Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (từ năm 1400 đến năm 1527)
Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (từ năm 1400 đến năm 1527)
Từ đầu công nguyên đến năm 1900 có ghi kèm năm âm lịch. Ngày, tháng dương lịch ghi bằng số.
Ngày, tháng âm lịch ghi cả chữ viết. Một số ngày có sự kiện quan trọng đã được tính ra ngày dương
lịch, còn giữ nguyên ngày âm lịch theo các tài liệu gốc.
Từ 1901 trở đi chỉ dùng ngày dương lịch, khi cần mới chú thích ngày âm lịch trong ngoặc đơn. Tháng
âm lịch theo thứ tự: tháng giêng, hai… cho đến tháng một, chạp, theo cách gọi cổ truyền.
1400 - Canh Thìn
Tháng hai
- Truất Trần Thiếu Đế, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, đổi quốc hiệu là Đại Ngu.
Tháng tám
- Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh, được bổ nhiệm làm quan trong ngự sử đài.
Thành nhà Hồ - ảnh: internet
1401 - Tân Tị
- Ban hành chính sách hạn nô, quy định số nô tì cho từng loại quan.
- Quy định quan chế và hình luật.
- Lập sổ hộ: từ 2 tuổi trở lên đều phải ghi vào sổ.
1404 - Giáp Thân
- Hồ Hán Thương sửa đổi lối thi cử, ngoài 4 môn văn, sử, triết, chính trị, còn phải thi qua môn toán và môn
chữ viết.
1405 - Ất Dậu
- Tuyển thợ chế tạo vũ khí, đúc súng đạn.
- Cấm nấu rượu.
- Đắp thành Đa Bang ở xã Cổ Pháp (Phong Vân, Ba Vì)
1406 - Bính Tuất
- Nhà Minh cho Đường Nghĩa sang phát sách. Bắt các trường phải học sách ngũ kinh, tứ thư, tính lý đại
toàn, vi thiện âm chất, hiếu thuận sự thực. Thu tất cả các sách của ta từ đời Trần về trước đem về Kim Lăng
(Trung Quốc)
1420 - Canh Tý
- Lộ Văn Luật dấy quân đánh Minh ở Thạch Thất.
1426 - Bính Ngọ
Tháng tám
- Lê Triện chỉ huy quân Lam Sơn áp sát thành Đông Quan.
Tướng Minh là Trần Trí ở trong thành phải đào hào, đắp lũy để cố thủ.
20 - 10 (hai mươi tháng chín)
- Chiến thắng cầu Nhân Mục (cống Mọc) lần thứ nhất.
Lê Triện bắt sống tướng giặc là Vi Lượng, chém chết hàng nghìn giặc.
5 - 11 (mồng sáu tháng mười)
- Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động ở ngoại vi thành Đông Quan.
Thượng Thư Trần Hiệp, nội quan Lý Lượng và 6 vạn quân Minh bị diệt. Tướng giặc Phương Chính phải
vượt đò Cổ Sở (Hoài Đức) trốn chạy về Đông Quan.
- Lê Triện đánh thắng quân Mã Kỳ, Sơn Thọ ở cầu Ba La, truy kích địch đến cầu Nhân Mục và chiến thắng
lần thứ hai tại đây.
Ta bắt sống 500 tên, diệt hàng ngàn tên, xác giặc ngổn ngang đến vài mươi dặm.
Thây giặc sau hai trận được vun lại chôn thành 7 gò Đống Thây ở thôn Chính Kinh (nay thuộc phường
Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân).
Gò Đống Thây (phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh
Xuân, Hà Nội) - ảnh: tư liệu
6 - 11 (mồng bảy tháng mười)
- Chiến thắng quân Minh ở bến đò Cổ Sở (Bến Giá, Hoài Đức). Giặc rút chạy về cố thủ ở Đông Quan.
21 - 11 (hăm hai tháng mười)
- Đại quân của Lê Lợi, Nguyễn Trãi tiến đến đóng trại ở Phù Liệt (Đông Mỹ, Thanh Trì)
hòa.
