PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHOẢN PHẢI THU.
I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, MỤC TIÊU VÀ CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ TÀI
CHÍNH.
1. Khái Niệm Của Quản Trị Tài Chính:
Quản trị tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp
trực tiếp với các kế hoạch.
Các nguồn vốn được sử dụng vào các hoạt động của công ty và hình thành cấu trúc tài
sản của nó bao gồm:
s Tài sản cố định.
T Tồn kho: tạo ra những điều kiện để sản xuất liên tục hay bán hàng thuận lợi hơn
Các khoản phải thu là những khoản nợ từ phía khách hàng, những người mua hàng của công ty
nhưng chưa trả tiền.
n Tiền mặt và chứng khoán khả nhượng. Được sử dụng trong các mục đích giao dịch và
thanh toán.
2. Vai Trò Của Nhà Quản Trị Tài Chính:
Nhà quản trị tài chính có thể tác động rất mạnh đến sự thành công của doanh nghiệp. Sự
tác động này nó thể hiện bằng khả năng đáp ứng với những thay đổi, lập kế hoạch để sử dụng
vốn một cách có hiệu quả, kiểm soát quá trình sử dụng vốn, làm tăng vốn....
Các nhà quản trị tài chính sẽ tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế thông qua việc
sử dụng nguồn lực tiền vốn của nền kinh tế đáp ứng nhu cầu của xã hội. Khai thác và sử dụng
hiệu quả, các nhà quản trị tài chính làm tăng của cải của doanh nghiệp và đóng góp vào sức
sống và sự tăng trưởng của nền kinh tế.
3. Mục Tiêu Của Quản Trị Tài chính:
Quản trị có hiệu quả các luông vốn trong doanh nghiệp đã bao hàm việc phục vụ một
mục tiêu và mục đích của nó. Bởi vì, việc ra quyết định hay không đối với một quyết định tài
chính nào đó cuối cùng phải dựa trên những tiêu chuẩn nhất định của công ty. Tất nhiên, mỗi
doanh nghiệp có thể có rất nhiều mục tiêu, song với mục tiêu nghiên cứu của đề tài chúng ta sẽ
xoáy quanh mục tiêu làm tăng trưởng tài sản cho chủ doanh nghiệp.
Tóm lại, mục tiêu của doanh nghiệp trên, quan điểm tài chính là làm tăng giá trị cho chủ
doanh nghiệp. Mục tiêu này được thể hiện bằng cách cực đại hoá giá trị của chủ doanh nghiệp,
sự phân phối vốn vào các dự án đầu tư mà hy vọng nó có khả năng sinh lợi tốt trong tương
lai
Vốn cần phải được phân phối phù hợp với các tiêu chuẩn nhất định. Thu nhập cần thiết
của một dự án đầu tư phải phù hợp với mục tiêu cực đại hoá giá trị cho doanh nghiệp.
Chức năng phân phối vốn ngày nay cũng phải quan tâm với các hoạt động như hợp nhất
và phát triển. Do đó, trong hoạch định ngân sách cần phải đưa vào các yêu cầu về sự tăng
trưởng cả ở trong và ngoài nước.
Chúng ta có thể nghiên cứu trong chức năng phân phối vốn những quyết định về phá
sản, tái tổ chức công ty, mà trong đó bao gồm các quyết định để thanh toán công ty hoặc hồi
phục nó, thường là sự thay đổi cấu trúc vốn.
4.4. Các yếu tố nâng cao vai trò quản trị tài chính trong doanh nghiệp:
Vai trò của quản trị tài chính không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo vốn cho hoạt động của
công ty mà còn mở rộng bao quát cho toàn bộ hoạt động của công ty. Sự thay đổi này là do:
c Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng tăng, để đứng vững trên thị trường, thì
doanh nghiệp phải phối hợp các chức năng với nhau một cách hợp lý để giành vị thế có lợi.
Như vậy, sự ổn định về mặt tài chính là một trong những yếu tố giành vị thế cạnh tranh.
N Do lam phát: lạm phát tài chính là chỉ số giá cả tăng, sản xuất tăng. Vì vậy, kinh doanh gặp
khó khăn, mặc dù khi lạm phát tăng các nhà cho vay hạn chế cho vay nợ dài hạn, doanh
nghiệp luôn đối phó với Nợ và rủi ro tăng lên.
n Do sự tiến bộ của khoa học công nghệ liên tục biến đổi, nhu cầu về vốn lại càng tăng, hao
mòn tài sản ngày càng ngắn, thời hạn thu hồi vốn ngắn...
Như vậy, cần quản lý vốn có hiệu quả nhà quản trị tài chính phải quyết định lựa chọn các
dự án có tính sinh lợi cao đồng thời có mức rủi ro thấp.
5. Những Vấn Đề Cơ Bản Của Quản Trị Vốn Luân Chuyển.
5.1. Khái Niệm, Đặc Điểm Của Vốn Luân Chuyển.
a. Khái niệm của vốn luân chuyển:
Vốn luân chuyển gộp là giá trị của tài sản lưu động tài trợ bằng nguồn vốn, bao gồm:
V Tiền mặt.
T Khoản phải thu.
K Tồn kho.
phát sinh trong các hoạt động kinh doanh hằng ngày.
p Cất trữ: là giữ tiền để duy trì một khoản dư như là một lớp đệm để đối phó với những sự
ngẫu nhiên không dự kiến trước được.
n Đầu cơ: là gởi tiền với hy vọng kiếm lợi từ sự biến đổi giá của chứng khoán.
Các quyết định trong lĩnh vực quản trị tiền mặt có mục đích là cực đại hoá tiền quỹ khả
dụng và khả năng sinh lợi của tiền nhàn rỗi được đầu tư vào các khoản chứng khoán để bán
được một cách thích hợp. Nội dung cơ bản nghiên cứu trong lĩnh vực này là biện pháp thu tiền
nhanh với mục đích giảm bớt số vốn trôi nổi trong qúa trình thu nợ, chuyển hoá tiền quỹ khả
dụng. Biện pháp kiểm soát chi tiêu với mục tiêu tăng vốn trôi nổi trong các nghiệp vụ thanh
toán, tập trung các khoản thanh toán.
b. Quản trị khoản phải thu:
Quản trị khoản phải thu nhằm mục tiêu cơ bản là tìm ra giới hạn hợp lý cho việc mở tín
dụng và cách thức huy động các nguồn lực cho công tác thu nợ. Quyết định liên quan đến công
tác quản trị khoản phải thu bao gồm:
t Xác định các tiêu chuẩn tín dụng.
X Thời hạn tín dụng.
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
VLCròng = VLCgộp - Nợ lưu động.
