Nghiên cứu tác động của đặc điểm ban kiểm soát đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam - Pdf 59


Nghiên cứu tác động...

1. GIỚI THIỆU
Vai trò của báo cáo tài chính là cung cấp
những thông tin tài chính cho các đối tượng sử
dụng ngoài doanh nghiệp ngoài như các nhà
đầu tư, ngân hàng, cơ quan ban hành chính sách
và luật pháp, … một cách kịp thời và hợp lý.
Cung cấp một báo cáo tài chính có chất lượng sẽ
làm gia tăng hiệu quả đầu tư (Biddle và Hilary,
2006). Tuy nhiên, việc trình bày và công bố
thông tin để đáp ứng được nhu cầu mong đợi
của người sử dụng vẫn còn có khoảng cách khá
lớn (Nguyễn Trọng Nguyên, 2016).
Trên thực tế đã có nhiều sự kiện liên quan
đến việc cung cấp báo cáo tài chính (BCTC) kém
chất lượng, và đã gây hậu quả nghiệm trọng đến
nền kinh tế trong nước và thế giới. Điển hình
là sự kiện Enron đã gây thiệt hại ít nhất 5 tỷ
USD cho các công ty tín dụng, bảo hiểm, năng
lượng và ngân hàng trên thế giới, các công ty tài
chính ở Nhật cũng thiệt hại khoảng 8 tỷ USD
khi hợp tác cùng Enron. Tại Việt Nam có sự kiện
của công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết, báo cáo
kiểm toán năm 2007 thông báo lãi 2,25 tỷ đồng,
sau đó thực hiện kiểm toán lại kết quả là lỗ 6,8
tỷ đồng, cả hai lần kiểm toán đều do công ty
Kiểm toán và dịch vụ Tin học AISC thực hiện
(Hồng Sương, 2008). Ngoài ra còn các sự kiện
liên quan đến thông tin BCTC kém chất lượng

tác động của đặc điểm ban kiểm soát đến chất
lượng thông tin báo cáo tài chính.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT
NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết
Quản trị lợi nhuận
Theo Ronnen & Yaari (2008) QTLN: “Là
tập hợp các quyết định quản lý mà kết quả sẽ
dẫn đến không phản ánh đúng lợi nhuận thực
trong ngắn hạn, có tính chất tối đa hóa giá trị
doanh nghiệp mà nhà quản lý đã biết về chúng.
Hành vi QTLN có thể là mang lại lợi ích (cung
cấp tín hiệu về giá trị trong dài hạn), nguy hại
(che giấu giá trị ngắn hạn hoặc dài hạn) hoặc
trung tính (che giấu giá trị ngắn hạn hoặc dài
hạn)”. Theo định nghĩa này, QTLN kế toán được
phân loại thành hai nhóm gồm: QTLN kế toán
thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến
dồn tích) và QTLN kế toán thông qua các hoạt
động kinh tế (thông qua các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh). Tuy nhiên, nghiên cứu này tác giả đo
lường chất lượng thông tin BCTC thông quan
biến dồn tích kế toán.
Lý thuyết ủy nhiệm
Sự phát triển của các công ty hiện đại và
sự phân tách giữa chủ sở hữu doanh nghiệp và
quản lý từ đó xuất hiện vấn đề ủy nhiệm. Lý
thuyết ủy nhiệm ra đời giải thích mối quan hệ
giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm, trong
13

và cộng sự (2003) cho rằng sự đa dạng trong
HĐQT thể hiện ở giới tính, độ tuổi dân tộc,
kinh nghiệm, ngành nghề, trình độ chuyên
môn, trình độ học vấn.
2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giới tính thành viên Ban kiểm soát

Lợi ích kinh tế và sự nghiệp thành công là
mối quan tâm của nam giới, nhiều khi họ có thể
phá vỡ nguyên tắc để đạt được mục đích của
mình. Còn nữ giới thì ngược lại, họ có xu hướng
hòa đồng và ít thực hiện các hành vi phi đạo
đức trong kinh doanh (Butz & Lewis, 1996;
Mason & Mudrack, 1996). Hơn nữa theo một
nghiên cứu về Ban giám đốc của Adams & Ferreira (2009) chỉ ra rằng các giám đốc nữ thường
chăm chỉ, có tần suất tham dự cuộc họp cao. Từ
quan điểm về tính cách đó so với nam giới, phụ
nữ thường suy nghĩ cẩn thận hơn, phù hợp với
ngành nghề quản lý kế toán và giám sát kế toán

(Guanggui Ran và các cộng sự ,2015). Vì vậy,
tác giả mong đợi rằng tỷ lệ giám sát nữ càng cao
trong BKS thì chất lượng thông tin kế toán càng
đáng tin cậy.

