Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 3 * 2019
Nghiên cứu Y học
TỔN THƯƠNG THẬN CẤP Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG BỆNH LÝ TẠI
KHOA HỒI SỨC SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Trịnh Thanh Lan*, Phạm Thị Thanh Tâm**, Ngô Minh Xuân***
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tổn thương thận cấp, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mối liên hệ giữa tổn
thương thận cấp với một số yếu tố liên quan ở trẻ sơ sinh non tháng bệnh lý được điều trị tại khoa hồi sức sơ sinh
bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 12/2017 đến tháng 6/2018.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang.
Kết quả: Có 140 ca sanh non được đưa vào nghiên cứu với tỉ lệ tổn thương thận cấp là 14.3%, cân nặng
trung bình là 1505±755 gram và tuổi thai trung bình là 30.3±3.5 tuần. Triệu chứng lâm sàng phù và thiểu niệu
chiếm 35% các trường hợp tổn thương thận cấp với tỉ lệ tử vong là 40%. Các rối loạn trên cận lâm sàng thường
gặp là hạ natri máu, tăng kali máu và hạ canxi máu với tỉ lệ lần lượt là 85%, 55%, 70%. Toan chuyển hóa mức
độ trung bình với pH trung bình là 7.22±0.12 và BE là -11.93±5.86. Tổn thương thận cấp có mối liên hệ với các
tình trạng bệnh lý như sốc, nhiễm trùng huyết, thở máy, tồn tại ống động mạch, viêm ruột hoại tử và việc sử
dụng kháng sinh Amikacin, Vancomycin và thuốc kháng nấm Amphotericin B.
Kết luận: Tổn thương thận cấp là một vấn đề rất thường gặp và nếu phối hợp nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán
sẽ giúp tăng khả năng phát hiện sớm. Đồng thời việc hiểu biết về các yếu tố có liên quan với tổn thương thận cấp
sẽ giúp việc điều trị hiệu quả hơn.
Từ khóa: tổn tương thận cấp, sốc, nhiễm trùng huyết, tồn tại ống động mạch, viêm ruột hoại từ, kháng sinh
ABSTRACT
ACUTE KIDNEY INJURY IN SICK PRETERM NEONATES IN NEONATAL INTENSIVE CARE UNIT
OF CHILDREN’S HOSPITAL 1
Trinh Thanh Lan, Pham Thi Thanh Tam, Ngo Minh Xuan
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 3- 2019: 259-264
Objectives: To identify the prevalence of acute kidney injury and some related factors in sick preterm
Tổn thương thận cấp (TTTC) là tình trạng
suy giảm chức năng thận đột ngột, dẫn đến các
rối loạn nước, điện giải và toan kiềm(4). Đây là
một trong những vấn đề rất thường gặp ở trẻ sơ
sinh, đặc biệt là trẻ sanh non với tỉ lệ tử vong cao
(69,2%)(10) và một số lượng lớn bệnh nhân còn
sống diễn tiến đến suy thận mạn trong tương
lai(1). Y văn thế giới đã đưa ra các yếu tố nguy cơ
của TTTC ở trẻ sơ sinh như non tháng, cân nặng
thấp, sanh ngạt, suy hô hấp, nhiễm trùng huyết,
phẫu thuật ngoại khoa, phẫu thuật tim và sử
dụng các thuốc có khả năng ảnh hưởng chức
năng thận(9). Việc hiểu biết về TTTC và các yếu tố
liên quan sẽ giúp chẩn đoán sớm và điều trị kịp
thời nhằm giảm tỉ lệ tử vong cũng như có chiến
lược theo dõi nhằm phát hiện sớm những
trường hợp suy thận mạn trong tương lai. Do đó,
chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này với
câu hỏi nghiên cứu “Tỉ lệ TTTC ở trẻ sơ sinh non
tháng bệnh lý là bao nhiều và mối liên hệ giữa
tổn thương thận cấp với các yếu tố liên quan
như thế nào?”
Mục tiêu nghiên cứu
Tính tỉ lệ tổn thương thận cấp ở trẻ sơ sinh
non tháng bệnh lý.
Mô tả triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
các trường hợp tổn thương thận cấp.
Mô tả mối liên hệ giữa tổn thương thận cấp
và một số yếu tố liên quan.
