TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC HỌC
MÃ SỐ: 52720401
KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VÀ THÓI QUEN
SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH CỦA
NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN THOẠI SƠN,
TỈNH AN GIANG
Cán bộ hướng dẫn
Ths. TRẦN QUANG TRÍ
Ds: LƯU HOÀNG MINH KHOA
Sinh viên thực hiện
ĐẶNG NGỌC NHI
MSSV: 12D720401144
LỚP: ĐẠI HỌC DƯỢC 7B
Cần Thơ, 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi tôi bắt đầu học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Tây
Đô, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ quý thầy cô, gia đình, bạn bè để
hoàn thành tốt luận văn: “Khảo sát sự hiểu biết và thói quen sử dụng kháng sinh của
người dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang”. Với lòng tri ân sâu sắc nhất, tôi xin được
gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Hội đồng quản trị, Ban Giám hiệu, quý thầy cô Trường Đại học Tây Đô nói
.......................................................................................................................................33
Hunh 4.9. BiӇXÿӗ biӇu diӉn kӃt quҧ khҧo sát viӋc biӃt vӅ sӵ kháng thuӕc cӫa vi khuҭn
.......................................................................................................................................35
Hunh 4.10. BiӇXÿӗ biӇu diӉn kӃt quҧ khҧo sát sӵ hiӇu biӃt vӅ nguyên nhân kháng
thuӕc kháng sinh ............................................................................................................36
viii
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
Hiện nay, có thể nói thuốc kháng sinh là một trong những nhóm thuốc được dùng
nhiều nhất tại Việt Nam. Đặc biệt, trong những năm gần đây, chủng loại và số lượng
kháng sinh được đưa vào thị trường Việt Nam ngày càng đa dạng và phong phú. Thêm
vào đó, sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới cung ứng thuốc đã đưa thuốc đến hầu hết
người dân.
Song song đó, là sự xuất hiện của thành phần những người bán thuốc lệ thuộc vào lợi
nhuận kinh tế, bỏ qua những điều luật và đạo đức hành nghề y dược, sẵn sàng bán thuốc
phải kê đơn – cụ thể ở đây là thuốc kháng sinh – mà không cần đơn thuốc. Từ đó, người
dân có thể tự mua thuốc kháng sinh một cách dễ dàng để tự điều trị.
Do tự sử dụng theo thói quen, theo những bài viết không xác thực, trôi nổi trên
internet, hay theo sự mách bảo của những người không có chuyên môn… thời gian dùng
thuốc, cách dùng thuốc không đúng nguyên tắc, dẫn đến việc vi khuẩn kháng thuốc
kháng sinh ngày càng gia tăng.
Trước thực trạng đó, để tìm hiểu một cách cụ thể tình hình sử dụng thuốc kháng sinh
của người dân, đề tài nghiên cứu: “Khảo sát sự hiểu biết và thói quen sử dụng thuốc
kháng sinh của người dân tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang” ra đời, nhằm làm rõ
các mục tiêu:
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng thuốc kháng sinh của người dân nơi đây;
- Tìm hiểu kiến thức của người dân về thuốc kháng sinh;
- Đưa ra một số kết luận và đề xuất giải pháp cải thiện.
luận. Liều lượng trong các tài liệu hướng dẫn chỉ là gợi ý ban đầu. Không có liều chuẩn
cho các trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Kê đơn không đủ liều sẽ dẫn đến thất bại điều
trị và tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc. Ngược lại, với những kháng sinh có độc tính cao,
phạm vi điều trị hẹp (ví dụ: các aminoglycosid, polypeptide) phải đảm bảo nồng độ
thuốc trong máu theo khuyến cáo để tránh độc tính. Do vậy, việc giám sát nồng độ thuốc
trong máu nên được triển khai.
2
2.2.2. Sử dụng kháng sinh dự phòng:
Kháng sinh dự phòng là việc sử dụng kháng sinh trước khi xảy ra nhiễm khuẩn nhằm
mục đích ngăn ngừa hiện tượng này. Kháng sinh dự phòng nhằm giảm tần suất nhiễm
khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật, không dự phòng nhiễm khuẩn toàn thân
hoặc vị trí cách xa nơi được phẫu thuật.
2.2.2.1. Chỉ định sử dụng kháng sinh dự phòng:
Phẫu thuật được chia làm bốn loại: phẫu thuật sạch, phẫu thuật sạch – nhiễm, phẫu
thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn.
