Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Tổng hợp vật liệu hấp phụ có từ tính và khảo sát khả năng tách loại phẩm màu azo trong môi trường nước - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

Vũ Mai Phương

TỔNG HỢP VẬT LIỆU HẤP PHỤ CÓ TỪ TÍNH VÀ KHẢO 
SÁT KHẢ NĂNG TÁCH LOẠI PHẨM MÀU AZO TRONG MÔI 
TRƯỜNG NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Hà Nội ­ 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

Vũ Mai Phương

TỔNG HỢP VẬT LIỆU HẤP PHỤ CÓ TỪ TÍNH VÀ KHẢO 
SÁT KHẢ NĂNG TÁCH LOẠI PHẨM MÀU AZO TRONG MÔI 
TRƯỜNG NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Hóa Môi Trường
Mã số:  60440120

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ


MỞ ĐẦU
Hiện nay,  sự  phát  triển  ngày càng lớn  mạnh  của đất  nước  về  kinh tế và xã 
hội, đặc biệt là sự  phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp đã ảnh hưởng 
rất lớn đến môi trường sống của con người. Bên cạnh sự  lớn mạnh của nền kinh 
tế đất nước lại là sự  gia tăng ô nhiễm  môi  trường.  Một  trong  những  ngành công 
nghiệp  gây  ô  nhiễm  môi  trường  lớn  là  ngành  dệt  nhuộm.  Bên  cạnh  các công  ty, 
nhà  máy  còn  có  hàng  ngàn  cơ  sở  nhỏ  lẻ  từ  các  làng  nghề  truyền thống. Với 
quy mô sản xuất nhỏ, lẻ  nên lượng nước thải sau sản xuất hầu như  không được 
xử  lý,  mà  được  thải  trực  tiếp  ra  hệ  thống  cống  rãnh  và  đổ  thẳng  xuống  hồ  ao, 
sông,  ngòi  gây  ô  nhiễm  nghiêm  trọng  tầng  nước  mặt,  mạch  nước  ngầm  và ảnh 
hưởng lớn đến sức khỏe con người.
Với  dây  chuyền  công  nghệ  phức  tạp,  bao  gồm  nhiều  công  đoạn  sản  xuất 
khác nhau nên nước thải sau sản xuất dệt nhuộm chứa nhiều loại hợp chất hữu cơ 
độc  hại,  đặc  biệt  là  các  công  đoạn  tẩy  trắng  và  nhuộm  màu.  Việc  tẩy, nhuộm 
vải  bằng  các  loại  thuốc  nhuộm  khác  nhau  như  thuốc  nhuộm  hoạt  tính,  thuốc 
nhuộm  trực  tiếp,  thuốc  nhuộm  hoàn  nguyên,  thuốc  nhuộm  phân  tán…  khiến  cho 
lượng nước thải chứa nhiều chất ô nhiễm khác nhau (chất tạo màu, chất làm bền 
màu...)  [7,8]. Bên  cạnh  những  lợi ích của  chất tạo  màu  họ azo trong công nghiệp 
nhuộm, thì tác hại của nó không nhỏ khi mà các chất này được thải ra môi trường. 
Gần  đây,  các  nhà nghiên cứu  đã  phát  hiện  ra  tính  độc  hại  và  nguy  hiểm của  hợp 
chất  họ  azo  đối  với  môi  trường  sinh  thái  và  con  người,  đặc  biệt  là  loại  thuốc 
nhuộm này có thể gây ung thư cho người sử dụng sản phẩm [19,30].
Nghiên  cứu,  xử  lý  nước  thải  có  chứa  hợp  chất  azo  là  một  vấn  đề  rất  quan 
trọng nhằm loại bỏ hết các chất này trước khi xả ra môi trường, bảo vệ con người 
và môi trường sinh thái.
Với mục đích góp phần nghiên cứu kỹ thuật xử lý các phẩm màu hữu cơ bằng 