Tiêu chuẩn chọn vào
Trẻ sơ sinh non tháng < 37 tuần và có bệnh lý
cần hồi sức tích cực về hô hấp, tuần hoàn hoặc
nuôi ăn tĩnh mạch được nhập vào khoa hồi sức
sơ sinh.
Tiêu chuẩn loại trừ
Trẻ không được thử creatinine một lần nào
trong thời gian điều trị tại khoa hồi sức sơ sinh.
Trẻ tử vong trong vòng 48 giờ sau nhập viện.
Trẻ có mẹ được ghi nhận tình trạng suy thận
cấp/mạn.
Người nhà không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Xử lý số liệu
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Stata
12. Biến số định lượng được trình bày dưới
dạng số trung bình ± độ lệch chuẩn. Biến số
định tính được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần
trăm (%). Sự tương quan giữa các biến định
tính được kiểm định bằng phép kiểm Chi bình
phương. Sự tương quan giữa các biến số định
lượng được kiểm định bằng phép kiểm t, phép
kiểm Mann – Whitney. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê khi p < 0,05.
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 3 * 2019
Tiêu chuẩn ca xác định
Tăng > 300% hoặc creatinine máu >4 mg/dL với
mức tăng cấp tính 0,5 mg/dL hoặc cần lọc máu
*Creatinine nền là creatinine thấp nhất trước đó của bệnh nhân
Định nghĩa một số biến quan trọng
Nhiễm trùng huyết(2)
Chẩn đoán có thể
Lâm sàng: Triệu chứng ở nhiều cơ quan và
có ổ nhiễm trùng.
Công thức máu gợi ý nhiễm trùng huyết
phải có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn như sau:
Bạch cầu ≤ 5000/mm3 hoặc ≥ 20000/mm3; Tỷ lệ
Band Neutrophil/Neutrophil ≥ 0,2; Có không
bào, hạt độc, thể Dohl; Tiểu cầu đếm
10 mg/L.
Chẩn đoán xác định
Lâm sàng gợi ý nhiễm trùng và cấy máu
dương tính.
Sốc(2)
Mạch nhanh nhẹ hay khó bắt, thời gian phục
hồi màu da kéo dài trên 3 giây, nhịp tim nhanh,
huyết áp động mạch trung bình hạ:
Ở trẻ sanh non: Khi huyết áp trung bình < 30
mmHg hoặc < tuổi thai tính bằng tuần.
Ở trẻ đủ tháng: Khi huyết áp trung bình < 40
mmHg.
Natri máu (mmol/L)
Kali máu (mmol/L)
Canxi máu (mmol/L)
Số ca
(n)
17
11
14
Tỉ lệ Giá trị trung bình
(%) ±Độ lệch chuẩn
85
55
70
85,12±39,42
1,77±0,62
7,22±0,12
-11,93±5,86
125,63±9,29
5,28±1,72
0,91±0,19
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
261
Nghiên cứu Y học
Sốc hoặc có dùng vận mạch 15 (46,9) 17 (53,1)
Thở máy
20 (26,3) 56 (73,7)
Viêm màng não
5 (27,8)
13 (72,2)
Xuất huyết não
8 (20,5)
31 (79,6)
Viêm ruột hoại tử
8 (33,3)
16 (66,7)
PDA
14 (21,2%) 52 (78,8)
Các yếu tố liên quan
p
Gentamycin
Amikacin
Vancomycin
Amphotericin B
Tổn thương thận cấp
p
Có (n=20) Không (n=120)
10 (11,4)
78 (88,6)
0,199
17 (21,5)
62 (78,5)
0,005
10 (37.0)
17 (63)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tổn thương
thận cấp thể thiểu niệu và có biểu hiện phù
chiếm 35% và hầu hết diễn tiến không phục hồi
và dẫn đến tử vong. Tỉ lệ tử vong của nhóm tổn
thương thận cấp là 40%, tương tự như nghiên
cứu của N. Nagaraj (2016)(8) là 38,8% và thấp hơn
nghiên cứu của Lê Văn Trí (2008)(5) (60%). Tổn
thương thận cấp còn dẫn đến tình trạng rối loạn
điện giải điển hình là tình trạng hạ natri máu,
tăng kali máu, hạ canxi máu và toan chuyển hóa.
Bên cạnh đó, siêu âm bụng hầu như không ghi
nhận tình trạng bất thường tại thận hoặc tắc
nghẽn sau thận.
