từ tháng 8
năm 1993 đến hết tháng 6 năm 2015).
Bảng 3.6. Số đợt KKL trong từng tháng dự báo bằng mô hình RegCM cho

45

các hạn 1-6 tháng
Bảng 3.7. Bảng số liệu so sánh giữa thực tế quan trắc với số đợt KKL của

46

mô hình RegCM dự báo trong 3 mùa đông
Bảng 3.8. Số đợt KKL trong từng tháng dự báo bằng mô hình WRF cho

47

các hạn từ 1 đến 6 tháng.
Bảng 3.9. Bảng số liệu so sánh giữa thực tế quan trắc với số đợt KKL của
mô hình WRF dự báo trong 3 mùa đông

5


báo về không khí lạnh với thời hạn vừa (dưới 10 ngày) nên chưa đáp ứng được yêu
cầu đòi hỏi của các lực lượng tàu Hải quân hoạt động trên biển. Chính vì vậy, việc
có thể chủ động đưa ra các bản tin khí hậu hạn dài, đặc biệt là thông tin về hoạt
động của gió mùa với thời hạn dài (từ 1 đến 3 tháng) là rất cần thiết cho việc lên kế
hoạch hoạt động của các lực lượng Hải quân.
Hiện nay, tại Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ương và các đài khí
tượng khu vực đã sử dụng sản phẩm dự báo của các mô hình số trị để tham khảo
nhằm đưa ra các bản tin dự báo, đặc biệt là các bản tin hạn vừa và hạn dài. Tuy
nhiên, vẫn chưa một bộ chỉ tiêu xác định các đợt không khí lạnh cho các sản phẩm
của các mô hình khí hậu một cách đầy đủ và chi tiết. Do đó, việc nghiên cứu và đưa
ra một bộ chỉ tiêu xác định các đợt xâm nhập lạnh trên cơ sở số liệu sản phẩm mô
hình khí hậu là rất cần thiết cho công tác dự báo ở các cơ quan làm công tác dự báo
khí tượng.
Ngoài ra, hiện nay đã có những công trình nghiên cứu về việc sử dụng các sản
phẩm của mô hình dự báo số trị để đưa vào hoạt động nghiệp vụ dự báo tại Việt
Nam về gió mùa mùa hè nhưng các công trình nghiên cứu về gió mùa mùa đông
còn rất hạn chế mặc dù một số nước trong khu vực đã có nghiên cứu về vấn đề này.
Như vậy, việc ứng dụng các sản phẩm của mô hình dự báo số trị vào hoạt động

7


nghiệp vụ là cần thiết và có cơ sở khoa học. Trong luận văn này, tác giả bước đầu
thử nghiệm xây dựng một bộ chỉ tiêu xác định các đợt không khí lạnh trên cơ sở số
liệu tái phân tích và bước đầu thử nghiệm áp dụng vào số liệu sản phẩm của các mô
hình số trị nhằm đưa ra các nhận xét, đánh giá khả năng sử dụng các sản phẩm mô
hình dự báo khí hậu này vào trong nghiệp vụ.

8



9


Ngoài ra, trong bộ tiêu chí mà Trần Công Minh đưa ra thì tiêu chí 4 là một tiêu
chí rất quan trọng, bởi vì xét sự thay đổi gió theo mùa phải loại bỏ chuyển động qui
mô nhỏ. Như vậy, vùng có gió mùa chủ yếu trên trái đất theo định nghĩa của
Ramage được giới hạn trong phạm vi từ 250S - 350N và từ 300W-1700E, chiếm hầu
hết vùng nhiệt đới của bán cầu Đông. Các khu vực này cũng thỏa mãn các nhân tố
hình thành nên gió mùa: sự tương phản nhiệt theo mùa, địa hình và lực Coriolis đủ
mạnh,....