Giống   như   xenlulozo,   chitosan   là   chất   xơ,   không   giống   chất   xớ   thực   vật, 
chitosan có khả năng tạo màng, có các tính chất của cấu trúc quang học ... Chitosan  
có khả  năng tích điện dương do đó nó có khả  năng kết hợp với những chất tích  
điện âm như chất béo, lipid và acid mật.
Chitosan là polyme không độc, có khả năng phân huỷ sinh học và có tính tương  
thích về mặt sinh học. Trong nhiều năm qua, các polyme có nguồn gốc từ chitin đặc 
biệt là chitosan đã được chú ý đặc biệt như  là một loại vật liệu mới có ứng dụng  
8


đặ biệt trong công nghiệp dược, y học, xử lý nước thải và trong công nghiệp thực  
phẩm như là tác nhân kết hợp, gel hoá, hay tác nhân ổn định ... 
Trong các loài thuỷ sản đặc biệt là trong vỏ tôm, cua, ghẹ, hàm lượng chitin –  
chitosan chiếm khá cao dao động từ 14­35% so với trọng lượng khô. Vì vậy vỏ tôm,  
cua, ghẹ là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất chitin – chitosan.

Hình 1.1: Công thức cấu tạo chitin, chitosan và xenlulozo 
Như hình vẽ trên, thì sự khác biệt duy nhất giữa chitonsan và cellulose là nhóm 
amin (­NH2)  ở  vị  trí C2 của chitosan thay thế  nhóm hydroxyl (­OH)  ở  xenlulozo. 
Chitosan tích điện dương do đó nó có khả năng liên kết hoá học với những chất tích  
điện   âm   như   chất   béo,   lipit,   cholesterol,   protein   và   các   đại   phân   tử.   Chitin   và 
chitosan rất có lợi ích về mặt thương mại cũng như là một nguồn vật chất tự nhiên 
do tính chất đặc biệt của chúng như  tính tương thích về  mặt sinh học, khả  năng  
hấp thụ, khả năng tạo màng và giữ các ion kim loại.
Chitosan  và các dẫn xuất của nó có hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn, có khả 
năng tự phân hủy sinh học cao, không gây dị ứng. Không gây độc hại cho người và  
gia súc, có khả  năng tạo phức với một số kim loại chuyển tiếp như Co(II), Ni(II),  
Cu(II)... do vậy chúng được  ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: xử  lý  
nước thải và bảo vệ  môi trường, dược học và y học, nông nghiệp, công nghiệp,  
công nghệ sinh học....

chitosan­collagen làm giảm cholesterol trong máu, giảm sự hấp thụ lipit.
Trong công nghiệp thực phẩm, chitosan làm phụ gia thực phẩm duy trì hương 
vị tự nhiên, ổn định màu, nhũ tương, làm dày cấu trúc, màng bảo quản rau quả tươi, 
làm trong nước quả ép, giữu màu sắc và hương vị tự nhiên của sản phẩm.
10


Trong công nghiệp in, chitosan làm chất keo cảm quang. 
Trong công nghiệp nhuộm làm tăng độ màu vải nhuộm.
Trong nông nghiệp, oligochitosan làm thuốc tăng trưởng thực vật và kích thích  
gây tạo kháng sinh thực vật, thuốc diệt nấm bệnh cho thực vật, gia tăng hệ số nhân  
và sinh khối tươi cho cây nuôi cấy mô.
Trong khoa học kỹ thuật, chitosan làm dung dịch tăng độ khuyếch đại của kính 
hiển vi, xử  lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt: thu hồi ion kim loại, protein,  
phenol, thuốc trừ sâu, thuốc nhuộm...[3,16].
1.2. Oxit sắt từ
1.2.1. Khái quát về oxit sắt từ
Oxit sắt từ  có công thức hóa học Fe 3O4  là vật liệu từ  tính đầu tiên mà con 
người biết đến. Từ thế kỷ IV người Trung quốc đã biết rằng Fe3O4 tìm thấy trong 
các khoáng vật tự  nhiên có khả  năng định hướng theo phương Bắc ­ Nam địa lý.  
Đến thế kỷ XII, họ đã sử  dụng vật liệu Fe3O4 là  la bàn, một công cụ giúp xác định 
phương hướng rất có ích. Trong tự  nhiên, oxit sắt từ  không những được tìm thấy  
trong khoáng vật mà nó còn được tìm thấy trong cơ thể các sinh vật như ong, kiến,  
bồ  câu…Chính sự  có mặt của Fe3O4  trong cơ  thể  những sinh vật đã tạo nên khả 
năng xác định phương hướng mang tính bẩm sinh của chúng.
Trong phân loại vật liệu từ  Fe3O4 được xếp vào nhóm vật liệu ferit có công 
thức tổng quát MO. Fe3O4 có cấu trúc spinel (M là kim loại hóa trị  II như : Fe, Ni, 
Co, Mn, Mg hoặc Cu).
Trong loại vật liệu ferit các ion oxy có bán kính khoảng 1.32 Å lớn hơn rất  
nhiều bán kính ion kim loại ( 0,6 ÷ 0,8 Å) nên chúng có khả năng nằm rất sát nhau  

