1
1
1
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình của thầy cô trường Đại Học Thương Mại đặc biệt là các thầy cô
giáo trong khoa Tài chính – Ngân hàng đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt kiến thức
cho em trong thời gian vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy ThS Nguyễn Việt Bình
– Bộ môn quản trị tài chính - giáo viên hướng dẫn trực tiếp,tận tình giúp đỡ và chỉ
bảo em trong suốt quá trình làm kháo luận tốt nghiệp. Em cũng xin chân thành cảm
ơn Ban giám đốc cùng các anh chị phòng Tài chính – Kế toán Công ty cổ phần thí
nghiệm kiểm định công trình trọng điểm I đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá
trình thực tập và hoàn thành khóa luận. Cuối cùng xin kính chúc quý Thầy, Cô cùng
các anh chị tại công ty luôn dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong sự
nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Dương Thị Thu Huyền
2
2
2
MỤC LỤC
3
khoản phải thu. Đây là một loại tài sản của doanh nghiệp, tài sản mà doanh nghiệp
bị chiếm dụng, mỗi doanh nghiệp khác nhau lại có giá trị các khoản phải thu khác
nhau, từ mức không đáng kể đến mức không thể kiểm soát được, nó ảnh hưởng
không nhỏ đến kết quả hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt hiện
nay, khoản phải thu là yếu tố quan trọng tạo nên uy tín của doanh nghiệp đối với các
đối thủ của mình và trở thành sức mạnh cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Chính vì
vậy quản trị khoản phải thu luôn là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp đặc biệt
là đối với các doanh nghiệp có khoản phải thu lớn và khó kiểm soát. Ngoài ra nền
kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các quan hệ tín dụng ngày càng trở nên đa
dạng và phức tạp. Sự phát sinh nợ là một yếu tố tất nhiên trong hoạt động kinh
doanh, trong đó bao gồm cả tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. Tình trạng
nợ nần và việc kiểm soát nợ nần được nhìn nhận từ cả hai góc độ: bên cung cấp tín
dụng (chủ nợ) và bên đi vay (khách nợ). Nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với
mức rủi ro tín dụng rất cao, trong đó rủi ro về tổn thất nợ khó đòi là một trong những
nhân tố cần kiểm soát chặt chẽ.
Công ty cổ phần TNKĐ công trình trọng điểm I hoạt động sản xuất kinh doanh
bao gồm các ngành nghề thuộc lĩnh vực xây dựng như xây dựng các công trình,
kiểm định chất lượng công trình xây dựng, thí nghiệm, kiểm tra và phân tích kỹ
thuật,…Vì vậy giá trị khoản phải thu chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng tài sản
của công ty. Với đặc thù của lĩnh vực mà công ty đang hoạt động thì công ty khó
tránh khỏi những khó khăn trong việc thu hồi các khoản nợ từ công trình. Do đó,
công tác quản trị khoản phải thu sao cho hợp lý, mang lại nhiều lợi ích cho kết quả
kinh doanh của công ty là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Xuất phát từ tình
hình đó, qua quá trình tìm hiểu thực tế việc chọn đề tài “Quản trị khoản phải thu
tại công ty cổ phần thí nghiệm kiểm định công trình trọng điểm I” là thiết thực và
có ý nghĩa. Đây là đề tài phù hợp với chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng và mức
độ của một bài khóa luận.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa các nội dung lý luận về quản trị khoản phải thu của doanh nghiệp.
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng quản trị khoản phải thu tại Công ty cổ
+ Cách thức tiến hành phỏng vấn: thực hiện theo các bước: xác định đối tượng
phỏng vấn, xác định câu hỏi phỏng vấn, tiến hành phỏng vấn điều tra, tổng hợp kết
quả phỏng vấn
-
Quan sát thực tế: Trong quá trình thực tập quan sát thực tế hoạt động kinh doanh
của công ty hiện nay để hiểu rõ hơn tình hình hoạt động của công ty.
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
Thu thập dữ liệu qua các báo cáo, tổng hợp…của Công ty về hoạt động sản
xuất kinh doanh nói chung và công tác quản trị quản phải thu nói riêng.