Thủ thuật đánh giá tín dụng.
T Chính sách thu nợ.
Các quyết định này quan trọng đối với doanh số, lợi nhuận cũng như độ lớn của khoản phải
thu trong công ty. Như vậy, nhà quản trị tài chính cần phải hết sức thận trọng trong công tác
quản trị khoản phải thu.
Nhà quản trị tài chính luôn quan tâm là làm sao phải giảm tối đa các khoản phải thu ở mức
thấp nhất và tránh những mất mát ở mức cho phép có thể chấp nhận được, khách hàng có thể
làm cho chúng ta lâm vào tình cảnh và nguy cơ rủi ro về tài chính cao khi họ cố tình kéo dài
khoản nợ hoặc không chịu thanh toán, điều đó buột doanh nghiệp phải phát sinh chi phí như:
k Doanh nghiệp phải sử dụng nhiều nguồn lực hơn trong việc thu nợ.
D Doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn vào tài sản lưu động.
Do đó, doanh nghiệp phải đề ra một chính sách thu nợ mềm dẽo, hiệu quả để vừa tránh xảy
để mở rộng thị trường tìm kiếm khách hàng mới tiềm năng. Nợ của công ty là khoản tiền bị
khách hàng chiếm dụng nhưng bù lại đó là khoản vốn thực chất bị chiếm dụng từ nhà cung cấp.
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
Nhà quản trị phải làm thế nào đó để cho công ty chiếm dụng vốn của nhà cung cấp tăng lên
nhưng mặt khác lại muốn làm cho khoản phải thu ngày càng nhỏ dần đi và tạo được lợi nhất.
2. Mục Đích Của Khoản Phải Thu.
2.1. Những lợi ích của việc tăng khoản phải thu:
2 Khi tăng khoản phải thu tức là doanh số bán ra tăng, tiết kiệm được chi phí cố định biên.
K Tăng vị thế cạnh tranh của công ty, tăng thị phần và mở rộng thị trường.
T Tuy phí tổn mua chịu khá cao nhưng nhiều khi khoản này cũng chỉ tương ứng với độ rủi ro
mà người bán phải gánh chịu.
m Nó là công cụ để quảng cáo để đẩy mạnh tiêu thụ cho nhà sản xuất kinh doanh.
2.2. Những bất lợi của việc tăng khoản phải thu:
2 Tăng vốn đầu tư kéo theo chi phí vốn tăng.
T Khoản nợ khó đòi tăng, mất mát nhiều hơn công ty sẽ bị thiệt hại khi không đòi được nợ.
K Các chi phí khác cũng tăng lên khi tăng khoản phải thu như: chi phí quản lý, chi phí thu nơ,
chi phí thông báo....
3.Các Biến Số Của Một Chính Sách Tài Chính:
Giá bán, chất lượng sản phẩm, danh tiếng của công ty, quảng cáo, phạm vi bảo đảm, thoả
thuận giao nhận và dịch vụ hậu mãi là những yếu tố kiểm soát được. Trong khi đó, chính sách
tín dụng là một yếu tố quyết định quan trọng khác liên quan đến mức độ, chất lượng và rủi ro
của doanh thu bán hàng. Chính sách tín dụng của doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc
kiểm soát bởi 4 biến số sau:
3.1. Tiêu chuẩn tín dụng:
Là nguyên tắc chỉ đạo định rõ sức mạnh tài chính tối thiểu và có thể chấp nhận được
của những khách hàng mua chịu. Theo nguyên tắc này, những khách hàng hay từ chối yêu cầu
của khách hàng chủ yếu dựa trên lòng tin ở những điền kiện thực tế khách hàng. Vì vậy, yêu
cầu của một hệ thống tín dụng phải là: có thể lượng hoá mức độ đáng tin cậy của khách hàng,
có thể đo lường so sánh mức độ khác biệt của khách hàng. Đảm bảo tính nhất quán cho các
quyết định tín dụng, đảm bảo đơn giản trong quá trình đánh giá khách hàng.
quan trọng quyết định đến khách hàng nếu họ chấp nhận chiết khấu hoặc không muốn hưởng
chiết khấu đó. Đó là khoản tiền mà công ty hứa sẽ thanh toán cho khách hàng với kỳ vọng họ sẽ
trả tiền ngay, nó sẽ là giảm lợi nhuận của bên bán nhưng bù lại công ty sẽ có được chi phí cơ
hội cho một kế hoạch khác. Vì vậy, quyết định chiết khấu bao nhiêu cần cân nhắc kỹ phần tiết
kiệm vốn và phần mất đi do giảm giá.
3.4. Mức rủi ro mất mát phải chấp nhận:
Mở rộng tiêu chuẩn tín dụng có thể phải bao hàm một sự chấp nhận rủi ro không đòi nợ
được. Trong những trường hợp như vậy có thể coi sự mất mát này như là một chi phí được
cộng thêm vào trong quá trình tính toán, thông thường mất mát được tính bằng tỷ lệ % so với
doanh thu.
3.5. Chính sách thu nợ:
Chính sách thu nợ có mục đích là sử dụng các nguồn lực của công ty để thực hiện việc
thu tiền đối với các hoá đơn quá hạn.
Biến số cơ bản của chính sách thu nợ là giá trị kỳ vọng của các thủ tục thu nợ trong một
thời gian nhất định, giá trị kỳ vọng của thủ tục thu nợ càng cao thì càng hạ thấp tỉ lệ và rút ngắn
thời hạn thu tiền.
Để cân nhắc cho chi phí thủ tục của các thủ tục thu nợ ta giả sử rằng lượng bán không
còn ảnh hưởng đến sự cố gắng thu nợ. Như vậy, cần cân nhắc giữa một bên là giảm đầu tư vào
các khoản phải thu và giảm mất mát còn bên kia là sự tăng chi phí kiểm soát tín dụng, tăng
cường việc thu tín dụng. Một khoản phải thu chỉ tốt như mong muốn khi nó được thanh toán
trước hoặc đúng hạn, công ty không thể chờ quá lâu đối với hoá đơn quá hạn trước khi khởi sự
thủ tục thu tiền quá sớm, hoặc nếu không hợp lý sẽ làm tăng chi phí và có thể làm mất lòng tin
khách hàng.