Hình 1.1 Phân vùng gió mùa của Trần Công Minh.
Đường đậm nét (EF) là ranh giới phía bắc của khu vực có tần suất chuyển đổi
nhỏ giữa xoáy thuận và xoáy nghịch vào mùa hè và mùa đông ở Bắc bán cầu . Phần
giới hạn trong hình chữ nhật là khu vực gió mùa Đông Nam Á (bao gồm: Việt Nam,
Lào Campuchia, Thái Lan, Brunei, Tây Malayxia và Singapo).
1. Khu vực có xu thế gió mùa (tần suất gió thịnh hành < 40%).
2. Khu vực gió mùa (tần suất gió thịnh hành từ 40-60%).
3. Khu vực gió mùa điển hình (tần suất gió thịnh hành > 60%).
Nguồn: Giáo trình Khí tượng Synop nhiệt đới, Trần Công Minh, NXB Đại học
quốc giá Hà Nội 2003. [6]
Trước đây, các nhà khoa học trên thế giới cho rằng chỉ tồn tại ba hệ thống gió
mùa: gió mùa châu Phi, gió mùa châu Á và gió mùa châu Úc. Tuy nhiên, trong

10


những thập niên vừa qua, nhờ các chương trình quan trắc khí tượng toàn cầu và các
chương trình nghiên cứu thực nghiệm gió mùa trên các khu vực, những kết quả


được mở rộng hơn cả về qui mô ngang và qui mô thẳng đứng. Đồng thời gió mùa
cũng được tăng lên cả về cường độ. Ngoài ra, Gradient khí áp tăng lên cũng làm
tăng cường độ của đới gió mực thấp, do đó lại tiếp tục làm tăng lượng ẩm cung cấp
cho quá trình đối lưu – và một lần nữa làm tăng lượng ẩn nhiệt giải phóng. Đây là
quá trình hồi tiếp cực kì quan trọng của cơ chế nhiệt động lực học gió mùa [10].
1.1.2.3. Sự quay của Trái Đất
Sự quay của trái đất gây ra lực Coriolis, lực Coriolis có tác dụng tạo xoáy và tăng
cường gió và làm cho các dòng khí trong gió mùa có quỹ đạo cong. Sự khác biệt về
hướng của lực Coriolis giữa hai bán cầu đã làm cho gió đổi hướng khi vượt qua xích
đạo.
Ngoài ra, còn có vai trò của một số yếu tố khác: lục địa - địa hình, ENSO....
- Địa hình của lục địa có vai trò như một nguồn nhiệt to lớn, có tác dụng tăng
cường và định hướng trường gió. Địa hình cao của hai dãy núi Đông Phi và
Himalaya giống như hai bức tường khổng lồ chặn các dòng vĩ hướng, tập trung
chúng thành dòng xiết mực thấp với tốc độ gió lên tới 25 m/s.
- ENSO cũng được coi là một trong những nguyên nhân chính trong sự thay đổi
hàng năm của đới gió mùa. Trong sự liên hệ với sự hoạt động của áp cao cận nhiệt
Tây Thái Bình Dương, ENSO gây ra sự biến đổi về cường độ gió cũng như lượng
mưa trên toàn bộ khu vực gió mùa.
1.1.3. Khái niệm về không khí lạnh
Theo tác giả Nguyễn Viết Lành [5] thì “không khí lạnh (KKL) là một hiện
tượng thời tiết nguy hiểm ảnh hưởng đến Việt Nam. Khi xâm nhập xuống nước ta,
nó làm thay đổi một cách cơ bản hệ thống gió đang tồn tại ở miền Bắc, trở thành hệ
thống gió có hướng lệch bắc và thời tiết biến đổi rõ rệt, đặc biệt có quá trình giảm
nhiệt độ trên diện rộng”.
Cũng theo tác giả thì mỗi đợt KKL được coi là xâm nhập hoặc ảnh hưởng đến
nước ta nếu thỏa mãn một trong hai điều kiện sau đây:
- Hướng gió lệch bắc ngoài khơi đo được tại trạm Bạch Long Vỹ từ cấp 6 trở
lên và kéo dài trên 3 tiếng (2 kỳ quan trắc liên tiếp).