Hình 1.3: Sự phân bố các momen từ spin của các ion Fe2+ và Fe3+ trong một ô  
cơ sở của Fe3O4
Mỗi phân tử Fe3O4 có momen từ tổng cộng là 4µβ (µβ là magneton bohr nguyên 
tử, µβ = 9,274.10­24 J/T trong hệ SI).
1.2.2. Tính chất của oxit sắt từ
Một vài oxit sắt có chung cấu trúc tinh thể  với các tương đồng khoáng chất  
khác nhau.  VD: goc­thie có cấu trúc giống với diaspore (α­ALOOH), quặng sắt từ 
giống với spinel (MgAl2O3). Các cấu trúc của oxit sắt được xác định bởi sự sắp xếp 
của các ion oxy hay hydroxide. Các ion dương chiếm các vị trí so le đối với lớp các 
ion âm.
Bất cứ  vật liệu nào đều có sự   ảnh hưởng với từ  trường ngoài (H), thể  hiện  
bằng độ từ hóa (từ độ ­ M). Tỷ số C = M/N được gọi là độ cảm từ. Tùy thuộc vào  
giá trị, độ cảm từ có thể phân ra làm các loại vật liệu từ khác nhau. Vật liệu có C  0 (~10­6) được gọi là vật 
liệu thuận từ. Vật liệu có C > 0 với giá trị rất lớn có thể là vật liệu sắt từ, ferit từ.
Ngoài độ  cảm từ, một số  thông số  khác cũng rất quan trọng trong việc xác  
định tính chất của vật liệu. VD: từ độ bão hòa M s (từ độ đạt cực đại tại từ trường  
lớn), cảm ứng từ dư Br (từ độ còn dư sau khi từ hóa đến độ bão hòa và đưa mẫu ra 
khỏi từ trường), lực kháng từ Hc (từ trường ngoài cần thiết để một hệ, sau khi đạt 
trạng thái bão hòa từ, bị khử từ).
Nếu kích thước của hạt giảm đến một giá trị  nào đó (thông thường từ  vài  
chục nanomet), phụ thuộc vào từng vật liệu cụ thể, tính sắt từ và ferit từ biến mất, 
chuyển động nhiệt sẽ  thắng thế  và làm cho vật liệu trở  thành vật liệu siêu thuận 
từ. Đối với vật liệu siêu thuận từ, từ dư và lực kháng từ không còn tính từ nữa, đấy  
là một đặc điểm rất quan trọng khi dùng vật liệu này cho các ứng dụng. Trong tự 
nhiên, sắt (Fe) là vật liệu có từ độ  bão hòa lớn nhất tại nhiệt độ  phòng, sắt không 
độc đối với cơ thể người và tính ổn định khi làm việc trong môi trường không khí  
nên các vật liệu như  oxit sắt được nghiên cứu rất nhiều để  làm hạt nano từ  tính  
[24].