3.6. Tài Trợ Từ Khoản Phải Thu.
a. Uỷ nhiệm các khoản phải thu:
Doanh nghiệp có thể có một khoản vay nợ tính bằng tỷ lệ % giá trị của các khoản phải
thu đem đi thế chấp và được chấp nhận. Tỷ lệ % khoản vay so với giá trị trên mặt của khoản
phải thu được xác định căn cứ vào chất lượng và quy mô của khoản thu. Chất lượng khoản phải
thu thấp quá có thể bị từ chối. Còn các khoản phải thu được chấp nhận thì căn cứ theo chất
lượng có thể cho khoản 50% -> 80% giá trị trên mặt của khoản phải thu. Hơn nữa, khi quy mô
vốn của ngân hàng, các nhà cho vay thì lãi suất được tính toán một cách kỹ lưỡng. Lãi suất liên
quan đến việc mở rộng tín dụng, muốn tăng doanh số bán ra thì phải mở rộng chính sách tín
dụng thì phải cần đến vốn. Nếu khoản phải thu khách hàng vẫn không giảm thì công ty không
những không trả được lãi vay mà còn làm giảm khả năng thanh toán nợ đối với các nhà cung
cấp, nó sẽ góp phần làm gia tăng chi phí của công ty. Do vậy, lãi suất ngân hàng cũng là yếu tố
tác động rất lớn đến việc mở rộng các chính sách phải thu tại công ty, nó còn là căn cứ để công
ty có các chính sách chiết khấu hợp lý đối với khách hàng và cũng là căn cứ để công ty cho
khách hàng nợ trong một thời gian nhất định đối với các khách hàng không mở tín dụng.
4.4. Chi phí cơ hội:
Chi phí cơ hội của vốn là sự mất đi lợi ích từ vốn bị khách hàng chiếm dụng, phần vốn
đó sẽ tạo ra cơ hội lớn hơn cho sự sinh lợi nếu ta có được khoản nợ của khách hàng trả trước
cho ta. Việc cho khách hàng nợ tiền tạo ra cơ hội tăng doanh số bán nhưng ta lại mất đi cơ hội
để có một khoản lợi nhuận khác.
Giả sử một nhà đầu tư không còn đầu tư nào khác nên đã đến Công ty đầu tư vào kinh
doanh thay vì bỏ tiền vào ngân hàng, việc đầu tư vào kinh doanh với kỳ vọng sẽ tạo ra một
khoản lợi nhuận lớn hơn từ lãi suất ngân hàng. Vì vậy, chúng ta có thể dựa vào lãi suất ngân
hàng để xác định chi phí cơ hội vốn của khách hàng như sau:
Với việc tính toán như trên sẽ cho ta một công thức tính chiết khấu cho khách hàng đảm
bảo quyền lợi cho Công ty vừa kích thích hợp lý cho người thanh toán nhanh các khoản nơ.
5. Theo Dõi Khoản Phải Thu.
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
Lãi suất TGNH < lãi suất chiết khấu < lãi suất tiền vay.
5.1. Kỳ thu tiền bình quân:
Một công cụ đo lường có thể hổ trợ nhà quản trị theo dõi các khoản phải thu là kỳ thu
tiền bình quân. Là tổng giá trị hàng hoá đã bán cho khách hàng theo phương thức tín dụng
thương mại tại một thời điểm nào đó chia cho doanh số bán chịu bình quân mỗi ngày.
Trong đó: Kt : kỳ thu tiền bình quân (ngày).
Ct : khoản phải thu.
Sa : doanh số bán tín dụng/năm.
D : số ngày/năm (thường là 360 ngày)
đọng theo thời gian.
đ Nhược điểm: vẫn có thể có những độ lệch ngẫu nhiên xuất phát từ mô hình bình quân và
chúng ta có thể chấp nhận hay không chấp nhận độ lệch chuẩn này.
Cung cách thanh toán các khoản tín dụng thương mại của khách hàng trong các ngành công
nghiệp khác nhau và tại các khu vực địa lý khác nhau thì rất khác nhau, nên mô hình này sẽ
không thể áp dụng chung cho tất cả các ngành công nghiệp, địa lý nó sẽ không phù hợp.
6. Phân Tích Các Thông Số Tài Chính:
Các thông số tài chính là công cụ hữu ích để phân tích điền kiện và hiệu suất tài chính.
Chúng ta có thể chia thành 4 loại chính đó là:
C Khả năng thanh toán.
K Thông số nợ.
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
Kt = Ct*D / Sa
Khả năng sinh lợi.
K Thông số khả năng trả nợ.
Mỗi thông số chỉ phản ảnh một mặt nào đó, vì thế muốn đánh giá chính xác cần phải kết
hợp một số thông số cần thiết khác.
Các thông số tài chính không chỉ giúp cho các nhà cho vay và nhà đầu tư đánh giá công
ty, mà còn giúp các nhà quản trị hiểu rõ hơn tình thế của mình và thực hiện các hoạt động thích
hợp qua đó có thể thương lượng hiệu quả với người cấp vốn từ bên ngoài. Tính hữu ích của
thông số tài chính phụ thuộc vào kinh nghiệm của nhà phân tích. Tự nó các thông số có rất ít ý
nghĩa, vì thế nó phải được đem đối chiếu một cách thích hợp để phát huy vấn đề một cách sâu
sắc. Các so sánh này có thể tiến hành theo thời gian để thấy khuynh hướng biến đổi về các điền
kiện và hiệu suất tài chính hoặc đem so sánh với số bình quân ngành để thấy thế tương đối.
Thêm vào cách phân tích thông số là các phân tích khối và phân tích chỉ số như là các
phân tích ngang và dọc bảng báo cáo tài chính. Chúng làm rõ hơn quan hệ tương đối giữa các
tài khoản và sự phát triển của từng tài khoản trong bối cảnh chung.
Để ước lượng mức rủi ro trong các chính sách tài chính của công ty ta còn có thêm một
công cụ phân tích nữa đó là phân tích đòn bẩy. Các đòn bẩy xuất hiện khi trong kết cấu chi phí
của công ty có các khoản chi cố định, mà thực tế chi phí này phát sinh từ cơ cấu tài sản và cơ
Từ sau 1975 được đổi thành công ty dệt may Hoà Thọ, hoạt động sản xuất chủ yếu theo
các chỉ tiêu pháp lệnh, sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước trong suốt thời kỳ bao cấp.
Nguyên vật liệu sản xuất từ cấp trên cấp xuống. Hoạt động dưới sự bảo hộ của Nhà nước và
tổng công ty dệt may Việt Nam.
2.2. Quá trình phát triển:
Từ năm 1976-1991 sản lượng của Công ty không ngừng tăng lên và bắt đầu sản xuất ra
nước ngoài vào năm 1989, hai thị trường chủ yếu là Liên Xô cũ và Đông Âu.
Năm 1991 Liên Xô và Đông Âu tan rã, Công ty mất thị trường chính nên hoạt động tiêu
thụ của Công ty giảm mạnh. Vì thế, đời sống của CB-CNV gặp nhiều khó khăn. Trước tình
hình đó đặt ra cho Công ty phải nghiên cứu đổi mới công nghệ và thực hiện cuộc thay máu toàn
Công ty.