lấy tốc độ gió quan trắc được tại trạm Bạch Long Vĩ (VBLV) để xác định cường độ
KKL (có tham khảo thêm các trạm đảo: Cô Tô, Hòn Dấu …).
* Xác định cường độ trong các bản tin GMĐB:
13


- Mạnh: VBLV  cấp 7 và kéo dài từ 2 quan trắc trở lên hoặc cấp 6 nhưng kéo
dài liên tục trên 8 quan trắc.
- Trung bình: VBLV  cấp 6 và kéo dài từ 2 quan trắc trở lên hoặc cấp 7
nhưng không kéo dài quá 1 quan trắc.
- Yếu: VBLV < cấp 6 hoặc cấp 6 nhưng kéo dài không quá 1 quan trắc.
* Xác định cường độ trong các bản tin KKLTC: Khi xét đến cấp độ mạnh,
trung bình, yếu cũng chỉ xét theo cấp độ gió như đối với GMĐB mà không xét đến
giảm nhiệt độ.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Theo Chen và cs (2004) [15] thì trung bình có xấp xỉ hai đợt không khí lạnh
mỗi tháng tràn về tại khu vực Đông Á. Trong khi đó, C. P. Chang và cs (2004) đưa
ra có khoảng từ 1-3 đợt không khí lạnh xảy ra mỗi tháng ở khu vực này. Những đợt
xâm nhập lạnh này là kết quả của sự di chuyển xuống phía nam của các tâm cao
lạnh trên khu vực Siberia xuống phía nam, kéo theo đó là sự tăng cường mạnh mẽ
của đới gió Đông Bắc (NE) và sự sụt giảm đột ngột của nhiệt độ bề mặt.
Theo Tsing Chang Chen, Ming Cheng Yen, Wan Ru Hoang và William A.
Gallus Jr. (2001) [27,12], không khí lạnh và những hiện tượng thời tiết nguy hiểm
liên quan trên khu vực Đông Nam Á vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ cho đến khi
Greenfield và Krishnamurti, 1979, đề cập đến trong cuốn Kinh nghiệm về Gió mùa
mùa đông (The Winter monsoon Experiment, WMONEX). Bản tóm tắt các nghiên
cứu trước và sau WMONEX của không khí lạnh, đặc biệt về quá trình tương tác
giữa khu vực nhiệt đới và khu vực vĩ độ trung bình đã được đưa ra đánh giá toàn
diện bởi Lau và Chang năm 1987. Tác giả cho rằng sự xuất hiện của không khí lạnh
thường được đặc trưng bởi sự giảm đột ngột của áp suất không khí bề mặt (Ps), sự

không khí lạnh đã ảnh hưởng tới Đài Loan.
Ngoài ra, Wu và Chan [29] cũng xác định đảo Waglan (22.100N – 114.180E)
của Hồng Kông làm địa điểm xác định không khí lạnh ảnh hưởng tới Hồng Kông.
Bộ chỉ tiêu này bao gồm: sự sụt giảm nhiệt độ trung bình ngày đạt ít nhất 20C sau
khi không khí lạnh tràn về 2 ngày và tốc độ gió thấp nhất phải đạt 8m/s trở lên cho
các trường hợp xâm nhập từ phía bắc (NS – North surge) hoặc là tốc độ của đới gió