Kháng sinh dự phòng được chỉ định cho tất cả các can thiệp phẫu thuật thuộc phẫu
thuật sạch – nhiễm.
Trong phẫu thuật sạch, liệu pháp kháng sinh dự phòng nên áp dụng với một số can
thiệp ngoại khoa nặng, có thể ảnh hưởng đến sự sống còn và/hoặc chức năng sống (phẫu
thuật chỉnh hình, phẫu thuật tim và mạch máu, phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật nhãn
khoa).
- Phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn: kháng sinh đóng vai trò trị liệu. Kháng sinh dự
phòng không ngăn ngừa nhiễm khuẩn mà ngăn ngừa nhiễm khuẩn đã xảy ra không phát
triển.
2.2.2.2 Lựa chọn kháng sinh dự phòng:
Kháng sinh có phổ tác dụng phù hợp với các chuẩn vi khuẩn chính thường gây nhiễm
khuẩn tại vết mổ cũng như tình trạng kháng thuốc tại địa phương, đặc biệt trong từng
Cephalosporins tiêm tĩnh mạch trong 3 – 5 phút ngay trước thủ thuật và đạt nồng độ
cần thiết ở da sau vài phút.
Vancomycin và ciprofloxacin cần phải được dùng trước một giờ và hoàn thành việc
truyền trước khi bắt đầu rạch da.
Clindamycin cần được truyền xong trước 10 – 20 phút.
Gentamycin cần được dùng một liều duy nhất 5mg/kg để tối đa hóa sự thấm vào mô
và giảm thiểu độc tính. Nếu người bệnh lọc máu hoặc ClCr < 20ml/phút, dùng liều
2mg/kg.
Đối với phẫu thuật mổ lấy thai, kháng sinh dự phòng có thể được sử dụng trước khi
rạch da hoặc sau khi kẹp dây rốn để giảm biến chứng nhiễm khuẩn ở mẹ.
Bổ sung liều trong thời gian phẫu thuật:
Trong phẫu thuật tim kéo dài hơn 4 giờ, cần bổ sung thêm một liều kháng sinh;
Trong trường hợp mất máu với thể tích trên 1500ml ở người lớn và trên 25ml/kg ở
trẻ em, nên bổ sung liều kháng sinh dự phòng sau khi bổ sung dịch thay thế.
2.2.2.6. Lưu ý khi sử dụng kháng sinh dự phòng:
Không sử dụng kháng sinh để dự phòng cho các nhiễm khuẩn liên quan đến chăm
sóc sau mổ và những nhiễm khuẩn xảy ra trong lúc mổ. Nguy cơ khi sử dụng kháng sinh
dự phòng:
- Dị ứng thuốc;
- Sốc phản vệ;
- Tiêu chảy do kháng sinh;
4
- Vi khuẩn đề kháng kháng sinh;
- Lây truyền vi khuẩn đa kháng.
2.2.3. Sử dụng kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm:
Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm khi chưa có bằng chứng về vi khuẩn học do
không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn (do không có Labo vi sinh, không thể lấy được
bệnh phẩm) hoặc khi đã nuôi cấy mà không phát hiện được nhưng có bằng chứng lâm
2.2.5. Lựa chọn đường đưa thuốc:
Đường uống là đường dùng được ưu tiên vì tính tiện dụng, an toàn và giá thành rẻ.
Cần lưu ý lựa chọn kháng sinh có sinh khả dụng cao và ít bị ảnh hưởng bởi thức ăn
(bảng 2.1).
Sinh khả dụng từ 50% trở lên là tốt, từ 80% trở lên được coi là hấp thu đường uống
tương tự đường tiêm. Những trường hợp này chỉ nên dùng đường tiêm khi không thể
uống được. Việc chọn kháng sinh mà khả năng hấp thu ít bị ảnh hưởng bởi thức ăn sẽ
bảo đảm được sự tuân thủ điều trị của người bệnh tốt hơn và khả năng điều trị thành
công cao hơn.
Đường tiêm chỉ được dùng trong những trường hợp sau:
Khi khả năng hấp thu qua đường tiêu hoá bị ảnh hưởng (do bệnh lý dường tiêu hoá,
khó nuốt, nôn nhiều…);
Khi cần nồng độ kháng sinh trong máu cao, khó đạt được bằng đường uống: điều trị
nhiễm khuẩn ở các tổ chức khó thấm thuốc (viêm màng não, màng trong tim, viêm
xương khớp nặng…), nhiễm khuẩn trầm trọng và tiến triển nhanh. Tuy nhiên, cần xem
xét chuyển ngay sang đường uống khi có thể.