Năm 1994-1995 Công ty đã liên doanh với các đối tác nước ngoài để sản xuất khăn
bông cao cấp xuất khẩu với tổng vốn liên doanh là 6.757.762 USD-Năm 1997 với sự giúp đỡ
của Tông Công ty dệt may Việt Nam nên Công ty tiếp tục hiện đại hoá máy móc thiết bị bằng
cách đầu tư thêm 1 xí nghiệp may gồm 8 chuyền với công nghệ và trang thiết bị hiện đại của
Nhật Bản với tổng vốn đầu tư là 7,5 tỷ đồng.
Từ năm 1999-2000 do sản phẩm dệt có chất lượng thấp nên Công ty bị mất thị trường
cũ và không tìm được thị trường mới cho sản phẩm này nên Công ty làm ăn thua lỗ và không
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
trả đủ lương cho CB-CNV, cuối năm 2000 Công ty quyết định giải thể ngành dệt và Công ty
điều chuyển số công nhân sang làm việc cho các ngành khác.
Năm 2002 Công ty đã khánh thành và đưa vào hoạt động nhà máy số2 gồm 8 chuyền
máy với máy móc thiết bị được nhập từ Mỹ, Nhật có tổng vốn đầu tư ban đầu là 5,5 tỷ đồng.
Hiện nay số lao động của Công ty là 3770 người và có 31.000 cọc sợi được phân bổ cho
các xí nghiệp thành viên của Công ty, thị trường tiêu thụ vải sợi của Công ty là các tỉnh Quảng
Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, tp Hồ Chí Minh và Tp Hà Nội, thị trường may mặc của Công ty
chủ yếu là các nước EU.
II. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA CÔNG TY.
1. Chức Năng Của Công Ty:
Công ty dệt may Hoà Thọ là một doanh nghiệp Nhà nước được ghi rõ trong quyết định
Trạm phân phối điện
Phòng kinh doanh XNK may
Phòng kinh doanh XNK sợi
Ph kỹ thuật công nghệ may
Phòng kỹ thuật đtư-QLCLSP
Phòng tổ chức-hành chính
Phòng quản lý CLSP may
Nhà máy sợi Hoà Thọ
Xí nghiệp may Hội An
Xí nghiệp may 2 Hoà Thọ
Phòng tài chính-kế toán
Xí nghiệp may 1 Hoà Thọ
Nhà máy may Quảng Nam
Xưởng may số 3 Hoà Thọ
Xí nghiệp may Điện Bàn
Văn phòng đại diện
Các đại lý tiêu thụ sản phẩm
Các cửa hàng kinh doanh
Quan hệ trực tuyến:
Quan hệ chức năng:
PHÓ TGĐ PHỤ TRÁCH SỢIPHÓ TGĐ ĐIỀU HÀNH MAY
2. Nhiệm Vụ và Quyền Hạn của các Phòng Ban:
2 Tổng giám đốc: là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Công là
người đại diện cho người sử dụng lao động. Tổng giám đốc có quyền quyết định cao nhất
trong Công ty. Là người chịu trách nhiệm trước tổng Công ty, quyết định mọi công việc
điều hành kinh doanh của Công ty theo đúng pháp luật và chính sách của Nhà nước, chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty và trực tiếp chỉ đạo các phó tổng
giám đốc và các phòng ban chức năng.
g Hai phó tổng giám đốc:
H Phó tổng giám đốc điều hành may: giúp việc cho tổng giám đốc thay mặt tổng giám đốc
h Phòng kỹ thuật công nghệ: xây dựng-triển khai-kiểm tra-thực hiện các quy trình kỹ thuật
công nghệ sản xuất các loại sản phẩm may và giám sát việc thực hiện các định mức kinh tế
kỹ thuật.
Tham gia xây dựng các dự án đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, phát triển mở rộng sản
xuất ngành may của Công ty.
Nhận xét: Công ty là đơn vị Nhà nước trực thuộc công ty dệt may Việt Nam. Mô hình quản
lý của Công ty là mô hình trực tuyến chức năng với các nhà máy, xí nghiệp chịu sự quản lý của
các phó tổng giám đốc và có sự tư vấn giúp đỡ của các phòng ban chức năng. Các phònh ban
chức năng được sự chỉ đạo trực tiếp của tổng giám đốc.
Ưu điểm: việc Công ty áp dụng mô hình quản lý trực tuyến chức năng là hoàn toàn phù hợp
với đặc điểm sản xuất và hoàn cảnh điều kiện của Công ty. Hiện tại Công ty sản xuất nhiều loại
sản phẩm khác nhau trong khi nguồn lực lại hạn chế (nhân viên làm việc trong các phòng ban
chức năng đòi hỏi phải có trình độ cao, nghiệp vụ chuyên môn vững vàng). Vì vậy, Công ty đã
áp dụng mô hình này nhằm tận dụng hết nguồn lực vốn có của Công ty. Rút gọn bộ máy quản
lý và dễ dàng chỉ đạo hơn, thông tin, mệnh lệnh được trực tiếp đến các phòng ban nhanh chóng
và hiệu quả hơn.
Nhược điểm: với mục tiêu của Công ty không chỉ dừng lại ở những thị trường hiện có mà
còn mở rộng hơn nữa và quy mô sản xuất không ngừng mở rộng. Vì vậy, mô hình này còn
nhiều hạn chế, nhất là kênh phân phối và tiêu thụ, việc Công ty không có phòng Marketing là
một hạn chế lớn vì đây là một phòng ban rất quan trọng để nâng cao hiệu quả tiêu thụ ra thị
trường. Trong khi các nhà máy xí nghiệp nằm ngoài khuôn viên công ty lại chưa được chỉ đạo
xác sâu nên việc truyền đạt thông tin và mệnh lệnh từ tổng giám đốc đến các đơn vị sản xuất
này gặp rất nhiều khó khăn cần được điều chỉnh lại.
IV. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH .
1. Môi Trường Vĩ Mô.
1.1. Các yếu tố kinh tế:
Chỉ tiêu ĐVT 2001 2002 2003
Dự đoán
2004 2005
Tỷ lệ GDP (%) 6.89 7.04 7.24 >7.4 >7.5
thiện tạo điền kiện cho các nhà doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường trong nước và hướng
ra thị trường thế giới.