- H1: Tỷ lệ kiểm soát viên nữ (KSV) trên
tổng số kiểm soát viên càng cao thì chất lượng
báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
càng cao.

quản lý (Guanggui Ran và các cộng sự, 2015).
Tuy nhiên, theo Vafeas (1999) lập luận rằng
tần suất cuộc họp là một sự ủy nhiệm hiệu
quả hình thành mức độ chuyên cần của các bộ
phận trong công ty. Theo đó tần số làm việc
của Ban kiểm soát có thể giải thích cho mức
độ nỗ lực giám sát và cường độ giám sát. Vì
vậy, tác giả mong đợi tần suất cuộc họp của
BKS có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
thông tin kế toán của công ty.
14


Nghiên cứu tác động...


- H5: Trình độ học vấn của các KSV càng
cao thì chất lượng BCTC của các công ty niêm
yết trên sàn chứng khoán càng cao.

Độ tuổi trung bình của BKS
Người nhiều tuổi sẽ thận trọng hơn, đạo đức
hơn nên khả năng họ bất chấp thủ đoạn để làm
sai lệch để đạt được mục đích là ít xẩy ra (Sundaram & Yermack, 2007). Cũng xu hướng đó,
Guanggui Ran và các cộng sự (2015) cho rằng
những giám sát viên nhiều tuổi hơn có thể giúp
cải thiện chất lượng thông tin kế toán. Vì vậy tác
giả mong đợi độ tuổi trung bình của BKS càng
cao thì càng ảnh hưởng tích cực tới chất lượng
thông tin báo cáo tài chính, do đó luận văn dự

thông tin báo cáo tài chính, mô hình hồi quy
gồm có 6 biến độc lập Giới tính thành viên Ban
kiểm soát, trình độ chuyên môn về kế toán tài


- H3: BKS có tần suất cuộc họp càng cao
thì chất lượng BCTC của các công ty niêm yết
càng cao.

Tỷ lệ cổ phiếu sở hữu bởi KSV
Theo lý thuyết ủy nhiệm cho rằng có sự
phân quyền giữa sở hữu công ty và người quản
lý. Theo Jensen & Meckling (1976) cho rằng,
việc cung cấp cho các nhà quản lý một số mức
độ sở hữu là chi phí đại diện thấp. Bên cạnh đó
Conger, Finegold và Lawler (1998) chỉ ra rằng
cơ chế khuyến khích phải được thiết lập để làm
cho lợi ích của nhà quản lý và cổ đông nhất
quán. Theo kết quả nghiên cứu của Guanggui
Ran và các cộng sự (2015), có mối quan hệ tích
cực giữa các khoản thưởng cho các giám sát viên
và chất lượng thông tin BCTC của công ty. Tuy
nhiên, dù là cổ phiếu được các cổ đông thưởng
hay cổ phần của KSV đó góp vốn ban đầu, điều
đó cũng làm hại đến tính khách quan của thông
tin tài chính. Bởi những lợi ích làm cho các KSV
có thể bất chấp quy tắc để đạt được mục tiêu cá
nhân. Vì vậy, tác giả dự kiến giả thuyết như sau:

- H4: Tỷ lệ tổng cổ phiếu sở hữu bởi KSV

Giá trị trung bình
Std.Dev.
Min
Max
2013
0.1575702
0.1627957
0.0000428
0.677761
2014
0.1637262
0.1547285
0.0004821
0.788131
2015
0.1849852
0.1827935
0.0003635
0.8616081
2016
0.1607853
0.1610104
0.0026161
0.730263
2017
0.2190259
0.2957045
0.0012705
1.752343
5 năm

cộng tuyến (Vif < 10).

Bảng 2. Ma trận tương quan
FRQ

AGEit

FRQ

1

AGEit

-0.2072

1

EDUit
SHARE

-0.171

0.0359

HOLDit
MEETINGit
ACCit
GENDERit

-0.0091

-0.2347

0.247

0.1989

0.0744

1

-0.1524
0.0937

-0.0081
-0.1446

0.1479
-0.0462

-0.027
-0.0684

0.0548
-0.1546

1.13
1
0.0498

1.03

tượng này, tác giả sử dụng tùy chọn Robust để
hiệu chỉnh, kết quả chạy mô hình với tùy chọn
Robust được thể hiện ở bảng 3 như sau:

Bảng 3. Bảng kết quả hồi quy mô hình Fixed effects với tùy chọn Robust
Robust
Std. Err.