15


đông phải tăng 1,39 m/s trong ngày không khí lạnh tràn về cho các trường hợp xâm
nhập lạnh từ phía đông (ES – East Surge).
Cục khí tượng Thái Lan [13] lại xác định trạm Udon Thani (một trạm ở phía
Đông Bắc của Thái Lan) làm nơi xác định không khí lạnh tràn về với bộ chỉ tiêu xác
định bao gồm cả bốn yếu tố: áp suất bề mặt tăng ít nhất 1,8 mb, tốc độ gió ở mực
850mb phải tăng ít nhất 2,6 m/s, nhiệt độ không khí giảm ít nhất là 1,70C và nhiệt
độ điểm sương giảm ít nhất 2,10C.
Zhang và cs (1997) [12,31] đưa ra một bộ chỉ tiêu để xác định các đợt xâm nhập
lạnh về Trung Quốc phải thỏa mãn hai điều kiện:
- Tại trung tâm của xoáy nghịch ở nam Siberia có giá trị lớn hơn 1030 mb.
- Nhiệt độ không khí bề mặt trong thời gian 24-48 giờ phải giảm từ 9.00C trở
lên tại vùng trung tâm lục địa Trung Hoa và giảm từ 6.00C trở lên tại các khu vực
phía nam của Trung Quốc.

Khu vực
Hàn Quốc
Đài Loan
H. Kông
Thái Lan*
Trung Quốc

-

-

< -7.5

-

Pengehiayu

≥ 5.0

≥ 3.0

≤ -4.0

-

ES

-

≥ 1.9

-

-

NS


-

-

≤ -6.0

-

Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu xác định một đợt KKL tại một số nước trong khu vực.
Ghi chú: 1, Trung Quốc được tác giả Zhang chia làm 3 khu vực: khu vực 1 là
phía nam Siberia, khu vực 2 là khu vực trung tâm của lục địa Trung Hoa và khu vực
3 là khu vực phía nam lục địa Trung Hoa.
2, Chỉ tiêu của Thái Lan thì chỉ tiêu tốc độ gió là vận tốc gió ở mực 850 mb.
Ngoài ra, nhiều nhà khoa học cũng đã đề cập tới chỉ tiêu xác định xâm nhập
lạnh trên vùng biển Đông và các vùng lân cận. Theo Chang và cs (1987) [12] thì

16


trên khu vực này sự biến thiên của áp suất và nhiệt độ bề mặt tương đối nhỏ, do đó
rất khó để xác định hiện tượng xâm nhập lạnh bằng chỉ tiêu biến thiên của khí áp
hay biến thiên của nhiệt độ. Tuy nhiên, sự thay đổi của đới gió Đông Bắc ở khu vực
này vẫn còn duy trì rất mạnh, ông cho rằng đây chính là chỉ tiêu chủ yếu để xác
định xâm nhập lạnh trên khu vực này. C.P. Chang và Jeng Ming Chen đã dùng
trường gió trung bình tại khu vực có tọa độ 18-200N, 110-1200 và đưa ra chỉ tiêu để
xác định xâm nhập lạnh ở khu vực này phải thỏa mãn hai tiêu chí:
- Trong 12-24 giờ sau khi có xâm nhập lạnh, tốc độ gió phải tăng ít nhất 5m/s.
- Tốc độ của đới gió Đông Bắc tại khu vực này phải duy trì lớn hơn hoặc bằng 7
m/s trong ít nhất 3 ngày trở lên.
Thêm nữa, khi nghiên cứu về không khí lạnh, nhiều nhà khoa học còn đưa ra


(50–600 N, 80-1400 E)

và ngược lại.

H500hPa (30–450N, 125-1450 E)

- Giá trị chỉ số càng lớn

V10m (25-400 N, 120-1400 E) –

thì EAWM càng nhỏ và

V10m (10-250 N, 110-1300 E)

ngược lại.

IJHUN

U300hPa

ISUN

H500hPa

ICHEN

V10m

Bảng 1.2. Một số nhóm chỉ số xác định cường độ của các đợt KKL.