7
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
+ Đối với thông tin sơ cấp:
Sau khi thu thập các thông tin, nhận xét, ý kiến từ phiếu điều ra và từ các cuộc
phỏng vấn trực tiếp, tiến hành phân tích và tổng hợp kỹ càng, nhằm chọn lọc ra các
thông tin có hệ thống, mang tính thống nhất, thực tế, khách quan. Chọn những dữ
liệu có liên quan tới vấn đề mà đề tài nghiên cứu, đảm bảo tập trung trả lời các câu
hỏi, đánh giá tình hình thực tế KPT của công ty như thế nào? Mức độ quan tâm của
công ty đối với quản trị khoản phải thu như nào; những vướng mắc còn tồn tại là gì?
Hướng gợi mở để giải quyết chúng.
+ Đối với thông tin thứ cấp:
-
Phương pháp thống kê: thống kê các số liệu có liên quan để xem xét sự biến
động của chúng qua các thời kỳ. Qua đó tính các chi tiêu đặc trưng nhằm xem xét
-
1.1.1. Khái niệm khoản phải thu
Khi đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ
ngân hàng, hay các đối tác kinh doanh thường quan tâm đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Phải nhấn mạnh rằng, bất cứ một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh
tế nào cũng tồn tại những khoản tiền phải thu đối với các con nợ. Khoản phải thu
không bao giờ tách khỏi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản
ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vậy khoản phải thu là gì? Nó có liên quan
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào?
Khoản phải thu: Là bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị hoặc
cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi.
Khoản phải thu có liên quan đến các đối tác có quan hệ kinh tế đối với doanh
nghiệp bao gồm các khoản:
- Khoản phải thu từ khách hàng
- Khoản ứng trước cho người bán
- Khoản phải thu nội bộ
- Khoản tạm ứng cho công nhân viên
- Các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ
- Các khoản phải thu khác.
1.1.2. Khái niệm quản trị khoản phải thu
Cùng với quản trị tiền mặt và hàng tồn kho, quản trị khoản phải thu có liên
quan đến quyết định về quản trị tài sản của giám đốc tài chính. Quyết định quản trị
khoản phải thu gắn với việc đánh đổi giữa chi phí liên quan đến khoản phải thu và
doanh thu tăng thêm do bán chịu hàng hóa.
Quản trị khoản phải thu đòi hỏi trả lời năm tập hợp câu hỏi sau:
- Doanh nghiệp đề nghị bán hàng hay dịch vụ của mình với điều kiện gì? Dành
cho khách hàng thời gian bao lâu để thanh toán tiền mua hàng? Doanh nghiệp có
chuẩn bị để giảm giá cho khách hàng thanh toán nhanh không?
- Doanh nghiệp cần đảm bảo gì về số tiền khách hàng nợ? Chỉ cần khách hàng kí
vào biên nhận, hay buộc khách hàng kí một loại giấy nhận nợ chính thức nào khác?
- Phân loại khách hàng: Loại khách hàng nào có thể trả tiền ngay? Để tìm hiểu,
nhau từ mức không đáng kể đến mức không kiểm soát nổi. Kiểm soát khoản phải
Quyết
chínhbán
sáchchịu
bán hàng
chịu hợp lý
So sánh lợi nhuận
và liên
chi phí
gia tăng
thu
quan
đến việc đánh đổi giữ lợi nhuận và rủi ro.
Nếuđịnh
không
hóa sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó mất đi lợi nhuận. Nếu bán chịu quá nhiều thì
chi phí khoản phải thu tăng và nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó rủi ro
không thu hồi được nợ cũng gia tăng.
Quản trị khoản phải thu là hoạt động nhằm mục tiêu cơ bản là tìm ra giới hạn
hợp lý cho việc mở tín dụng và cách thức huy động nguồn lực cho công tác thu nợ.
Để quyết định xem có gia tăng khoản bán chịu hay không, giám đốc tài chính cần
xem xét khoản lợi nhuận gia tăng có lớn hơn các chi phí liên quan đến khoản phải
10
thu và chi phí cơ hội do đầu tư khoản phải thu không? Hay nói cách khác việc tiết
kiệm chi phí có đủ bồi đắp lợi nhuận hay không?