So sánh giữa nhóm tổn thương thận cấp và
không tổn thương thận cấp
Vể đặc điểm dịch tễ học
Chúng tôi không ghi nhận sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về tuổi thai trung bình cũng như
cân nặng trung bình giữa hai nhóm. Một số trẻ
tổn thương thận cấp trong nghiên cứu của
chúng tôi chỉ thuộc nhóm non muộn và cân
nặng bình thường nhưng có các biến cố xảy ra
khiến trẻ tổn thương thận cấp. Chính điều này
đã làm thay đổi kết quả nghiên cứu của chúng
tôi so với y văn.
Về các bệnh lý nội khoa
Chúng tôi ghi nhận có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về tình trạng nhiễm trùng
huyết, sốc, thở máy, viêm ruột hoại tử và tổn
khác như teo thực quản, thoát vị hoành hoặc teo
ruột non, trẻ sẽ được phẫu thuật khi tình trạng
bệnh lý nội khoa ổn định nên việc tổn thương
thận cấp cũng hiếm khi xảy ra trên những trẻ
được phẫu thuật có chuẩn bị. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, chủ yếu tổn thương thận cấp xảy
ra ở một vài trường hợp phẫu thuật cấp cứu trẻ
viêm phúc mạc do viêm ruột hoại tử hoặc vỡ dạ
dày. Ở những trẻ này có nhiều yếu tố góp phần
gây tổn thương thận cấp như nhiễm trùng huyết
nặng, sốc nhiễm trùng, thiếu dịch.
Về việc sử dụng các thuốc kháng sinh có ảnh
hưởng đến chức năng thận
Trong số 4 thuốc kháng sinh có ảnh hưởng
lên chức năng thận thường sử dụng nhất tại
khoa hồi sức sơ sinh, gentamycin không ghi
nhận mối liên quan với tổn thương thận cấp
trong khi ba thuốc còn lại là amikacin,
vancomycin (tương tự như nghiên cứu của
Vesna Stojanovié(10)) và amphotericin B đều có
liên quan với tình trạng tổn thương thận cấp.
Việc xảy ra tổn thương thận cấp trên những trẻ
này có thể do nhiều nguyên nhân phối hợp như
nhiễm trùng huyết nặng cần sử dụng đến những
kháng sinh mạnh, hoặc do chính ảnh hưởng của
thuốc lên thận. Đặc biệt chúng tôi nghi nhận ¾
ca tổn thương thận cấp xảy ra sau khi sử dụng
amphotericin B một thời gian ngắn và tình trạng
TTTC cải thiện nhanh sau khi ngưng thuốc.
Pediatr Nephrol, 24(5):pp.991–997.
Bệnh viện Nhi đồng 1 (2013). Phác đồ bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.
Hồ Chí Minh.
Daga A et al (2016). "Diagnosis and Risk Factors of Acute
Kidney Injury in Very Low Birth Weight Infants". Pediatrics and
Neonatololy, 58:pp.258-263.
Jetton JG, Askenazi DJ (2014). "Acute kidney injury in the
neonate". Clin Perinatol, 41(3):pp.487-502.
264
Lê Văn Trí, Huỳnh Thị Duy Hương, Vũ Huy Trụ (2009). "Đặc
điểm suy thận cấp ở trẻ sơ sinh". Y học TP. Hồ Chí Minh,
13:pp.23-26.
6. Mathur NB, Agarwal HS, Maria A ( 2006). "Acute renal failure
in neonatal sepsis". Indian J Pediatr, 73:pp.499-502.
7. Mehta RL, Kellum JA, Shah SV, Molitoris BA, Ronco C,
Warnock DG et al (2007). "Acute Kidney Injury Network: report
of an initiative to improve outcomes in acute kidney injury".
Crit Care, 11(2):pp.R31.
8. Nagaraja N, Berwala PK, Srinivas A, Berwala A (2016). "A study
of acute kidney injury in hospitalized preterm neonates in
NICU". Journal of Neonatal-Perinatal Medicine, 9:pp. 417-421.
9. Stapleton FB, Jones DP, Green RS (1987). "Acute renal failure in
neonates: incidence, etiology and outcome". Pediatr Nephrol,
1:pp.314.
10. Stojanović V, Barišić N, Milanović B, Aleksandra D (2014).
"Acute kidney injury in preterm infants admitted to a neonatal
intensive care unit". Pediatr Nephrol, 29:pp.2213-2220.