Lê Lợi cùng Vương Thông tổ chức hội thề ở phía nam thành Đông Quan.
Vương Thông thề rút hết quân về nước trong tháng chạp, từ nay từ bỏ xâm lược đối với nước ta.
23 - 12 (hăm chín tháng một)
- Lê Lợi tha 26.184 quan quân nhà Minh bị bắt, cho về nước
29-12 (mồng sáu tháng chạp)
- Quân Minh bắt đầu cuộc rút quân, được ta cấp ngựa, cấp thuyền, cho lương thực ăn đường.
1428 - Mậu Thân
3 - 1 (mười hai tháng chạp Đinh Mùi)
- Bọn Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi để về nước. Quân Minh rút hết khỏi nước ta
sau 21 năm sang xâm lược.
Đầu tháng tư
- Lê Lợi từ dinh Bồ Đề vào Đông Quan giải phóng
Rằm tháng tư
- Lê Lợi lên ngôi, hiệu Thái Tổ, đặt lại kinh thành là Đông Đô, đặt tên nước là Đại Việt.
Hăm bốn tháng tư
- Ban bố “Bình Ngô đại cáo” do Nguyễn Trãi viết.
Tháng chạp
- Sửa điện Kính Thiên, xây điện Cần Chánh, Vạn Thọ.
- Đúc tiền “Thuận Thiên Nguyên Bảo”
Tiền Thuận Thiên Nguyên Bảo - ảnh: internet
1429 - Kỷ Dậu
Tháng giêng
- Cấm rượu và cờ bạc
- Lập nhà Quốc học cho con các quan văn võ từ thất phẩm trở lên vào học.
Quán Chiêu văn cho con các quan nhất, nhị phẩm, Cục Tú Lâm cho các con quan từ tam phẩm đến thất
phẩm.
- Định phép chia ruộng, tránh giàu nghèo quá chênh lệch.
- Thái tử Nguyên Long lên ngôi (tức Lê Thái Tông 1433-1442)
1434 - Giáp Dần
- Hội thề ở trường đua, trăm quan văn võ cắt tiết ngựa bạch làm lễ ăn thề. Nhà vua tới dự.
- Rước tượng Phật ở chùa Pháp Vân đến Đông Kinh để cầu mưa.
- Quy định ngạch thuế dân.
- Sửa chữa chùa Báo Thiên.
1435 - Ất Mão
- Giảng tập võ nghệ ở sân rồng cho quân ngự tiền
- Đúc 6 quả bảo ấn
- Ban áo phẩm phục cho sư Huệ Hồng tu ở chùa Báo Thiên.
- Mở hội thi bơi ở bến Đông Tân. Vua đến xem.
- Vét sông Đông Ngàn.
- Nguyễn Trãi viết “Dư địa chí”
- Cho khắc in bộ sách “Tứ thư đại toàn”.
- Đặt lệ cấp giấy lộ dẫn (giấy đi đường)
1437- Đinh Tị
- Thẩm định lại nhã nhạc.
- Thi võ cho các tướng hiệu trong các quân vệ: bắn cung, phóng lao, dùng áo giáp và lá chắn.
- Sét đánh cửa Đông Thành.
- Vua làm xe loan, mũ cỏ. Nguyễn Vĩnh Tích làm thị ngự sử, người làng La Phù (Hoài Đức) thẳng thắn can
ngăn.
1438 - Mậu Ngọ
- Tập trận thủy chiến
1439 - Kỷ Mùi
- Đặt quy thức về tiền đồng và đồ hàng tấm
- Cấm nhân dân mặc áo quần màu vàng, đi hài, dùng đồ chạm rồng, vẽ phượng
1449 - Kỷ Tị
- Mùa xuân, biểu diễn nhã nhạc “Bình Ngô phá trận”
- Đào sông Bình Lỗ từ Lãnh Canh đến cầu Phù Lỗ (Sóc Sơn)
- Lập các đàn thờ thành hoàng kinh đô, thần gió, thần mây, thần sét ở Đông Kinh
- Quy định luật hộ: 14 điều về điền sản
1455 - Ất Hợi
- Quốc sử bác sĩ Phan Phu Tiên sửa lại bộ Việt sử chép từ năm 1225 đến 1427, gồm 10 quyển. Phan Phu
Tiên người làng Đông Ngạc (Từ Liêm) đỗ Minh kinh khoa Kỷ Dậu (1429)
1456 - Bính Tí
Tháng một
- Có con hổ lọt vào thành đến chùa Diên Hựu, vua sai võ sĩ đâm chết.