Vì vậy, cần phải quản trị khoản phải thu một cách hiệu quả để cân đối chi phí
và thu được lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Quản trị khoản phải thu tốt thì
gian vay vốn.
+ Khoản ký cược: Là số tiền DN dùng vào việc đặt cược khi thuê mượn tài sản
theo yêu cầu của người cho thuê nhằm mục đích rằng buộc trách nhiệm vật chất và
nâng cao trách nhiệm cho người đi thuê trong việc quản lý sử dụng tài sản đi thuê và
sử dụng đúng hạn. Số tiền ký cược do bên cho thê quy định và có thể lớn hơn giá trị
tài sản cho thuê.
+ Ký quỹ: Là số tiền, hay tài sản được gửi trước để làm tin trong các mối quan
hệ mua bán, nhận đại lý bán hàng, tham gia đấu thầu,…
* Khoản phải thu khác:
Khoản phải thu khác gồm các khoản phải thu không có tính chất thương mại,
không liên quan đến giao dịch mua – bán như:
+ Các khoản phải thu tạo ra doanh thu hoạt động tài chính, như: Khoản phải
thu về lãi cho vay, tiền gửi, cổ tức và lợi nhuận được chia;
+ Các khoản phải thu không mang tính thương mại như cho mượn tài sản, phải
thu về tiền phạt, bồi thường, tài sản thiếu chờ xử lý…
12
1.2.2.2. Phân loại khoản phải thu theo thời gian
* Khoản phải thu ngắn hạn
Là những KPT khách hàng, khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, và
các KPT khác tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một
năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh ( Sau khi trừ đi dự phòng phải thu ngắn hạn
khó đòi).
* Khoản phải thu dài hạn
Là các KPT khách hàng, khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, và các
KPT khác và số vốn kinh doanh đã giao cho một đơn vị trực thuộc, tại thời điểm báo
cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm hoặc trong một chu kỳ kinh
doanh ( Sau khi trừ đi dự phòng phải thu dài hạn khó đòi).
1.2.3. Nội dung quản trị khoản phải thu
so sánh khả năng sinh lợi của doanh số kỳ vọng tăng thêm với tỷ suất sinh lợi cần
thiết vào các khoản đầu tư vào KPT và tồn kho.
* Chính sách thu tiền: Bao gồm các quy định về cách thức thu tiền như thu một
lần, hay trả góp và biện pháp xử lý đối với các khoản tín dụng quá hạn.
Các yếu tố tác động đến chính sách tín dụng
Có nhiều yếu tố tác động đến chính sách tín dụng của doanh nghiệp:
Điều kiện của doanh nghiệp:
Đặc điểm về sản phẩm, nghành nghề kinh doanh và tiềm lực tài chinh là những
yếu tố tác động trực tiếp đến chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có thời gian sử dụng lâu bền
thường cho phép mở rộng chính sách tín dụng hơn các doanh nghiệp ít vốn, sản
phẩm dễ hư hỏng, mất phẩm chất, khó bảo quản. Đối với những doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh có tính thời vụ, trong thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp có nhu
cầu tiêu thụ lớn cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn.
Điều kiện của khách hàng: điều kiện của khách hàng được đánh giá dựa vào
các phán đoán sau:
- Vốn hay sức mạnh tài chính ( Capytal): Là thước đo về tình hình tài chính
của một doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến rủi ro thanh toán. Yếu tố này được xác
định dựa vào quy mô vốn chủ sở hữu, tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, khả
năng sinh lợi từ hoạt động kinh doanh.
- Khả năng thanh toán ( Capacity): Được đánh giá qua các hệ số thanh toán
chung, hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán lãi vay…của khách hàng.
- Tư cách tín dụng ( Character): Là thái độ tự giác đối với việc thanh toán nợ
của khách hàng. Yếu tố này được coi là quan trọng vì mỗi một giao dịch tín dụng
được ngầm hiểu là một sự hứa hẹn thanh toán.
- Vật thế chấp ( Collateral): Là tài sản khách hàng dùng để đảm bảo cho khoản
14
hạng
1
Nợ đủ tiêu chuẩn
A
2
Nợ cần chú ý
B
Các dấu hiệu đặc trưng
Các khoản nợ có độ tin cậy cao,
thường bao gồn các khoản nợ
trong hạn.
