Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Ứng dụng bộ kít nhuộm hóa học tế bào để phân loại bệnh bạch cầu cấp theo tiêu chuẩn FAB - Pdf 59

MỞ ĐẦU

1


1. Tính cấp thiết của luận văn
Hiện nay, việc phân loại dòng tế  bào và thể  bệnh bạch cầu cấp 
dựa trên một trong hai tiêu chuẩn là FAB và WHO. Tiêu chuẩn FAB  
do các nhà Huyết học Pháp­Anh­Mỹ đưa ra năm 1976 là tổng hợp kết  
quả  hình thái học và hóa học tế  bào, năm 1986 tiêu chuẩn này đã bổ 
sung  thêm kết quả miễn dịch và di truyền [15, 17]. 

2


Nhuộm hóa học tế bào gồm 8 kỹ thuật: Periodic­Acid Schiff (PAS),  
sudan black (SD), peroxidaza (PER), esteraza đặc hiệu, esteraza không 
đặc hiệu  ức chế  bằng NaF và không  ức chế, photphataza kiềm và 
axit.  Ưu điểm của phương pháp nhuộm hóa học tế bào: Rẻ  tiền, giá 
thành chỉ bằng 1/4 so với phương pháp miễn dịch và bằng 1/10 so với 
phương pháp di truyền, không cần máy móc hiện đại, dễ  triển khai. 
Hiện nay, các bộ kít nhuộm có bán trên thị  trường là các kít đơn, giá  
thành  cao và có  những  nhược  điểm: kỹ   thuật  nhuộm   nằm nên  có 
nhiều cặn, quy trình nhuộm khác nhau về thời gian, số bước nhuộm,  
hóa   chất   cố   định   khác   nhau,   bước   tẩy   màu   của   kỹ   thuật   nhuộm  
Sudan   và   Periodic   ­   Acid   Schiff   khó   đồng   nhất,   nhuộm   nền   thiếu  
tương phản, chất màu dễ hòa tan trong dầu soi kính nên khó hội chẩn  
tiêu bản nhiều lần. Tại Việt Nam, các thuốc thử  hầu hết là tự  pha 
kết hợp với các yếu điểm trên nên độ  nhạy, độ  đặc hiệu còn thấp. 
Theo Trần Ngọc Vũ và cộng sự  (2014) tỷ lệ phù hợp chẩn đoán giữa 
hình thái học­hóa học tế bào và miễn dịch là 89,1%, giá trị dự báo đối  

truyền trên các bệnh nhân đã được chẩn đoán thể  bệnh theo tiêu chuẩn 
FAB.
­ Đánh giá giá trị  của kít nhuộm hóa học tế  bào đồng bộ  HICYTEC, khi 
nhuộm photphataza kiềm, nhuộm photphataza axit bạch cầu, nhuộm Perls 
trên bệnh nhân bạch cầu cấp.
4. Bố cục của đề tài 
Đề tài gồm 71 trang, trong đó có 65 hình vẽ, đồ thị, 26 bảng biểu, chưa  
kể  41 trang phụ lục và 57 tài liệu tham khảo. Ngoài phần mở  đầu và kết  
4


luận, đề tài được chia làm ba chương: chương 1 – Tổng quan tài liệu, gồm  
25  trang; chương 2 –Phương pháp nghiên cứu, gồm 9 trang; chương 3 – 
Kết quả và bàn luận, gồm 33 trang; Kết luận và kiến nghị 2 trang.
Liên quan đến nội dung đề  tài đã đăng 1 bài trên Tạp chí Y học thành 
phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về nhuộm hóa học tế bào
Trong ngành Huyết học thường sử  dụng phổ  biến 8 kỹ  thuật nhuộm  
hóa học tế  bào như  sau: Periodic­Axit Schiff (PAS), Peroxidaza, Sudan B,  
Esteraza đặc hiệu, Esteraza không đặc hiệu, Esteraza không đặc hiệu  ức 
chế  bằng NaF, Photphataza kiềm, Photphataza axít. Các kỹ  thuật này dựa 
trên ba nguyên lý chính là phản  ứng hóa học (PAS), khuếch tán vật lý 
(Sudan B) và enzym (6 kỹ  thuật còn lại). Hai kỹ  thuật nhuộm PAS và 
Sudan B ít có cải tiến, riêng các kỹ thuật nhuộm enzym đã phát triển mạnh 
kể  từ  khi tìm ra phản  ứng tạo chất màu với sự  xúc tác của enzym theo 
nguyên lý hình thành phẩm màu azo vào những năm 50 của thế kỷ XX.
1.2. Nghiên cứu trong nước về nhuộm hóa học tế bào
Từ  đầu những năm 1970, bộ  môn Huyết học­Truyền máu đã triển khai 
các kỹ thuật nhuộm hóa học tế bào tại khoa Huyết học­Truyền máu Bệnh 