1.3. Các yếu tố văn hoá-xã hội:
Với truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam, dù đi bất cứ nơi đâu con người Việt
Nam vẫn giữ gìn một bản sắc văn hoá độc đáo và sâu sắc nhất, với tính cần cù của con người
Việt Nam và lối sống văn hoá phương đông kín đáo, dân tộc ta đã tạo nên một nét riêng cho
chính mình, xã hội Việt Nam luôn lành mạnh và con người Việt Nam luôn luôn nhiệt tình và
hiếu khách. Điều đó đã để lại những ấn tượng rất sâu sắc cho những du khách cũng như những
nhà đầu tư nước ngoài. Họ luôn tin tưởng vào con người Việt Nam, đã tạo ra cho họ một phong
cách sống mới với nền văn hoá xã hội Việt Nam, tạo niềm tin tuyệt đối cho các nhà đầu tư yên
tâm làm ăn và là cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam tiếp cận với khoa học công nghệ mới cách
quản lý nền kinh tế hiện đại.
Văn hoá-xã hội mang ý nghĩa rất to lớn không chỉ đối với từng ngành hay từng khu vực
mà nó còn làm cho tổng thể một chiến lược phát triển kinh tế toàn xã hội.
1.4. Các yếu tố khoa học-công nghệ:
Tốc độ tin học hoá của toàn nhân loại đã gắn kết con người gần lại với nhau hơn, công
nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, khoa học kỹ thuật không ngừng tạo ra những công nghệ tiên
tiến đã làm cho sức lao động của con người đỡ đi hàng ngàn lần, năng suất tạo ra tăng vọt làm
cho hàng hoá đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của con người. Điều này tác động rất lớn đến Công
ty bằng chứng là đã thay đổi hàng loạt các máy móc thiết bị có kỹ thuật công nghệ cao cho
năng suất cao, tạo ra nhiều hàng hoá cho xã hội. Với công nghệ mới và kiến thức sâu rộng đã
kết hợp lại với nhau làm cho hoạt động sản xuất của Công ty ngày càng hiệu quả hơn.
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
Bên cạnh đó Công ty đã tốn rất nhiều chi phí cho việc thay đổi máy móc thiết bị, công
nghệ ngày càng cao tạo ra sản phẩm ngày càng có chu kỳ sống ngắn dần lại nếu như Công ty
không ngừng cải tiến thì đây là một nguy cơ đối với Công ty. Nhưng ngược lại tạo ra sự cạnh
tranh đó sẽ là cơ hội cho Công ty.
2. Môi Trường Vi Mô.
Môi trường kinh tế vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là yếu tố ngoại cảnh đối
với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó, nó có
hợp và có mối quan hệ rất mật thiết đã tạo nên những nhà cung cấp bền vững cho Công ty.
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
Các trung gian - Công chúng - Mối giớiNhà cung cấp Khách hàng
Đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp
Ngoài ra, Công ty còn nhập thêm nhiều máy móc, thiết bị, phụ tùng để thay thế, công
nghệ hư hỏng không đạt hiệu quả trong quá trình sản xuất, được cung cấp bởi những nước có
ngành công nghệ cao như: Nhật, Mỹ, Canada, EU và Trung Quốc...
2.2. Đối thủ cạnh tranh:
Đặc điểm: tốc độ tăng trưởng của ngành dệt may hiện nay là khá cao vì nhiều công ty
đổ xô vào thị trường này để chiếm lấy thị phần. Vì vậy, cạnh tranh ngày càng gây gắt, hiện nay
ngoài việc phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh trong nước như: công ty dệt may Tây Đô với
uy tín và chất lượng đã dần chiếm lĩnh thị trường và có thị phần khá cao, công ty dệt may
29-3....công ty dệt may Hoà Thọ còn phải đối phó với các công ty từ nước ngoài như: công ty
dệt may Trung Quốc tuy thị phần chưa cao ở thị trường Việt Nam, nhưng lại có tốc độ tăng
trưởng rất cao đây là sự đe doạ lớn cho tổng công ty dệt may Việt Nam nói chung và công ty
dệt may Hoà Thọ.
Tên Công ty Thị phần2002 Thị phần2003 Tỷ lệ gia tăng
Công ty dệt may 29-3 10.8 11.2 3.7%
Công ty dệt may Phong Phú 8.5 8.9 4.71%
Công ty dệt may Tây Đô 12.3 12.8 4.1%
Công ty may Sài Gòn 6.7 6.4 -4.48%
Công ty Pan Co 5.1 6.3 23.53%
Công ty may Trung Quốc 3.2 3.6 12.5%
Công ty may Hoà Thọ 6 6.3 5%
Bên cạnh đó, các đối thủ cạnh trạnh vừa là đối tác của Công ty mỗi khi có nhu cầu lớn
về số lượng các công ty sang sẽ gánh nặng cho nhau để hoàn thành hợp đồng đúng yêu cầu và
thời hạn.
2.3. Khách hàng:
Khách hàng và nhu cầu của khách hàng quyết định quy mô về cơ cấu nhu cầu trên thị
đoàn....
V. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NGUỒN LỰC CỦA CÔNG TY.
1. Nguồn Nhân Lực Của Công Ty:
1.1. Đặc điểm giới tính: Tình hình lao động của Công ty rất ổn định, tỉ trọng lao động
nữ thường chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với lao động nam. Vì đây là đặc thụ của ngành may,
do tính khéo tay của nữ giới nên phù hợp với công việc này. Lo động trong Công ty đã tăng dần
qua các năm, nguyên nhân là do Công ty đã dần thay đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao và mở rộng
nhiều nhà máy may và nhà máy sợi.
Năm 2003 số lao động được tuyển vào tăng cao đây là kết quả tất yếu và hợp lý của
Công ty trong chính sách mở rộng quy mô sản xuất và cũng là nhằm đào tạo tay nghề chuẩn bị
cho một xí nghiệp mới sẽ được mở vào năm 2005 với máy móc thiết bị hiện đại. Tỷ lệ lao động
giữa nữ và nam là 9/2 người, cứ có 9 lao động nữ thì có 2 lao động nam và phần lớn lao động
nam được làm việc trong các nhà máy sợi và các ngành sản xuất nặng.
1.2. Lao động theo trình độ: lao động phổ thông chiếm đa số, điều này cũng do đặc
điểm của các ngành mà Công ty đang sản xuất kinh doanh. Trong cơ cấu lao động phân theo
trònh độ thì lao động kỹ thuật tăng lên qua các năm, do yêu cầu về việc sửa chữa, bảo trì máy
móc và công nghệ mới nên đòi hỏi phải có đội ngủ công nhân lành nghề và có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao.