Khách nợ là những DN vững
chắc về tài chính, về tổ chức, uy
tín và thương hiệu.
Nhóm nợ này gồm các khoản nợ
quá hạn dưới 90 ngày và các
khoản nợ đã cơ cấu lại nợ.
Khách nợ là những DN có tình
Các biện pháp
kiểm soát nợ
Sử dụng các
biện pháp kiểm
hình không ổn định, hiện tại có
khó khăn nhưng có triển vọng
phát triển hoặc cải thiện.
Theo dõi chặt
chẽ để thu nợ,
các giải pháp
đặc biệt phù
hợp với từng
món nợ.
D
Bao gồm các khoản nợ quá hạn
từ 181 đến 360 ngày và các
khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn
trả nợ quá hạn từ 90 đến 180
ngày theo thời hạn cơ cấu lại.
Khách nợ là những DN có tình
hình tài chính xấu, không có
triển vọng rõ ràng hoặc khách
nợ cố ý không thanh toán.
Áp dụng
biện pháp
biệt, theo
chặt chẽ,
dụng cơ
thu nợ.
Kết quả phân loại nợ giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định đúng thực trạng
và tính hữu hiệu của các chính sách thu tiền của doanh nghiệp. Nếu tỷ lệ nợ xấu
(gồm các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5) cao chứng tỏ chất lượng quản trị khoản phải
thu của doanh nghiệp còn yếu kém. Doanh nghiệp cần nhanh chóng triển khai các
biện pháp giải quyết thích hợp, đồng thời đây cũng là căn cứ để xây dựng chính sách
tín dụng trong các kỳ tiếp theo.
Ngoài ra, để theo dõi các khoản phải thu có thể sử dụng các chỉ tiêu phân tích
sau:
16
Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân: Phản ánh số ngày cần thiết bình quân để thu hồi được
các khoản phải thu. Nó được tính bằng cách lấy số dư bình quân KPT nhân với 360
ngày rồi chia cho doanh thu bán chịu trong kỳ. Kỳ thu tiền bình quân ngắn, chứng tỏ
doanh nghiệp không đọng vốn trong khâu thanh toán. Ngược lại nếu kỳ thu tiền dài
chứng tỏ thời gian thu hồi khoản phải thu chậm. Tuy nhiên, để đánh giá được thực
trạng này tốt hay xấu còn phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại và thực tế
thanh toán nợ của từng khoản phải thu. Trong nhiều trường hợp do công ty muốn
chiếm lĩnh thị trường thông qua bán hàng trả chậm, hay tài trợ cho các chi nhánh đại
lý nên kỳ thu tiền bình quân tăng lên.
Vòng quay khoản phải thu:
- Vòng quay các KPT phản ánh tốc độ biến đổi các KPT thành tiền mặt. Hệ số
này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp,
được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải
thu trong kỳ.
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu tuần/ bình quân các khoản phải thu.
Rủi ro do không thu hồi được nợ ( rủi ro tín dụng)
Rủi ro tác động của sự thay dổi tỷ giá, lãi suất,…
Phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Để phòng ngừa rủi ro tín dụng, trước hết DN cần phải tìm hiểu kỹ khách hàng
về tình hình tài chính, khả năng thanh toán,…của khách hàng để xác định giới hạn
tín dụng phù hợp với dừng khách hàng. Bên cạnh đó, căn cứ váo kết quả phân loại
nợ phải thu DN cần phải lập dự phòng đối với những KPT khó đòi. Việc lập dự
phòng có thể xác đinh theo những tỷ lệ % nhất định trên từng loại KPT, hoặc theo
khách nợ đáng ngờ. Cách thức này giúp DN có thể chủ động đối phó khi rủi ro sảy
ra.
Phòng ngừa rủi ro thay đổi hối đoái
Đối với các rủi ro do tác động của tỷ giá, lãi suất có thể lựa chọn các nghiệp vụ
kinh doanh trên thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ như: Nghiệp vụ kỳ hạn,
quyền chọn, hoán đổi tiền tệ và lãi suất, lựa chọn lại tiền vay….