đông (ES) lại không rõ ràng, nhiệt độ bề mặt chỉ giảm nhẹ (dưới 10C), áp suất bề
mặt ít thay đổi trong khi tốc độ của đới gió đông tăng khoảng 7m/s, đạt tốc độ
khoảng 12m/s ở khu vực Hồng Kông.
Năm 2006, Li Qiaoping và cs [36] đã dùng mô hình khí hậu khu vực RegCM
phiê bản RegCM_NCC với bước lưới 60km, 16 mực thẳng đứng để tái dự báo KKL
của 5 năm (1998-2002) và đưa ra một số kết luận:
- Mô hình có khả năng mô phỏng các đợt KKL với độ chính xác tương đối cao
về: cường độ, vị trí của áp cao Siberia và nhiệt độ không khí bề mặt ở khu vực
Đông Á và vùng lân cận, phù hợp với số liệu quan trắc, đặc biệt là với những đợt
KKL có cường độ mạnh.
- Mô hình đã mô phỏng tần suất xuất hiện của KKL một cách tương đối chính
xác cho khu vực Đông Á bao gồm cả các khu vực Biển Đông, biển Hoa Đông và
biển Nhật Bản. Ngoài ra, các mô phỏng về các trường nhiệt độ, áp suất, gió và
lượng mưa cũng cho kết quả khá tốt.
- Mô hình đã mô phỏng được chế độ nhiệt của khu vực cũng như chênh lệch
nhiệt giữa khu vực lục địa Đông Á và vùng biển lân cận.
18


- Mô hình đã mô phỏng được tương đối chính xác ảnh hưởng của El NINO và
La NiNa tới gió mùa mùa đông của khu vực này.
Năm 2017, Li Qiaoping và cs [37] tiếp tục nghiên cứu việc sử dụng mô hình
CFSv2 để dự báo KKL trong 11 năm từ 1999 - 2010 cho kết quả dự báo tương đối
tốt với thời hạn dự báo đến 45 ngày. Trong bài viết này, tác giả sử dụng trung bình
giá trị của trường các yếu tố dự báo của Cơ quan khí tượng Trung Quốc trong một
khu vực nằm trong ô vuông (20-550N, 105-1350E) để thay thế cho trung bình các
trường yếu tố dự báo này trên toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Trong bài báo này, tác
giả đã đưa ra một số kết luận đáng chú ý:
- Mô hình khí hậu CFSv2 đã bắt được tần số, cường độ và khu vực có KKL và
cho kết quả dự báo tốt nhất với thời hạn dự báo 15 ngày.

Vào năm 2011, tác giả Nguyễn Viết Lành [5] có đề tài nghiên cứu về sự ảnh
hưởng của KKL đến thời tiết, khí hậu Việt Nam. Trong đó, tác giả đưa ra sự di
chuyển và ảnh hưởng đến Việt Nam theo bốn đường cơ bản sau:
- Đường thứ nhất: KKL lệch tây, từ Tân Cương đi theo hành lang sông Hoàng
Hà, qua Vân Nam và phía tây Quảng Tây vào Việt Nam. Theo con đường này thì
KKL từ trung tâm tách ra từng bộ phận nhỏ xâm nhập xuống Việt Nam như những
đợt sóng. Có những trường hợp KKL lệch về phía tây hơn nữa thì có thể xâm nhập
xuống tới Thái Lan, thậm chí là Malayxia.
- Đường thứ hai: KKL di chuyển về phía nam vào biển Đông. Theo hướng này
thì KKL thường gây ra một vùng mưa diện rộng trước và sau front. Đây là hướng di
chuyển chính của KKL.
- Đường thứ ba: KKL từ bán đảo Sơn Đông tiến vào biển Đông. Nếu lệch tây
thì KKL đi theo đường bờ biển Trung Quố, qua eo biển Đài Loan, tiến về phía nam,
có khi tới tận miền nam Việt Nam. Nếu lệch đông, KKL qua Hoàng Hải, Đài Loan
vào biển Đông và có khi xâm nhập tới tận Bán Cầu Nam.
- Đường thứ tư: KKL di chuyển lệch đông nhất, từ đảo Xa Kha Lin qua Nhật
Bản rồi tràn về phía nam, có thể khuếch tán tới Philippin.
Tùy theo thời kỳ, đường đi, cường độ và tốc độ di chuyển của KKL mà hệ quả
thời tiết của nó sẽ có những biểu hiện khác nhau. Hơn nữa, hệ quả thời tiết của nó
còn phụ thuộc nhiều vào đến sự kết hợp đồng thời với các hệ thống thời tiết khác
khi ảnh hưởng đến Việt Nam. Đầu mùa đông, KKL di chuyển theo đường thứ nhất
và thứ hai (trên lục địa) nên nó chỉ bị biến tính về nhiệt độ còn độ ẩm gần như
20