Nhuộm 

bạch cầu

bạch cầu

lên

nền

chưa cố 

đã cố 

màu các 

hồng cầu

định
định
chất
Như  vậy, nhuộm hóa học tế  bào là dùng các phản  ứng hóa màu  hoặc 
phản ứng dưới xúc tác của enzym để phát hiện các chất hóa học có trong tế 
bào.  Sự  xuất hiện màu chứng tỏ  có chất cần phát hiện và cường độ  màu  
phụ thuộc vào nồng độ của chúng có trong tế bào. Các kỹ thuật này cần đạt 
được độ nhạy và độ đặc hiệu cần thiết để đảm bảo tính chính xác của kết  
quả xét nghiệm.
1.4. Ứng dụng phương pháp nhuộm hóa học tế bào trong y học
8 kỹ thuật nhuộm hóa học tế bào là cơ sở để chẩn đoán phân biệt bệnh 

Kỹ thuật nhuộm esteraza đặc hiệu bạch cầu bằng cơ chất là naphtol 
AS axetat với chất ức chế NaF;
Kỹ thuật nhuộm photphataza axit bạch cầu bằng cơ chất là naphtol 
AS­BI photphat ở pH axit;
Kỹ thuật nhuộm photphataza kiềm bạch cầu bằng cơ chất là naphtol  
AS­BI photphat ở pH kiềm;
Kỹ thuật nhuộm nguyên hồng cầu hoặc các tế bào lưới nội mô ứ sắt 
bằng Kali Feroxyanua.

7


CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân được nghiên cứu
Bệnh bạch cầu cấp là bệnh lý ác tính của hệ  tạo máu được đặc trưng  
bởi sự tăng sinh và tích tụ tế bào non trong máu và tủy xương. Trong tổng  
số  202 mẫu chọc tủy lần đầu tại viện Huyết học ­ Truyền máu Trung  
ương có 142 trường hợp được chẩn đoán ban đầu mắc bạch cầu cấp trong 
đó có 60 trường hợp kết luận đúng thể  bệnh, như  vậy chỉ  dựa vào lâm  
sàng mức độ  chẩn đoán đúng thể  bệnh đạt tỷ  lệ  rất thấp (42,3%). Do đó  
cần kết hợp nhiều phương pháp chẩn đoán khác nhau. Tiêu chuẩn FAB  
(1986) sử  dụng kết quả hình thái học­nhuộm hoá học tế bào, marker và di 
truyền làm cơ  sở  để  phân loại thể  bệnh và dòng tế  bào trong bệnh bạch 
cầu cấp nhằm chẩn đoán và lựa chọn phác đồ  điều trị  cho bệnh nhân đạt 
hiệu quả cao nhất [33, 36, 37, 39, 40].
Bang 3.
̉
1. Tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu cấp
Kết luận
Bạch cầu cấp

Tỷ lệ (%)
46,7
53,3
100


Về giới: Tỷ lệ mắc bệnh của nữ giới là 53,3%, cao hơn nam giới  và cao 
hơn so với công bố của Siegel M. P. H. R., và cộng sự ghi nhận tại Mỹ năm  
2014 là 0,756 (23.370 nữ/30.900 nam) [52]. Sự khác nhau có thể  là do  ảnh 
hưởng của môi trường sống cũng như thói quen sinh hoạt của người Mỹ và 
Việt Nam cũng như số lượng mẫu thu thập có thể còn thấp chưa mang tính 
đại diện.