Lao động có trình độ đại học cũng tăng cao qua các năm, đây cũng là chính sách tuyển
dụng của Công ty để đáp ứng nhu cầu quản lý hành chính đòi hỏi nhân viên phải có trình độ
cao nghiệp vụ chuyên môn trong quản lý. Như vậy , việc tuyển chọn lao động của Công ty cũng
thật sự rõ ràng hơn, Công ty tuyển nhân viên có trình độ phổ thông vào các ngành sản xuất trực
tiếp, tuyển kỹ thuật vào các ngành kỹ thuật máy móc và tuyển nhân viên có trình độ đại học và
lao động gián tiếp quản lý hành chính văn phòng...
Trong số lao động có trình độ đại học thì tỷ lệ này chiếm rất ít trong tổng số lao động
của Công ty. Với cơ cấu này chứng tỏ đang rất cần tuyển chọn thêm lao động có trình độ đại
học vào công việc văn phòng và vào các phân xưởng sản xuất.
Tổng số và kết cấu lao động của Công ty.
Các chỉ tiêu
2001 2002 2003 So sánh
82.6
17.4
3053
717
81
19
1056
197
168.4
156.1
453
169
117.4
130.8
1 Đại học
Đ Trung cấp
T Kỹ thuật
K Lđ phổ thông
51
25
80
1739
2.7
1.3
4.2
91.8
61
26
97
2964
L Quản lý
Q Phục vụ
P Lđ trực tiếp
132
115
17
1763
7
6.1
0.9
93
166
161
5
2982
5.3
5.1
0.2
94.7
191
184
7
3579
5.1
4.9
0.2
94.9
34
46
-12
154
-320
942
68.8
144.4
Tlệ Đhọc/quản lý 44.3 37.9 36.9
1.3. Lao động phân theo tính chất công việc: Cả lao động trực tiếp và lao động gián
tiếp đều tăng trong năm 2003 cho việc cho việc hoạt động của xí nghiệp II và III. Trong lao
động gián tiếp thì lao động quản lý là tăng đều và đáng kể, còn lao động trực tiếp lại giảm đi rất
nhiều, nguyên nhân là do chính sách cắt giảm lao động và tuyển chọn lao động có trình độ văn
hoá 12/12 để tạo ra mặt bằng trình độ chung.
Do tính chất của các mặt hàng mà Công ty đang kinh doanh nên Công ty đã ký kết hợp
đồng ngắn hạn với một số lao động trực tiếp nên việc số lao động trong năm biến đổi liên tục
nên cơ cấu lao động cũng khó xác định chính xác và việc tuyển vào và nghỉ việc cũng biến
động liên tục làm cho tỷ trọng lao động trực tiếp và gián tiếp không có tỷ lệ nhất định.
1.4. Lao động phân theo thâm niên: Tỷ lệ lao động dưới 1 năm đang dần dần giảm
xuống rõ rệt. Điều này cho thấy tính chất ổn định của công việc đối với công nhân là rất tốt.
Trong đây do tính chất công việc không ổn đị nên Công ty chỉ ký hợp đồng ngắn hạn thường
tăng cao khi vào mùa vụ có đơn đặt hàng nhiều và giảm đi khi đã hết mùa vụ, nhưng những
năm lại đây gường như không còn tính chất mùa vụ nữa mà công việc trở nên liên tục và công
việc vì thế cũng không ngừng tăng lên dẫn đến số lao động trên 1 năm tăng lên làm cho công
nhân yên tâm hơn trong công việc của mình.
1.5. Chính sách tiền lương:
Tiền lương của lao động gián tiếp phân theo hệ số cấp bậc và mức độ hoàn thành công
việc. Tiền lương của lao động trực tiếp trả theo sản phẩm và theo lương cơ bản, khoản tiền
lương này không cố định mà phụ thuộc vào sự biến động của doanh thu. Quỹ lương được trích
từ doanh thu 20% quỹ lương trả cho các bộ phận quản lý, 80% quỹ lương trả cho bộ phận sản
xuất.
Bảng thống kê tiền lương CB-CNV (ĐVT: 1000 đồng)
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
2
418máy 240người
Nhà máy may Quảng Nam 3000m
2
762máy 800người
Xí nghiệp may Hội An 2800m
2
418máy 412người
Nhà máy sợi Hoà Thọ 4612m
2
31000cọc 447người
Hiện nay Công ty gồm có 7 nhà máy, xí nghiệp thành viên trong và ngoài khuôn viên
của Công ty với diện tích là 115.283m
2
, trong đó diện tích chưa sử dụng là 46.056m
2
. Có 1.553
máy móc thiết bị các loại và hơn 31.000 cọc sợi được phân bổ ở các nhà máy, xí nghiệp thành
viên của Công ty. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc quản lý không ngừng được hoàn thiện.
Nhìn chung mặt bằng của Công ty đang dần hoàn thiện và mở rộng nhằm khai thác hết
diện tích còn chưa sử dụng của mình để phân khu cho từng bộ phận, ngành nghề và tạo được
tính liên tục của dây chuyền sản xuất đối với các mặt hàng có nhiều công đoạn
Xí nghiệp may I Hoà Thọ: được thành lập năm 1997 gồm 8 chuyền (45 công nhân /1
chuyền, 2 chuyền với mỗi chuyền có 35 công nhân/1 chuyền) được trang thiết bị máy móc
chuyên dùng hiện đại nhập khẩu từ Nhật và Mỹ.
Xí nghiệp may II Hoà Thọ: thành lập năm 1999 gồm 8 chuyền (45 công nhân/1 chuyền)
được trang thiết bị chuyên dùng hiện đại được nhập khẩu từ Nhật, Tiệp Khắc và Mỹ.
Xí nghiệp may III Hoà Thọ: thành lập vào năm 2002 gồm 8 chuyền được trang thiết bị
máy móc thiết bị của Nhật và Trung Quốc.
Nhà máy may Quảng Nam: nằm ngoài khuôn viên Công ty gồm 8 chuyền (45 công
kế
Công suất hoạt
động %
Thiết bị
dệt
Máy dệt thoi
Máy dệt thoi
Máy dệt thoi
SOLRS48
SOD
GAG15-108
Sakamoto
Sakamoto
Sakamoto
1959
1959
1998
40
154
12
27.7m/ca/máy
27.7m/ca/máy
27.7m/ca/máy
83.4
83.4
93.5
Thiết bị
sợi
Máy sợi con
Máy sợi con
và đã qua lạc hậu. Tuy nhiên các loại máy móc này cũng đã chế tạo vào thập kỹ 50,60 và có
loại hiện đại nhất cũng chế tạo vào năm 1998,1999. Tuy nói hiện đại nhưng cũng đã qua sử
dụng được nhiều năm, do vấn đề tài chính nên Công ty không thể trang bị cho mình các loại
máy chuyên dùng mới hoàn toàn 100% được, nhưng các loại máy này vẫn hoạt động hết công
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
suất và tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt. Vì vậy công ty đã sử dụng để phù hợp với tài chính
của Công ty mình.