FQR

Coef.

AGEit

-0.0011957

0.0049964

-0.24

0.812

EDUit

-0.1918901

0.0711129

-2.70


GENDERit

-0.1752603

0.0915581

-1.91

0.061

0.9938514

0.4518539

2.20

0.032

SHAREHOLDit

_cons

t

P>|t|

Hệ số R2:24,04%; n =290 quan sát; F(6,57)=7.67; Prob>F=0.000
Nguồn: Kết quả phân tích từ phần mềm Stata 12.0

Từ kết quả kiểm định trong Bảng 3 cho


Biến MEETINGit : Với coef = -0.0645224
và P value = 0.002, cho thấy tần suất cuộc họp
của BKS tác động tích cực đến chất lượng thông
tin BCTC. Kết quả nghiên cứu này trùng với kết
quả nghiên cứu của Chtourou và cộng sự (2001),
với các công ty có tần suất cuộc họp của BKS
trên 2 lần/năm thì hạn chế hành chi QTLN; kết
quả nghiên cứu Nguyễn Trọng Nguyên (2016)
về tần suất cuộc họp của HĐQT cũng chỉ ra rằng
số lượng cuộc họp của HĐQT có ảnh hưởng
cùng chiều đến chất lượng thông tin BCTC. Với
kết quả nghiên cứu của Guanggui Ran và các
cộng sự (2015), cho thấy chất lượng thông tin
BCTC được đo lường bằng phương pháp ERC
thì tần suất cuộc họp có ảnh hường thuận chiều
với chất lượng thông tin BCTC của công ty.
Biến ACCit: Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ kiểm
soát viên có nền tảng tài chính kế toán càng cao
18


Nghiên cứu tác động...

cơ chế giám sát QTCT, cụ thể trong nghiên cứu
này là BKS để giảm xung đột lợi ích, giảm tình
trạng thông tin bất cân xứng giữa QTCT và cổ
đông. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đóng góp
bằng chứng cho thấy lý thuyết nguồn lực là cơ
sở giải thích yêu cầu các thành viên BKS phải

thực nghiệm tại các CTNY, cho thấy lý thuyết
đại diện là cơ sở giải thích cho việc thiết lập

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Adams, Renée B.; Ferreira, D., 2009. Center for Economic Institutions Working Paper Series
[2]. Bathula , H. 2008. Board Characteristics and Firm Performance: Evidence from New Zealand,
PhD unpublished thesis, Auckland University of Technology
[3]. Biddle, GC and Hilary, G, 2006. Accounting Quality and Firm-level Capital Investment
Department of Accounting Hong Kong University of Science and Technology Clear Water Bay,
Kowloon. Accounting Review, 81(5), pp.963–982
[4]. Butz, C.E. and Lewis, P. V, 1996. Correlation of Gender-Related Values of Independence and
Relationship and Leadership Orientation. pp.1141–1149
[5]. Dechow, P., Sloan, R., and Sweeney, A. 1995. Detecting Earnings Management. The Accounting
Review, 70(2), 193–225.
[6]. Dunphy, D., Turner, D. and Crawford, M., 2005. competencies Organizational learning as the
competencies. 16(4), pp.232–244.
[7]. Erhardt, N. L., Werbel, J. D., & Shrader, C. B. 2003. Board of director diversity and firm financial
performance. Corporate Governance: An International Review,11(2), 102–111.
[8]. Hồng Sương, 2008. Từ chuyện bông Bạch Tuyết: Báo cáo tài chính bẩy nhà đầu tư. Tuổi trẻ
Onlinev truy cập ngày 30/0/18
[9]. Jensen, Michael C, and William H Meckling. 1976. Theory of the Firm : Managerial Behavior,
Agency Costs and Ownership Structure. Journal of Financial Economics, 3 (4): 305–60.
[10]. Joachim, W. (1991). The liability of supervisory board directors in Germany. International
Lawyer, 25, 41–67.
[11]. Jones, J. J. 1991. Earnings Management During Import Relief Investigations. Journal of
Accounting Research, 29(2): 193.
19


Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status