Hinh 3.1. Bi
̀
ểu đồ phân loại bạch cầu cấp theo độ tuổi và giới tính
Về độ tuổi: Qua hình 3.1 cho thấy bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, tuy vậy đối  
với nam tần suất mắc bệnh tỷ lệ nghịch với độ  tuổi, dưới tuổi lao động 
chiếm tỷ lệ cao nhất (21,5%). Ngược lại, ở nữ giới thì độ tỷ lệ mắc bệnh  
cao nhất là ở ngoài độ tuổi lao động (20,0%).
3.2. Nhóm bạch cầu cấp dòng lympho
3.2.1. Đặc điểm chung về nhóm bệnh bạch cầu cấp dòng Lympho
Bang 3.3
̉
. Bảng phân loại bạch cầu cấp dòng lympho theo giới tính
Giới tính
Nam
Nữ
Tổng


ở  trẻ  lớn [8]. Theo Bùi Ngọc Lan (2007), độ  tuổi mắc bệnh trung bình là 
6,0 ± 3,8 [9]. Đối với người trên 16 tuổi, nhiều nghiên cứu cho thấy ở Việt 
Nam, tỷ lệ người mắc bệnh trẻ tuổi chiếm tỷ lệ khá cao. Nghiên cứu của 
Phạm Quang Vinh (2003), có trên 256 bệnh nhân có 40,0% số  bệnh nhân 
dưới 30 tuổi [24].

10


3.2.2. Phân loại thể  bệnh bạch cầu cấp dòng lympho sử  dụng bộ  kit  
nhuộm HICYTEC
a)

Phân loại thể  bệnh bạch cầu cấp dòng lympho theo tiêu chuẩn  
FAB
Bang 3.4. 
̉
Kết quả phân loại thể bệnh bạch cầu cấp dòng lympho
Thể bệnh

Kết quả bộ kít HICYTEC
Số lượng

Tỷ lệ (%)

L1

2

8

Bảng 3.5. Kết quả phân loại thể bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ bằng 
bộ kít HICYTEC và kết chẩn đoán xác định của Viện Huyết học­
Truyền máu trung ương trên từng bệnh nhân

11


Kết 

TT

Mã BN

Họ và tên

Năm 
sinh

Ngày XN

luận 

Kết luận 

của 

thể  bệnh

viện 


5
1501102
2
1501137
8
1501069
3
1501133
7
1501115
4
1500972
1
1403510
7

Nguyễn Thị L.

1949 30/04/2015 L2

L2

Dương Ngọc L.

2013 28/05/2015 L2

L2

Nguyễn Sơn H.


1947 13/05/2015 L2

L2

Phùng Thị A.

2012 08/05/2015 L2

L2

Ngô Văn Tr.

2008 07/05/2015 L2

L2

Tô Phương L. 

2008 30/04/2015 L2

L2

Trương Thị T.

1994 27/04/2015 L2

L2

12


TM  HICYTEC
TW
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.

1501052
7
1401974
8
1500870
9
1501025

Trần Đức A. 

2013 28/04/2015 L2

L2


L2

1997 21/10/2014 L2

L2

1922 26/09/2014 L1

L1

2013 10/10/2014 L2

L2

1998 22/09/2014 L1

L1

2009 15/09/2014 L2

L2

Nguyễn Hữu T.
7
856 Nguyễn Văn T.
1403748
Nguyễn Hiền A.
4
1403743
Giàng Thị N.

sinh

Ngày XN

luận 

Kết luận 

của 

thể  bệnh

viện 

sử dụng 

HH­

kit 

TM  HICYTEC
TW
3
Tổng hợp lại kết quả ở trên được bảng phân loại thể bệnh trên bảng 3.6.
Bang 3.6. 
̉
Kết quả phân loại thể bệnh bạch cầu cấp dòng lympho