3. Tình Hình Hoạt Động Sản Xuất.
3.1. Tình Hình Sản Xuất.
a. Sàn lượng sản xuất của công ty:
Nhận xét: sản lượng trong những năm gần đây tăng lên không ngừng đạt 130% trong
năm 2003 đối với ngành sợi và đạt 123,2% đối với ngành may. Nguyên nhân của sản lượng
tăng lên là do Công ty đã giải thể một số xí nghiệp dệt hoạt động không hiệu quả và đã đầu tư
vào một số dây chuyền may với công nghệ hiện đại của Tây Âu với công suất hoạt động cao
làm sản lượng sản xuất tăng vọt. Bên cạnh đó Công ty còn cho công nhân làm việc 3ca/1ngày
và những ngày mùa vụ cao thì tct tổ chức tăng ca sản xuất làm cho kế hoạch sản xuất năm sau
luôn cao hơn năm trước.
Đối với ngành sợi do nhu cầu tăng cao nên công ty tổ chức làm việc 3 ac 4 kíp, do đó
tăng mỗi tháng 10 ca sản xuất làm cho sản lượng sựi tăng cao và ổn định. Với việc thay thế
công nghệ mới bước đầu đã cho kết quả hết sức khả quan.
Bảng số liệu tình hình sản xuất
Sản phẩm
2001 2002 2003 2002/2001 2003/2002
Số
lượng
Tỷ tr
(%)
Số
lượng
Tỷ tr
Bảng giá trị sản xuất (ĐVT: triệu đồng)
Sản phẩm 2001 2002 2003
2002/2001 2003/2002
Stuyệt đối Stđ (%) Stuyệt đối Stđ(%)
Tổng GTSXCN
94956 114008 198971 19052 247.7 84963 367.5
Sợi
63120 70921 103499 7801 112.4 32578 145.9
-Cotton
22091 35132 46598 13041 159.0 11466 132.6
-Peco
4934 6356 6227 1422 128.8 -129 98.0
-PE
36094 29433 50678 -6661 81.5 21245 172.2
May
31836 43087 95472 11251 135.3 52385 221.6
-Jacket
4139 13079 13360 8940 316.0 281 102.1
-Quần âu
3501 0 41053 -3501 41053
-Khác
24196 30008 41059 5812 124.0 11051 136.8
Nhận xét: trong năm 2003 giá trị sản xuất may các loại chiếm tỷ trọng cao trong tổng
giiias trị sản xuất công nghiệp và kéo theo đó giá trị sản xuất của ngành may cũng tăng cao góp
phần tạo nên giá trị sản xuất công nghiệp chung tăng cao.
Nguyên nhân của việc giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao như vậy là do Công ty đã
dần dần chuyển từ gia công theo đơn đặt hàng sang mua đứt bán đoạn làm cho Công ty tự chủ
trong sản xuất và tiêu thụ, không phải phụ thuộc vào chỉ số mùa vụ và trông chờ vào các đơn
đặt hàng của khách hàng. Công ty đã định hướng cho mình theo con đường tự sản xuất và tiêu
thụ, và cũng do nhu cầu tăng cao thêm vào đó là chất lượng sản phẩm và của Công ty được
Số
lượn
g
Tỷ tr
(%)
Stuyệ
t đối
Stđ
%
Stuyệ
t đối
Stđ
%
Sợi (tấn)
2398 100 3218 100 3931 100 820 34.2 713 22.2
-Cotton
820 75.1 1540 51.4 1931 45.1 720 87.8 391 25.4
-Peco
216 17.4 271 8.7 254 5.2 55 25.5 -17 -6.3
-PE
1362 7.5 1407 39.9 1745 49.6 45 3.3 338 24.0
May(1000cái)
1222 100 3440 100 4386 100 2218 181.5 946 27.5
-Jacket
88 12 391 15 468 16 303 344.3 77 19.7
-Quần âu
54 10 0 0 1620 40 -54 -100 1620
-Sơ mi
0 0 0 0 189 3 0 189
-Khác
-Sơ mi 0 0 3275
0 3275
-Khác 40391 45151 44757
4760 11.8 -394 -0.9
3.3. Tình Hình Tồn Kho.
a. Tồn kho nguyên vật liệu: Do đặt điểm những sản phẩm của Công ty mang tính thời
vụ cao nên Công ty thường dự trữ lượng tồn kho nguyên vật liệu rất lớn, từ việc hoạch định nhu
cầu của khách hàng , các đơn đặt hàng, quá trình sản xuất trong Công ty và nhu cầu dự kiến,
tổng hợp số liệu từ các năm trước. Công ty đã xác định mức nguyên vật liệu cho sản phẩm, từ
đó xác dịnh mức tồn kho nguyên vật liệu. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào nguồn vốn mà
Công ty có được và diện tích kho bãi để dự trữ nguyên vật liệu, và do vấn đề về tài chính không
cho phép Công ty đặt hàng nhiều lần để giảm chi phí cho một lần đặt hàng. Nên Công ty
thường đặt hàng nguyên vật liệu từ 100 tấn đến 300tấn/1lần và có lúc vượt quá 300tấn khi nó
đến mùa vụ tiêu thụ cao.
b. Tồn kho sản phẩm:
Bảng số liệu tình hình tồn kho (ĐVT: triệu đồng)
Sản phẩm 2001 2002 2003
2002/2001 2003/2002
Stuyệt đối Stđ (%) Stuyệt đối Stđ(%)
Tổng tồn kho
19.783 26.450 35.223 6.667 133.7 8.773 133.2
Sợi các loại
16.723 21.463 28.199 4.74 128.3 6.736 131.4
May các loại
3.060 4.986 7.023 1.926 162.9 2.037 140.9
Nhận xét: với bảng phân tích trên ta thấy giá trị sản phẩm tồn kho qua các năm tăng lên
không ngừng, tuy rằng sản lượng tiêu thụ trên thị trường có tăng cao nhưng vẫn không thể làm
giảm khối lượng hàng tồn kho, trong đó có thành phẩm và bán thành phẩm. Tổng sản phẩm tồn
kho tăng cao, nhưng tốc độ tăng vẫn ổn định cho hai loại sản phẩm sợi và may, nguyên nhân là
do cách quản lý không tốt hàng tồn kho, một số sản phẩm trước đây sản xuất do không có chất
Phần tài sản
A/ TSLĐ và ĐTNH 42.390 31.8 67.196 37.8 64.195 35 24.806 158.5 -3.001 95.5
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.