Bên cạnh đó còn các biện pháp khác như phòng ngừa rủi ro bằng hợp đồng kỳ
hạn, bằng quyền chọn bán tiền tệ, thông qua thị trường tiền tệ…
Phòng ngừa bằng hợp đồng kỳ hạn: Phòng ngừa khoản phải thu bằng hợp đồng
kỳ hạn là việc công ty bán có kỳ hạn khoản phải thu ghi bằng đồng tiền đó.
Phòng ngừa bằng quyền chọn bán tiền tệ: Quyền chọn bán tiền tệ là một công
cụ phòng ngừa có giá trị. Quyền chọn bán tiền tệ cung cấp cho người nắm giữ nó
quyền được bán một lượng nhất định một đồng tiền nào đó với một giá trị xác định
trong tương lai. Quyền chọn bán tiền tệ có thể được các công ty sử dụng để phòng
18
ngừa các KPT trong tương lai bằng ngoại tệ bởi vì nó cho phép xác định được mức
giá tại đó KPT trong tương lai có thể được bán. Quyền chọn bán tiền tệ không phải
19
chịu một số tổn thất nhất định. Nhưng vì sự không chắc chắn của giá trị tiền tệ trong
tương lai, công ty có thể hài lòng với việc phòng ngừa hơn là chịu rủi ro do sự biến
động tỷ giá gây ra.
Xử lí với khoản phản thu khó đòi:
Các DN bán chịu cho khách hàng cần phải xem xét kỹ khả năng thanh toán
trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa các bên. Có sự ràng buộc chặt chẽ trong
hợp đồng, nếu vượt qua thời hạn thanh toán theo hợp đồng thì doanh nghiệp được
thu lãi phạt tương ứng như lãi suất quá hạn của ngân hàng.
Các khoản nợ phát sinh phải có chứng từ hợp lệ chứng minh. DN phải thường
xuyên đôn đốc và áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thu hồi các khoản nợ quá hạn.
Định kỳ DN phải đối chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình KPT, đặc biệt các khoản
nợ quá hạn và các khoản nợ khó đòi.
Các tổn thất do không thu hồi được kịp và đầy đủ cần xác định rõ mức độ,
nguyên nhân của từng khoản nợ và có biện pháp xử lý thích hợp như gia hạn nợ,
thỏa ước xử lý nơ, xóa một phần nợ cho khách hàng hoặc khởi kiện trước pháp
luật…Các DN phải có các biện pháp phòng ngừa rủi ro như lựa chọn khách hàng,
giới hạn tín dụng, yêu cầu đặt cọc, tạm ứng,…
Đối với các DN nhà nước, các khoản nợ khó đòi thực sự không có khả năng
đòi, được cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại DN xem xét, thẩm định cho
phép hạch toán vào kết quả kinh doanh. DN phải tiếp tục theo dõi trên sổ kế toán và
đôn đốc thường xuyên để thu hồi KPT sau khi trừ đi chi phí thu nợ, hạch toán vào
thu nhập bất thường của DN.
Đối với những khoản nợ quá hạn, DN có thể áp dụng các quy trình thu hồi nợ
theo cấp độ: Gọi điện thoại, thư nhắc lại, thư khuyên nhủ hoặc thư chuyển cho cơ
quan chuyên trách thu hồi giúp. Nếu các biện pháp này không có hiệu lực DN có thể
nhờ đến các hãng chuyên thu nợ hoặc nhờ tư vấn luật sư.
Đồng thời đối với các khác hàng không trả nợ đúng hạn, DN cần ngừng cung
Sơ đồ 1.3: Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu
21
Giảm khoản phải thu
Tiết kiệm chi phí vào khoản phải thu
Giảm doanhTiết
thu kiệm chi phí đủ bù đắp lợi nhuận giảm không
Thắt chặt chính sách bán chịu
Giảm lợi nhuận
Ra quyết định
(Nguồn: Giáo trình Quản trị tài chính – ĐH Thương mại)
* Mô hình kéo dài thời hạn tín dụng, thu hẹp thời hạn tín dụng
Chính sách bán chịu không chỉ liên quan đến tiêu chuẩn bán chịu mà còn liên
quan đến điều khoản bán chịu. Thay đổi điều khoản bán chịu lại liên quan đến thay
đổi thời hạn bán chịu và thay đổi tỷ lệ chiết khấu.