Bảng 2.1. Sinh khả dụng của một số kháng sinh đường uống
Kháng sinh
Ảnh hưởng của thức ăn đến hấp thu
Sinh khả dụng (%)
Ampicillin
Amoxicillin
40
90
↓
90
±
Ofloxacin
80
±
Ghi chú: ↓: Giảm hấp thu
±: Không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể
2.2.6 Độ dài đợt điều trị:
Độ dài đợt điều trị phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức
đề kháng của người bệnh. Các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình thường đạt
6
kết quả sau 7 – 10 ngày nhưng những trường hợp nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở
những tổ chức khó thâm nhập (màng tim, màng não, xương – khớp,…), bệnh lao… thì
đợt điều trị kéo dài hơn nhiều. Tuy nhiên, một số bệnh nhiễm khuẩn chỉ cần một đợt
ngắn như nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục chưa biến chứng (khoảng 3 ngày, thậm chí
một liều duy nhất).
Sự xuất hiện nhiều kháng sinh có thời gian bán thải kéo dài đã cho phép giảm được
đáng kể số lần dùng thuốc trong đợt điều trị, làm dễ dàng hơn cho việc tuân thủ điều trị
của người bệnh; ví dụ: dùng azithromycin chỉ cần một đợt 3 – 5 ngày, thậm chí một liều
duy nhất.
Không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ lệ xuất hiện tác dụng không
mong muốn và tăng chi phí điều trị.
Bảng 2.2. Cơ quan bài xuất chính của một số kháng sinh
Kháng sinh
Vị trí bài xuất chính
Cefotaxim
Cefoperazol
Thận
Gan
Lincomycin
Gan
Clindamycin
Gan
Erythromycin
Gan
Azithromycin
Gan
Tetracyclin
Doxycyclin
Narrowest spectrum required
Lựa chọn phổ hẹp nhất cần thiết
Dosage appropriate to the site
Liều lượng phù hợp với loại nhiễm khuẩn
and type of infection
và vị trí nhiễm khuẩn
M
Minimum duration of therapy
Thời gian điều trị tối thiểu cho hiệu quả
E
Ensure monotherapy in most
situation
Bảo đảm đơn trị liệu trong hầu hết các
trường hợp
D
8
Hầu hết các quốc gia phát triển đều có lượng tiêu thụ kháng sinh cao trong giai đoạn
từ năm 2000 đến năm 2010.
Hình 2.2. Tình hình tiêu thụ thuốc kháng sinh thay đổi trong giai đoạn năm
2000 – 2010, theo các quốc gia (đơn vị %)
Qua hình 2.2 , ta có thể nhận thấy các quốc gia có tỷ lệ tiêu thụ thuốc kháng sinh tăng
trong giai đoạn năm 2000 – 2010 hầu hết là các quốc gia tại châu Á, châu Phi và nam
Mỹ.
Riêng tại Việt Nam, tỷ lệ này nằm trong khoảng 1 – 10 (%). Và qua hình 2.3, ta nhận
thấy tỷ lệ này tăng thấy rõ, trừ kháng sinh penicillin phổ rộng, phổ hẹp, trimethoprim và
cloramphenicols có xu hướng giảm, còn lại tất cả các kháng sinh khác đều có tỷ lệ tiêu
thụ tăng.
11
Hình 2.3. Tình hình sử dụng kháng sinh theo nhóm của một số quốc gia, giai
đoạn 2000 – 2010
12
2.4. Tình hình kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn:
Hiện nay, tình hình kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn đã và đang diễn ra trầm
trọng tại hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Một số nghiên
cứu cho thấy:
Ở Việt Nam, các chủng phế cầu khuẩn – một trong những nguyên nhân thường gặp
nhất gây nhiễm khuẩn hô hấp – kháng penicillin (71,4%) và kháng erythromycin
(92,1%) – có tỷ lệ phổ biến cao nhất trong số 11 nước trong mạng lưới giám sát các căn
nguyên kháng thuốc châu Á (ANSORP) năm 2000 – 2001:
Những người dân mua thuốc kháng sinh ở các nhà thuốc.