vật liệu như than hoạt tính, zeolit... Dung dịch nước thải được dẫn lên đầu cột, khi 
đi qua vật liệu hấp phụ  các chất ô nhiễm bị  giữ  lại, nước sạch được xử  lí đi ra  
ngoài. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là thời gian tái sinh vật liệu hấp  
phụ lâu, quá trình vận hành hay bị hiện tượng tắc cột phải nạp lại, tốn về thời gian  
14


và kinh phí. Đối với kĩ thuật hấp phụ  tầng động, nhiều trường hợp quá trình lắng  
kéo dài làm ảnh hưởng đến tốc độ xử lí nước thải. Để khắc phục nhược điểm này, 
nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu chế  tạo nhựa trao đổi ion có từ  tính và nghiên 
cứu ứng dụng trong xử lí nước thải [31,32]. Khi có tác dụng của từ trường các vật  
liệu hấp phụ sẽ tách ra khỏi hỗn hợp huyền phù nhanh hơn do vậy làm tăng tốc độ 
quá trình xử lí và tái sinh vật liệu. Tuy nhiên, việc sử ụng vật liệu polyme tổng hợp  
có thể tạo ra các monome khó phân hủy, gây ô nhiễm thứ  cấp cho môi trường. Do 
đó, xu hướng xử dụng các loại polyme có sẵn trong thiên nhiên được các nhà khoa 
học rất quan tâm, trong đó chitosan là vật liệu được chú ý nhiều nhất do có cấu trúc 
và tính chất hóa lý đặc biệt, hoạt tính cao và khả năng lựa chọn rất tốt đối với các  
hợp chất và kim loại nặng. Chính vì thế, chúng tôi đã nghiên cứu và chế tạo ra vật  
liệu chitosan cố định các hạt Fe3O4 để xử lí nước thải dệt nhuộm.
1.4. Đặc tính và một số phương pháp xử lý nước thải dệt nhuộm
1.4.1. Đặc tính và các nguồn phát sinh nước thải dệt nhuộm
Nguồn nước thải phát sinh trong công nghiệp dệt nhuộm từ  các công đoạn 
hồ sợi, giũ hồ, nấu, tẩy, nhuộm và hoàn tất. Trong đó lượng nước thải chủ yếu do  
quá trình giặt sau mỗi công đoạn. Nhu cầu sử dụng nước trong nhà máy dệt nhuộm 
rất lớn và thay đổi tùy theo mặt hàng khác nhau. Theo phân tích của các chuyên gia,  
lượng nước được sử  dụng trong các công đoạn sản xuất chiếm 72,3%, chủ  yếu là  
từ  các công đoạn nhuộm và hoàn tất sản phẩm. Người ta có thể  tính sơ  lược nhu  
cầu sử dụng nước cho 1 mét vải nằm trong phạm vi từ 12 ­65 lít và thải ra 10 ­40 lít 
nước [7,8]. 
Đặc tính của nước thải dệt nhuộm nói chung và nước thải dệt nhuộm làng 

BOD (mg/l)
90 – 120
132
120
106


Bảng Bảng 1.2. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt nhuộm 
TT
1
2
3
4

Thông số
Độ màu (pH=7)
Độ pH
BOD ( ở 200C)
COD

Đơn vị
Pt - Co
mg/l
mg/l

Giới hạn theo QCVN 13:2015/BTNMT
A
B
50
150

Đối với con người, thuốc nhuộm có thể  gây ra các bệnh về  da, đường hô 
hấp, đường tiêu hóa. Ngoài ra, một số  thuốc nhuộm hoặc chất chuyển hóa của  
16