Sơ đồ 1.4: Mô hình mở rộng thời gian bán chịu
Tăng kỹ thu tiền bình quân
Mở rộng thời gian bán chịu
Tăng doanh thu
(Nguồn: Giáo trình Quản trị tài chính – ĐH Thương mại)
* Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu, giảm tỷ lệ chiết khấu
Thay đổi tỷ lệ chiết khấu ảnh hưởng đến tốc độ thu tiền đối với các khoản
phải thu. Nhưng tỷ lệ chiết khấu sẽ làm giảm doanh thu ròng, do đó, giảm lợi nhuận.
Liệu giảm chi phí đầu tư khoản phải thu có đủ bù đắp thiệt hại do giảm lợi nhuận
hay không.
Cần lưu ý rằng chính sách tăng tỷ lệ chiết khấu hay bất kỳ chính sách bán chịu
nào cũng cần được xem xét thường xuyên xem có phù hợp với tình hình thực tiễn
hay không. Sau khi thực hiện chính sách gia tăng tỷ lệ chiết khấu do tình hình thay
đổi, nếu tiết kiệm chi phì không đủ bù đắp cho lợi nhuận giảm, khi ấy công ty cần
thay đổi chính sách chiết khấu. Nếu công ty muốn xem xét có nên quyết định giảm
tỷ lệ chiết khấu lại hay không thì tiến hành phân tích mô hình.
Sơ đồ 1.6: Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu
23
Giảm kỳ thu tiền bình quân
Giảm khoản phải thu
Tiết kiệm chi phí vào khoản đầu tư
Tiết kiệm chi phí có đủ bù đắp lợi nhuận giảm k
Tăng tỷ lệ chiết khấu
Giảm doanh thu ròng
Ra quyết định
Bán chịu hàng hóa
Tăng doanh thu
Tăng khoản phải thu
Tăng lợi nhuận
Tăng chi phí
So sánh
Cơ hội
Quyết định chính sách bán chịu
Rủi ro
(Nguồn: Giáo trình Quản trị tài chính – ĐH Thương mại)
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị khoản phải thu
1.3.1. Các nhân tố bên trong
Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp chủ yếu ở việc doanh nghiệp có
nắm bắt và kiểm soát được các nhân tố này hay không.
* Trình độ nguồn nhân lực: đây là một trong những nguồn vốn quý nhất của
DN có ảnh hưởng to lớn đến sự thành bại trong kinh doanh và khả năng cạnh tranh
trên thị trường của DN. Trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ công nhân viên
sẽ quyết định đến chất lượng của sản phẩm, dịch vụ, năng suất lao động và từ đó tác
động đến hiệu quả quản lý KPT. Còn với cán bộ lãnh đạo và quản lý, việc đưa ra các
quyết định sản xuất kinh doanh, phương pháp quản lý, mục tiêu và định hướng phát
triển của DN phụ thuộc rất lớn ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm trên
thương trường.
* Trình độ khoa học công nghệ: việc áp dụng các công nghệ tiên tiến hiện đại
với nước ngoài như: xuất khẩu, đầu tư, việc chuyển đổi tiền, sức mua… nó càng
nguy hiểm hơn đối với các khoản phải thu khi nó rơi vào đúng thời hạn thanh toán
nợ của khách hàng.
- Lãi suất: Khi cần vốn vào đầu tư kinh doanh thì DN sẽ cần rất nhiều đến sự
tài trợ vốn của ngân hàng, các nhà cho vay thì lãi suất được tính toán một cách kỹ
lưỡng. Lãi suất liên quan đến việc mở rộng tín dụng, muốn tăng doanh số bán ra thì
phải mở rộng chính sách tín dụng thì phải cần đến vốn. Nếu KPT khách hàng vẫn
không giảm thì công ty không những không trả được lãi vay mà còn làm giảm khả
năng thanh toán nợ đối với các nhà cung cấp, nó sẽ góp phần làm gia tăng chi phí