I. Tiền mặt
II. Đầu tư TCNHạn
III. Các k phải thu.
IV. Tồn kho
V. Tài sản LĐ khác
740
0
21.145
19.784
722
0.6
15.9
14.8
0.5
2.532
0
35.685
26.450
2.629
1.4
20.1
14.8
1.5
1.672
0
26.752
35.223
47.7
0.9
19.6
0
108.870
0
92
3.257
61.1
0
0.05
1.05
112.986
200
54
3.714
62.4
0.5
0.03
2.07
45.353
-1.194
-26.048
3.257
171.4
0.35
4.116
200
-38
457
132.1
156.9
200.8
-1.570
2.254
-414
97.4
102
17.5
B/Nguồn vốn CSH 16.582 12.4 6.219 3.5 8.823 4.9 -10.363 37.5 2.604 141.9
I. Nguồn vốn-quỹ
II. Nguồn kphí.
16.582
0
12.4 6.213
6
3.49
0.01
8.816
7
4.89
0.01
-10.369
6
37.5 2.603
1
141.9
116.6
Tổng nguồn vốn 133.241 100 178.214 100 181.149 100 44.973 133.8 2.935 101.6
Trong kết cấu tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn thì tỷ trọng của các khoản phải thu
vay nợ để thanh toán cho nhà cung cấp nguyên vật liệu với chi phí cao và trang trải các chi phí
bên trong lẫn bên ngoài và nhưng chi phí có liên quan.
4.2. Phân tích các thông số tài chính.
a. Các thông số thanh toán:
Bảng phân tích thông số khả năng thanh toán
Thông số Đvt Công thức tính 2001 2002 2003
Khả năng TT hiện thời lần Tổng TS có LĐ/tổng Nợ LĐ 1.91 1.11 1.05
Khả năng TT nhanh lần (Tổng tslđ-giá trị tồn kho)/ tổng nợ lđ 0.83 0.89 1.12
Đây là các thông số hoán chuyển tiền mặt, vì nó bao hàm khả năng chuyển đổi các tài
sản thành tiền trong khoản thời gian ngắn nhất. Với một chỉ số như vậy Công ty có 1,05 đồng
tài sản lưu động để sẵn sàng đối phó với một đồng nợ ngắn hạn, việc duy trì tỷ lệ này thì Công
ty đang có lợi thế vừa đảm bảo khả năng thanh toán vừa đưa một phần tiền mặt vào lưu thông
tạo ra thêm lợi nhuận. Đây là sự thành công trong quản trị tiền mặt, nó bắt nguồn từ lợi nhuận
của năm tăng lên.
Khả năng thanh toán nhanh là 1,12 là mức trung bình chung của ngành công nghiệp,
như vậy là Công ty đã giữ ở xát mức ngành, nguyên nhân là do hàng tồn kho có tăng nhưng tốc
độ tăng lại thấp dần và các khoản phải thu được cải thiện hơn biểu hiện ở tốc độ quay vòng các
khoản phải thu. Tuy nhiên, nếu có một tỷ trọng lớn các khoản thu bị quá hạn ta có thể quá
cường điệu khả năng thanh toán của Công ty khi chỉ nhìn vào các thông số thanh toán kể trên.
b. Các chỉ số đòn bẩy:
Bảng phân tích chỉ số đòn bẩy
Thông số Đvt Công thức tính 2001 2002 2003
Nợ trên tổng tài sản % Tổng nợ phải trả/tổng tài sản 87.5 96.5 95.1
Thông số đòn bẩy Nợ dài hạn/(nợ dài hạn + vốn CSH) 0.81 0.95 0.93
Khi doanh số thay đổi do những điền kiện kinh doanh khác nhau thì khoản thu lớn nhất
của Công ty bị ảnh hưởng. Các chi phí ít nhiều cũng bị ảnh hưởng theo, dù trong nợ trên tổng
tài sản là 0,38 điều này cho thấy khoản nợ của Công ty phải đối mặt không thật quá lớn và nó
có thể nằm trong tầm kiểm soát được của Công ty. Với thông số đòn bẩy đã khuyếch đại rõ cho
ta thấy sự dao động của sản lượng đến lợi nhuận trước thuế và lãi là 0,068 lần vào năm 2003.
c. Các chỉ số hoạt động:
Lợi nhuận ròng biên % Lợi nhuận ròng / doanh thu thuần 0.03 0.12
Thu nhập/tài sản % Lợi nhuận ròng / tổng tài sản 0.02 0.15
Thu nhập/vốn CSH % Lợi nhuận ròng / vốn chủ sở hữu 0.71 3
Thông số nợ trên tài sản ròng hơi giảm, chứng tỏ có sự tiến bộ trong điền kiện chung
theo quan điểm của các nhà phân tích tín dụng. Lợi nhuận ròng biên và lợi nhuận gộp biên dao
động theo thời gian, tuy nhiên đến năm2003 2 thông số này diễn tả những tiến bộ đáng kể.
Không có sự chệnh lệch đáng kể nào giữa hai thông số để có thể kết luận sự kém hiệu quả trong
quản trị sản xuất.
Thu nhập trên tài sản dao động đã làm nhiều nhận xét về khả năng tăng thu nhập trên tài
sản, tuy nhiên từ năm 2002 đến 2003 đã tăng lên khi lợi nhuận ròng biên đã có sự tiến bộ. Để
đạt được khả năng sinh lợi lớn theo nghĩa tuyệt đối Công ty đã phải gia tăng tài sản, chính điều
này đã làm giảm thu nhập trên tổng tài sản.
5. Phân Tích Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh:
Nhận xét: Qua bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty dưới đây ta
thấy rằng, Công ty đang ngày càng hoạt động có hiệu quả. Doanh thu thuần tăng lên đồng thời
doanh thu hàng xuất khẩu cũng tăng lên đáng kể do Công ty mở rộng thị trường may mặc ra
nước ngoài.
Doanh thu thuần tăng lên và chiếm tỷ lệ cao 68,9%, điều này có nghĩa là Công ty đã dần
đi vào hoạt động có hiệu quả. Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay Công ty sẽ dần chiếm được
lòng tin ở thị trường mới ở trong nước và nước ngoài và sẽ dần chiếm lại những thị trường đã
mất.
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp từ lợi nhuận âm (< 0) trong năm 2001, nhưng đến
năm 2003 thì lợi nhuận sau thuế đã tăng 267.456.000 đồng và chiếm tỉ trọng 503% so với năm
2002, đây là kết quả tất yếu của quá trình cơ cấu lại ngành nghề sản xuất.
Bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
(ĐVT: triệu đồng)
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
2002/2001 2003/2002
Stuyệt đối Stđ (%) Stuyệt đối Stđ (%)
SVTH : Huỳnh Thi – Lớp 20QT.