chúng rất độc hại có thể gây ung thư (như thuốc nhuộm Benzidin, 4 ­ amino ­ azo ­  
benzen). Các nhà sản xuất Châu Âu đã cho ngừng sản xuất các loại thuốc nhuộm  
này nhưng trên thực tế chúng vẫn được tìm thấy trên thị  trường do giá thành rẻ  và 
hiệu quả nhuộm màu cao .
1.4.2. Các loại thuốc nhuộm thông thường
Thuốc nhuộm là các hợp chất mang màu dạng hữu  cơ hoặc dạng phức của 
các kim loại như Cu, Co, Ni, Cr…Tuy nhiên, hiện nay dạng phức kim loại không 
còn  sử  dụng  nhiều  do  nước  thải  sau  khi  nhuộm  chứa  hàm  lượng  lớn các  kim 
loại  nặng  gây  ô  nhiễm  môi  trường  nghiêm  trọng.  Thuốc  nhuộm  dạng hữu  cơ 
mang màu hiện rất phổ biến trên thị trường.
Tuỳ theo cấu tạo, tính chất và phạm vi sử dụng của chúng mà người ta chia 
thuốc  nhuộm  thành  các  nhóm  khác  nhau.  Ở  nước  ta  hiện  nay,  thuốc  nhuộm 
thương  phẩm  vẫn  chưa  được  sản  xuất,  tất  cả  các  loại  thuốc  nhuộm  đều  phải 
nhập của các hãng sản xuất thuốc nhuộm trên thế giới.
Có hai cách để phân loại thuốc nhuộm:
­  Phân  loại  thuốc  nhuộm  theo  cấu  trúc  hoá  học:  thuốc  nhuộm  trong cấu 
trúc hoá học có nhóm azo, nhóm antraquinon, nhóm nitro,…
­ Phân loại theo lớp kỹ thuật hay phạm vi sử dụng: ưu điểm của phân loại 
này  là  thuận  tiện  cho  việc  tra  cứu  và  sử  dụng,  người  ta  đã  xây  dựng  từ  điển 
thuốc nhuộm. Từ điển thuốc nhuộm được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó 
mỗi loại thuốc nhuộm có chung tính chất kỹ thuật được xếp trong cùng lớp như: 
nhóm thuốc trực tiếp, thuốc axit, thuốc hoạt tính… Trong mỗi lớp lại xếp theo thứ 
tự gam màu lần lượt từ vàng da cam, đỏ, tím, xanh lam, xanh lục, nâu và đen. Sau 
đây là một số nhóm thuốc nhuộm thường dùng ở Việt Nam [2]:
 Th

    ộm    h o
  ạ
   t   t í nh   
Thuốc nhuộm hoạt tính là những hợp chất màu  mà trong phân tử của chúng 
có  chứa  các  nhóm  nguyên  tử  có  thể  thực  hiện  liên  kết  hoá  trị  với  vật liệu nói 
chung  và  xơ  dệt  nói  riêng  trong  quá  trình  nhuộm.  Dạng  công  thức  hoá  học  tổng 
quát của thuốc nhuộm hoạt tính là: S—R—T—X. Trong đó: 
S: là các nhóm ­SO Na, ­COONa, ­SO CH .
3
2 3
R: phần mang màu của phân tử thuốc nhuộm, quyết định màu sắc, những gốc 
mang  màu  này  thường  là  monoazo  và  diazo,  gốc  thuốc  nhuộm axit antraquinon, 
hoàn nguyên đa vòng…
T: nhóm nguyên tử phản  ứng, làm nhiệm vụ liên kết giữa thuốc nhuộm với 
xơ và có ảnh hưởng quyết  định đến độ bền  của liên kết này, đóng vai trò quyết 
định tốc độ phản ứng nucleofin.
X:  nhóm  nguyên  tử  phản  ứng,  trong  quá  trình  nhuộm  nó  sẽ  tách khỏi phân 
tử thuốc nhuộm, tạo điều kiện để thuốc nhuộm thực hiện phản  ứng hoá học với 
xơ.
Mức độ không gắn màu của thuốc nhuộm hoạt tính tương đối cao, khoảng 30 
%, có chứa gốc halogen hữu cơ (hợp chất AOX) nên làm tăng tính độc khi thải ra 
môi trường. Hơn nữa hợp chất này có khả năng tích luỹ sinh học, do đó gây nên tác 
động tiềm ẩn cho sức khoẻ con người và động vật [29].
 Th
   u
   ốc    n hu
    ộm    b azơ
     