Thể 
bệnh

Số 

Tỷ lệ 

lượng
2
23
0

(%)
8
92
0

lượng
0
0
0

(%)
0
0
0

25

100

0



Tỷ lệ (%)
80
20
100

Bảng 3.7 cho thấy, tỷ  lệ  bệnh bạch cầu cấp lympho dòng B (80%) 
cao hơn so với dòng T (20%). Kết quả  này tương tự  so với tác giả  C. H.  
Pui [48], nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Bùi Ngọc Lan (2007) tỷ lệ 
dòng lympho B chiếm 70,1%, dòng lympho T chiếm 25,8% [9]. Tủy đồ có 
hạn chế là không thể phân biệt được dòng B và T như kỹ thuật miễn dịch  
tế bào. Trong khi đó dựa vào hóa học tế bào nhuộm photphataza axit bạch  
cầu có thể phân loại được dòng tế bào lympho B và T. Điều này có ý nghĩa 
rất lớn và cần thiết cho các bác sĩ trong việc chẩn đoán, tiên lượng bệnh và 
lựa chọn phác đồ điều trị.
3.3. Nhóm bạch cầu cấp dòng tủy
3.3.1. Phân nhóm bạch cầu cấp dòng tủy theo giới tính và tuổi
Trong số  202 bệnh nhân tự  đến có các triệu chứng lâm sàng định 
hướng chẩn đoán bệnh bạch cầu cấp hoặc được chẩn đoán bạch cầu cấp 
bởi các bệnh viện khác gửi đến viện Huyết học­Truyền máu trung ương, 
đã phát hiện 14,85% bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu cấp dòng tủy. Bảng 
phân bố bệnh bạch cầu cấp theo giới tính được thể hiện trên bảng 3.8.
Bảng 3.8. Bảng phân bố bệnh bạch cầu cấp dòng tủy theo giới tính
15


Giới
Nam
Nữ
Tổng

Nữ

Tổng cộng

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

0
1
1
2
5
0
1
0
10

0,00%
3,33%
3,33%
6,67%

13
3
1
0
30

3,33%
10,00%
20,00%
10,00%
43,33%
10,00%
3,33%
0,00%
100%

Kết quả trên bảng 3.9 cho thấy thể bệnh M4 chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả 
hai giới (chiếm 43,33%). Không gặp thể  M0  ở  nam và thể  M7  ở  cả  hai 
giới. Một trường hợp bệnh nhân thể  M0 và 3 trường hợp M5 đều gặp  ở 
bệnh nhân nữ. Bên cạnh đó chỉ  gặp một trường hợp mắc thể  M6  ở  nam 
giới. Đối với thể M1, M2, M3 và M4 gặp cả ở nam và nữ trong đó thể M2, 
M3   có   sự   chênh   lệch   rõ   về   số   trường   hợp   mắc:   thể   M2   thì   tỷ   lệ 
nữ/nam=5/1, thể M3 có nam/nữ= 2/1.
Về độ tuổi: Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh bạch cầu cấp dòng tủy  
gặp  ở  mọi lứa tuổi và gặp cao nhất  ở  tuổi 18­60. Kết quả  này cũng phù 
16


hợp với kết quả  nghiên cứu của Phan Nguyễn Thanh Vân, Nguyễn Hữu  
Toàn (1999) khi cho rằng bệnh bạch cầu cấp gặp  ở  mọi độ  tuổi, tỷ  lệ 


Tỷ lệ

M0

0

0%

M1

4

13,3%

M2

6

20,0%

M3

3

10,0%

M4

12


100%

3.3.4. Mức độ phù hợp về chẩn đoán thể bệnh bạch cầu cấp dòng tủy  
bằng bộ  kít HICYTEC và kết luận của viện Huyết học­Truyền  
máu TW

18


Bảng 3.11. Kết quả chẩn đoán thể bệnh bạch cầu cấp dòng tủy bằng 
bộ kít HICYTEC và kết luận của viện Huyết học­Truyền máu TW 
từng đôi một

K ết  

TT

Mã BN

Họ và tên

Năm 
sinh

luận 

Kết luận 

Ngày 

1403659
7
1403836
0
1403763
0
1403716
7
1501207
6
1501217
1
1501107
2
1500974
9
1501130

Phạm Thị H.

1989 10/01/2014

M4

M4

Nguyễn Đức D.