3.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
3.3.1. Cỡ mẫu:
Nghiên cứu có cỡ mẫu được tính dựa theo công thức:
𝑧 2 (𝑝. 𝑞)
𝑛=
𝑒2
Trong đó:
n: là cỡ mẫu cần có
z: là giá trị liên quan đến độ tin cậy, được tra theo bảng có sẵn (thường chọn độ tin
cậy 95% => z= 1.96)
p : là tỷ lệ ước tính trong quần thể nghiên cứu. Tìm p ở các nguồn thông tin nghiên
cứu trước đó. Nếu không có, ta chọn p = 0.5
q = (1 – p): là số bù của p
e: là sai số (Sai số càng nhỏ thì kích thước mẫu càng lớn. Giá trị tham khảo: 0.05)
- Ta coi sai số e = 5% = 0,05 (chọn giá trị tham khảo)
- Do đó độ tin cậy là 95%, tra bảng ta được z = 1,96
- Do không có các nghiên cứu trước đó, nên ta chọn p = 0,5
Thay vào công thức, ta được:
1,962 . 0,5. (1 − 0,5)
𝑛=
≈ 384
0,052
Trên thực tế, luận văn đã tiến hành nghiên cứu trên 384 lượt người mua thuốc kháng
sinh ở các hiệu thuốc.
3.3.2. Phương pháp chọn mẫu:
Dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để chọn ra các điểm bán thuốc để khảo sát.
Tại thị trấn Phú Hòa chọn ngẫu nhiên 3 điểm bán thuốc để khảo sát người dân mua
thuốc kháng sinh. Tại xã Vĩnh Trạch chọn ngẫu nhiên 3 điểm bán thuốc để tiến hành
khảo sát người dân mua thuốc kháng sinh.
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
Tổng
192
100,0
192
100,0
384
100,0
Bảng 4.2 Phân loại giới tính của người mua thuốc kháng sinh
Giới tính
Xã Vĩnh
Trạch
Thị trấn Phú Hòa
Tổng
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
59,9
100
52,1
215
56,0
Tổng
192
100,0
192
100,0
384
100,0
Nhận xét:
Dựa vào bảng 4.1, ta thấy rằng tỷ lệ người đi mua thuốc kháng sinh chủ yếu có độ
tuổi nằm trong độ tuổi lao động (từ 18 – 60 tuổi) là 85,9%. Mặt khác, nhìn vào bảng 4.2,
ta lại thấy đa số người đi mua thuốc kháng sinh chủ yếu là phụ nữ, chiếm 56%. Như
vậy, có thể nói, người chăm sóc sức khỏe của gia đình, phần lớn là những phụ nữ trong
Nông dân
80
Công nhân
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
14
7,3
22
5,7
41,7
32
20,6
Giáo viên
7
3,6
13
6,8
20
5,2
Nhân viên văn phòng
2
1,0
10
5,2
12
3,1
192
100,0
192
100,0
384
100,0
Nhận xét:
Qua bảng 4.3, ta thấy được nghề nghiệp người dân đi mua thuốc kháng sinh ở xã
Vĩnh Trạch chủ yếu là nông dân (chiếm 41,7%), ở thị trấn Phú Hòa là mua bán (chiếm
27,6%). Điều này phần nào cho thấy được nghề nghiệp chính của người dân ở xã phần
đông là nông dân còn ở thị trấn là mua bán. Nghề nghiệp đặc thù sẽ ảnh hưởng đến kiến
thức về thuốc kháng sinh và cách sử dụng thuốc kháng sinh của người dân. Để làm rõ
hơn vấn đề này, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát về trình độ văn hóa của người dân
mua thuốc kháng sinh nơi đây.
4.1.3 Phân loại theo trình độ văn hoá của người mua thuốc kháng sinh:
Kết quả khảo sát và phân loại trình độ văn hóa của người đi mua thuốc kháng sinh
được tổng hợp qua bảng 4.4.