18

n
hợp,  lưu  huỳnh  nằm  trong  các  dị  vòng  như:  tiazol,  tiazin,  tiantren  và  vòng  azin. 
Thuốc nhuộm nhóm này rất phức tạp, đến nay vẫn chưa xác định được chính xác 
cấu tạo tổng quát của chúng.
 Th
   u
   ốc    n hu
    ộm    p h
  â
  n
     t á n
    
Là  những  chất  màu  không  tan  trong  nước,  phân  bố  đều  trong  nước dạng 
dung  dịch  huyền  phù,  thường  được  dùng  nhuộm  xơ  kị  nước  như  xơ   axetat, 
polyamit,  polyeste,  polyacrilonitrin.  Phân  tử  thuốc  nhuộm  có  cấu  tạo từ  gốc azo 
(­  N=N ­) và antraquinon  có chứa  nhóm amin tự  do hoặc đã  bị thay thế  (­  NH2,  ­ 
NHR, NR2, ­ NH ­ CH2 ­ OH)  nên thuốc nhuộm dễ  dàng phân tán vào nước. Mức 
 
độ  gắn  màu  của  thuốc  nhuộm  phân  tán  đạt  tỉ  lệ  cao  (90  ­ 95 %) nên nước thải 
không chứa nhiều thuốc nhuộm và mang tính axit.
 Th
   u
   ốc n hu
    ộm    a zo
      k h
  ô
  n
  g
     t a n
    

nên một quy trình xử lý hoàn chỉnh [27]. 
1.4.3.1.  Phương pháp keo tụ
Đây là phương pháp thông dụng để  xử  lý nước thải dệt nhuộm. Nước thải 
dệt nhuộm có tính chất như  một dung dịch keo với các tiểu phân có kích thước hạt 
10­7 – 10­5 cm, các tiểu phân này có thể đi qua giấy lọc. 
Quá trình lắng chỉ có thể  tách được các hạt rắn huyền phù nhưng không thể 
tách được các chất gây ô nhiễm bẩn ở dạng keo và hòa tan, vì những hạt rắn có kích 
thước quá nhỏ.Để  tách các hạt rắn đó một cách có hiệu quả, cần chuyển các tiểu  
phân nhỏ  thành các tập hợp lớn hơn.Việc khử  các hạt keo đòi hỏi trước hết cần 
trung hòa điện tích của chúng, tiếp đến là liên kết chúng với nhau bằng các chất 
đông tụ. Các khối kết tủa bông lớn chịu ảnh hưởng của lực trọng trường bị sa lắng  
xuống, trong quá trình sa lắng sẽ kéo theo các hạt lơ lửng và các hạt tạp chất khác. 
Để  tăng tốc độ  keo tụ, tốc độ  sa lắng, tốc độ  nén ép các bông keo và đặc biệt để 
làm giảm lượng chất keo tụ có thể  dùng thêm các chất trợ  keo, chất này có vai trò 
liên kết giữa các hạt keo với nhau [1].
20


Hiện nay, keo tụ là phương pháp tiền xử lý thích hơp cho việc tách và loại bỏ 
các hạt keo, giảm giá trị  COD, độ  màu, độ  đục đến  một giới hạn để  có thể  tiến 
hành các bước xử  lý tiếp theo. Do quy mô sản xuất nhỏ  nên các hộ   ở  Dương Nội  
chủ yếu sử dụng loại thuốc nhuộm trực tiếp và axit. Loại này tan thẳng vào nước ở 
60 – 70oC, bắt màu thẳng vào vật liệu, không qua xử lý trung gian, hóa chất phụ trợ 
kèm  theo  đơn  giản,   rẻ   tiền,   thiết  bị   nhuộm   không  phức   tạp.   Trong  môi   trường 
nhuộm, chúng tạo thành các anion có dạng ArSO3­, đây là cơ  sở  cho việc sử  dụng  
phương pháp keo tụ với các tác nhân keo tụ là muối cation đa hóa trị:
Ar – SO3Na     Ar – SO3­ +  Na+
Phương pháp keo tụ có thể loại bỏ được kim loại nặng trong nước thải, làm  
giảm độ  đục và các thành phần rắn lơ  lửng. Bên cạnh đó còn làm giảm chất ô  
nhiễm khác nhau như  dầu mỡ, COD, BOD…Trong nghiên cứu của Duk Jong Joo,  