1459 - Kỷ Mão
1-11 bẩy tháng mười
- Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân giết vua Lê Nhân Tông để tiếm ngôi
1460 - Canh Thìn
25 - 6 bẩy tháng sáu
- Nguyễn Xí và các đại thần trừ phản nghịch, truất Nghi Dân, bắt thắt cổ chết.
- Tôn Lê Tư Thành, con thứ 4 của vua Lê Thái Tông, lên ngôi, hiệu Thánh Tông (1460 - 1497)
- Quân và dân tình nguyện nộp thóc, được trao quan tước
- Định lệ 6 năm một lần làm sổ hộ
- Cấm người làm nghề bói rùa, bói cỏ thi
1461 - Tân Tị
- Cấm dân bỏ nghề nông đi buôn hay làm thợ thủ công
1469 - Kỷ Sửu
- Đổi tên phủ là Phụng Thiên, quản hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức.
- Vẽ xong Hồng Đức thiên hạ bản đồ, xác định lãnh thổ, cương giới đất nước.
1470 - Canh Dần
- Lập bộ Đồng Văn luyện tập nhạc khí, bộ nhã nhạc dạy người ca hát, ty giáo phường quản lý âm nhạc dân
gian
- Dựng đền Bích Câu.
Đền Bích Câu - ảnh: baodatviet.vn
- Quy định lệ về việc cưới, việc tang.
1474- Giáp Ngọ
- Đắp lại tường thành bị vỡ lở.
1475 - Ất Mùi
- Vỡ đê sông Tô Lịch
- Đặt chức quan hà đê và quan khuyến nông.
1477- Đinh Dậu
- Đắp lại thành Đại La
- Ban hành chính sách lộc điển và điền lộc.
1478 - Mậu Tuất
- Định nghi lễ về hôn nhân, giá thú.
1479 - Kỷ Hợi
- Ngô Sĩ Liên soạn xong bộ Đại Việt sử ký toàn thư gồm 15 quyển.
1491 - Tân Hợi
- Dựng đình Quảng Văn ở cửa Đại Hưng (Cửa Nam) để niêm yết các pháp lệnh, cáo thị.
- Vũ Quỳnh và Kiều Phú hiệu đính xong sách “Lĩnh Nam chích quái”
1495 - Ất Mão
- Lê Thánh Tông thành lập hội Tao Đàn, một câu lạc bộ thơ ca gồm 28 người. Nhà vua làm nguyên soái
Tao Đàn, Đông Các đại học sĩ Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm phó nguyên soái.
1496 - Bính Thìn
- Vua đi Tây Kinh về, ban yến cho quần thần ở bãi Thuý Ái
1497 - Đinh Tỵ
3-3 (Ba mươi tháng giêng)
- Lê Thánh Tông mất ở điện Bảo Quang, thọ 56 tuổi, ở ngôi 38 năm.
9-3 (Sáu tháng hai)
- Thái tử Lê Tranh lên nối ngôi (tức Lê Hiến Tông 1497 - 1504).
- Sửa và xây thêm viên Đãi Lậu ở cửa Đại Hưng, làm chỗ cho các quan đợi vào triều .
1499 - Kỷ Mùi
- Dương Trực Nguyên được bổ làm phủ doãn phủ Phụng Thiên.
- Ban hành 24 điều huấn về phong tục.
1500 - Canh Thân
- Xây lại tường thành phía đông.
1501 - Tân Dậu