17
Bảng 4.4. Phân loại trình độ văn hóa của người đi mua thuốc kháng sinh
Địa điểm
13
6,8
36
9,4
Cấp 2
44
22,9
22
11,5
66
17,2
Cấp 3
84
43,8
97
50
13,0
Sau đại học
0
0,0
3
1,6
3
0,8
192
100,0
192
100,0
384
100,0
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
Nhiễm trùng
81
42,2
118
61,4
199
Nhức đầu
11
5,7
8
4,2
19
4,9
Tổng
192
100,0
192
100,0
384
100,0
Nhận xét:
Qua bảng 4.5, ta nhận thấy trừ 42,2% người đi mua kháng sinh ở xã Vĩnh Trạch và
(n)
Tỷ lệ
(%)
Có đơn
22
11,46
41
21,35
63
16,4
Không đơn
170
88,54
151
78,65
321
30
20
10
0
Thị trấn Phú Hòa
88,54
78,65
21,35
11,46
Có đơn
Không đơn
Hình 4.1. Biểu đồ biểu diễn thực trạng việc dùng thuốc kháng sinh theo đơn và
không theo đơn
Nhận xét:
Dựa vào bảng 4.6 và biểu đồ hình 4.1, ta thấy được tình trạng người dân mua thuốc
kháng sinh không có đơn diễn ra rất phổ biến. Ở xã Vĩnh Trạch, tỷ lệ này là 88,54%,
còn ở thị trấn Phú Hòa tỷ lệ này là 78,65%. Việc sử dụng kháng sinh không đơn phổ
biến là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn.
4.2.3 Tỷ lệ người mua thuốc kháng sinh:
Hiện nay nhu cầu sử dụng thuốc kháng sinh của người dân trong cộng đồng tương
đối lớn. Ở đây luận văn nghiên cứu chỉ khảo sát tỷ lệ số người mua thuốc kháng sinh/tổng
số người mua thuốc. Số liệu thể hiện ở bảng 4.7.
Bảng 4.7. Tỷ lệ người mua thuốc kháng sinh
Xã Vĩnh Trạch
45,82
384
37,61
Người mua thuốc
419
100,0
602
100,0
1021
100,0
Số lượng
20
Tổng
Nhận xét:
Qua bảng 4.7, ta thấy tỷ lệ người mua thuốc kháng sinh ở thị trấn Phú Hòa chiếm
45,82% cao hơn ở xã Vĩnh Trạch là 31,9%. Nhìn chung tỷ lệ người dân đi mua thuốc
(%)
(n)
(%)
(n)
(%)
Thuốc kháng sinh
69
35,94
112
58,33
181
47,1
Không phải thuốc
kháng sinh
123
41.67
35,94
Thuốc kháng sinh
Không phải thuốc kháng sinh
Hình 4.2. Biểu đồ biểu diễn thực trạng nhận biết về thuốc kháng sinh mà người
dân đang sử dụng
21
Nhận xét:
Qua bảng 4.8 và biểu đồ hình 4.2, ta thấy được số người mua thuốc kháng sinh nhưng
không biết đó là thuốc kháng sinh có tỷ lệ khá cao. Ở xã Vĩnh Trạch tỷ lệ này là 64,06%,
còn ở thị trấn Phú Hòa tỷ lệ này là 41,67%. Do đó, ta thấy được sự hiểu biết về thuốc
kháng sinh của phần lớn người dân còn rất kém, chưa kể đến việc hiểu và tuân thủ
nguyên tắc sử dụng kháng sinh. Trong khi đó, họ vẫn thường xuyên sử dụng kháng sinh.
Điều này càng làm gia tăng nguy cơ đề kháng kháng sinh do sử dụng kháng sinh không
đúng. Mặt khác, tỷ lệ người dân không nhận biết được thuốc kháng sinh ở xã Vĩnh Trạch
cao hơn ở thị trấn Phú Hòa. Điều này có thể được lý giải thông qua trình độ văn hóa của
người dân thị trấn cao Phú Hòa cao hơn xã Vĩnh Trạch, từ đó ảnh hưởng đến nhận biết
thuốc kháng sinh.
4.2.5 Ảnh hưởng của trình độ văn hoá đến việc biết thuốc họ đang sử dụng là thuốc
kháng sinh hay không:
Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của trình độ văn hóa đến việc nhận biết thuốc kháng
sinh của người mua thuốc kháng sinh được tổng hợp qua bảng 4.9.
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của trình độ văn hoá tới đến biết thuốc họ đang sử dụng là thuốc
kháng sinh hay không.
66
Tỷ lệ (%)
18,18
81,82
100,0
Tần số (n)
90
91
181
Tỷ lệ (%)
49,72
50,28
100,0
Tần số (n)
35
3
0
3
Tỷ lệ (%)
100,0
0,0
100,0
Tần số (n)
181
203
384
Tỷ lệ (%)
100,0
100,0
100,0