không thay đổi. Vào cuối mùa đông, KKL di chuyển chủ yếu theo đường thứ ba và
thứ tư (trên biển) làm nó bị biến tính mạnh mẽ nên khi tới biển Đông thì nhiệt độ và
độ ẩm tăng, gây mưa nhỏ và mưa phùn trên khu vực miền Bắc Việt Nam. Nói
chung, từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau là thời kỳ mà KKL hoạt động
mạnh nhất. Tác giả cũng cho rằng, KKL ảnh hưởng đến miền Bắc Việt Nam quanh


Cả năm

Tần số

4,5

3,5

3,4

3,1

2,2

1,0

0,15

0,1

1,2

1,9

3,0

3,9

28,75

để xác định các đợt không khí lạnh trên cơ sở số liệu của các sản phẩm mô hình số
trị mà chỉ đưa ra cách nhận biết các đợt không khí lạnh này bằng những dấu hiệu
synop như trong các chỉ tiêu của Nguyễn Vũ Thi, Đinh Văn Loan, Trần Gia Khánh,
Phạm Vũ Anh, Phạm Đức Thi cho các dự báo dưới 72 giờ.
Trong việc sử dụng sản phẩm của các mô hình khí hậu vào dự báo KKL ở Việt
Nam, vẫn chưa có tác giả nào đưa ra một bộ chỉ tiêu cụ thể xác định không khí lạnh
mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu gió mùa mùa hè trên cơ sở số liệu sản
phẩm của các mô hình khí hậu và cho kết quả đánh giá khá cao.
1.4. Nhận xét chung
- Hiện nay, việc dự báo không khí lạnh ở VIệt Nam vẫn sử dụng phương pháp
Synop là chính, phương pháp này còn mang nặng tính chủ quan của dự báo viên. Tuy
các mô hình số trị đã được đưa vào chạy nghiệp vụ ở nhiều trung tâm trong và ngoài
nước nhưng vẫn chỉ dừng ở việc tham khảo cho các dự báo viên. Hiện nay, ở Việt
Nam chỉ có bản tin ở quy mô thời tiết (kể cả hạn ngắn lẫn hạn vừa, thời hạn dự báo
tối đa 10 ngày), các bản tin này xây dựng trên những chỉ tiêu định tính cho số liệu
trạm trong khi ở một số nước khác, người ta thường xây dựng các bộ chỉ tiêu với định
lượng cụ thể: Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan.
- Các công trình nghiên cứu sử dụng kết quả mô hình khí hậu để dự báo không
khí lạnh hạn mùa còn ít, kể cả trong nước lẫn ngoài nước.
- Việc sử dụng kết quả mô hình khí hậu để dự báo hạn mùa đòi hỏi phải có một
bộ chỉ tiêu hợp lý cho mỗi khu vực địa lý cũng như mỗi mô hình khí hậu và hạn dự

22


báo. Các thông tin dự báo hạn mùa của không khí lạnh là rất quan trọng, đặc biệt là
hạn dự báo từ 1-3 tháng nhằm đưa ra các bản tin dự báo sớm phục vụ cho các hoạt
động trên biển.
- Trong luận văn này, tác giả đặt ra bài toán thử nghiệm xây dựng bộ chỉ tiêu xác
định KKL cho các sản phẩm mô hình khí hậu. Qua đó hướng tới bài toán dự báo hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status