1962 22/10/2014


1956 12/05/2015

M5a

M5

Nguyễn Như T.

1961 11/05/2015

M4

M4

Trần Thị T.

1960 11/05/2015

M5a

M5

1947 11/05/2015

M1

M1

1987 05/05/2015


thể bệnh

xét 

viện 

sử dụng 

nghiệm

HH­

kit 

TM  HICYTEC
TW
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.

3

̣
4
1500821
Pham Thi L.
̣
̣
2
1500775
Bui Thi C.
̀
̣
0
1500754
Nguyên Thi D.
̃
̣
3
1403880 Nguyễn Thị Kim 

1952 27/04/2015

M6b

M6

1982 27/04/2015

M5b

M5


1962 08/04/2015

M3

M3

1999 07/04/2015

M4

M4

1942 03/04/2015

M2

M2

1940 01/04/2015

M2

M2

2002 28/10/2014

M4

M4


nghiệm

HH­

kit 

TM  HICYTEC
TW
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.

5 A.
1403499
Đỗ Thị P.
5
1403509
Đặng Hồng M.
7
1403441
Hà Thị Thu H.
4
1403440
Nguyễn Văn T.


M4

1960

8/09/2014

M3

M3

1997 28/08/2014

M0

M1

1998 29/08/2014

M4

M4

1996 29/08/2014

M4

M4

1994 24/04/2015

Năm 
sinh

Ngày XN

luận 

Kết luận 

c ủ a 

thể bệnh 

viện 

sử dụng kit 

HH­TM  HICYTEC
TW
1.
2.
3.
4.
5.

1501153
1
1501186
2
1500974


Kết quả nhuộm hóa học tế bào bằng kít nhuộm HICYTEC cho thấy 
có 5 trường hợp bạch cầu cấp thể lai lympho­tủy chiếm  8,3% (xem bảng 
3.4). Tỷ  lệ  này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Triệu Vân và cs  
22


(2004) bạch cầu cấp thể lai tủy­lympho chiếm 6,2% [22]. Đây là thể  hỗn  
hợp giữa 2 dòng tế  bào là dòng lympho và dòng tủy. Khó khăn lớn nhất  
trong việc phân loại thể bệnh bạch cầu cấp lai lympho ­ tủy khi sử dụng  
phương pháp hình thái học ­ hóa học tế bào dùng để phân loại thể bệnh là 
tỷ  lệ  tế  bào dòng lympho và dòng tủy rất biến động trong các mẫu tủy. 
Một số  tế  bào do đột biến có thể  mất một số  chất hóa học hoặc enzym 
trên nguyên sinh chất tế bào nên dẫn đến không nhận định được kết quả. 
3.5. Kết quả nhuộm photphataza kiềm bạch cầu
Bang 3.13. 
̉
Kết quả nhuộm photphataza kiềm trên bệnh nhân bạch cầu 
cấp

Điểm nhuộm

Số lượng

Tỷ lệ


23


và là chỉ  dấu giúp các bác sỹ  lâm sàng theo dõi tiên lượng bệnh. Tuy vậy,  
do sự biến động rất lớn của các tế bào và thành phần tế bào trong mẫu tuỷ 
của các bệnh nhân bạch cầu cấp nên xét nghiệm này thường ít có giá trị và 
chỉ có giá trị khi theo dõi mang tính động học [40].
Hình 3.56 thể  hiện phản  ứng nhuộm photphataza kiềm dương tính,  
nguyên sinh chất tế bào bắt màu đỏ trên nền nhân và hồng cầu màu xanh.

Hình 3.56. Ảnh nhuộm photphataza kiềm mẫu tủy của bệnh nhân Trần Văn 
C.

3.6. Kết quả  nhuộm sắt trên mẫu tủy của bệnh nhân bạch cầu cấp 
tại Viện HH­TM trung ương
Bảng 3.14. Kết quả nhuộm Perls trên các mẫu tủy bị bệnh bạch cầu 
cấp 
Giới
Có tế bào mạng lưới nội mô sắt
Không có tế bào mạng lưới nội mô sắt
Tổng

Số trường hợp
6
54
60

Tỷ lệ
10,0%
90,0%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status