tạo H2O2, cho phép hình thành hệ  phản  ứng Fenton trong dung dịch. Trong cả  2  
trường hợp có và không có siêu âm, phản  ứng phân hủy azo C.I. axit đỏ  [14] tuân 
theo quy luật động học bậc nhất với hằng số tốc độ phản ứng tương ứng là 7,5.10­2 
phút­1  và 2,58.10­1  s­1. Shaobin Wang và các công sự  [27] đã so sánh động học của  
phản ứng Fenton (Fe3+/H2O2) và phản ứng giống Fenton (Fe 3+/H2O2) trong khi nghiên 
cứu xử lý hợp chất màu azo C.I. axit đen [1]. Phản ứng Fenton cho hiệu suất oxy hóa  
phân hủy thuốc nhuộm cao hơn so với phản  ứng giống Fenton  ở 100 phút đầu tiên 
và sau đó hiệu suất của 2 phản  ứng gần như tương đương. Tỷ  lệ  [Fe2+ ]:[H2O2] là 
3:0,75 trong cả hai trường hợp và sự phân hủy các chất màu phụ thuộc vào nồng độ 
ban đầu của Fe3+, H2O2 và pH trong khoảng nhiệt độ khảo sát từ 15­450C. Năm 2007, 
Minghua Zhou và các cộng sự  [23] đã nghiên cứu khảo sát  ảnh hưởng của các yếu  
tố (pH, nồng độ Fe2+, thế điện cực catôt, nồng độ muối Na2SO4, nồng độ metyl đỏ) 
tới sự phân hủy metyl đỏ bằng hiệu ứng Fenton điện hóa sử dụng điện cực graphit­
polytetrafloetylen (PTFE). Kết quả cho thấy sự suy giảm màu sắc xảy ra nhanh và  
đạt 80% trong 20 phút điện phân trong các điều kiện tốt nhất là: pH = 3, thế catôt =  
­0,55 V/SCE, nồng độ  Fe2+  0,2 mM, nồng độ  methyl đỏ  100 mg/l, nồng độ  muối 
Na2SO4  0,1 M, tốc độ  sục oxy 0,4 l/phút. Sự  phân hủy metyl đỏ  bằng hiệu  ứng 
Fenton điện hóa trong cùng điều kiện được đánh giá là có ưu thế đối với trường hợp  
nồng độ  thuốc nhuộm cao và được thực hiện  ở  hai giai đoạn khác nhau.Giai đoạn 
một là giai đoạn phá vỡ  liên kết azo tạo ra các sản phẩm trung gian có chứa vòng  
benzen, giai đoạn hai là giai đoạn phá hủy các vòng benzen thành các hợp chất vô cơ 
ít hoặc không độc hại với môi trường. Tuy nhiên, sự  tiêu thụ  ion sắt và sự  hình 

22


thành các sản phẩm trung gian trong quá trình điện phân khiến cho sự  phân hủy 
chậm hơn ở giai đoạn thứ hai [4].
1.4.3.3.  Phương pháp hấp phụ
Hấp phụ  là quá trình tụ  tập (chất chứa, thu hút…) các phân tử  khí, hơi hoặc  

với phẩm đỏ. Kết quả  như  sau: đối với vật liệu composit có tỷ  lệ  cacbon hoạt  
tính/Fe3O4 là 3:1 thì tải trọng hấp phụ thứ tự như sau: phenol (117 mg/g)  2:1  
composit.   Na   Yang   và   các   cộng   sự   [25]   đã   nghiên   cứu   chế   tạo   vật   liệu   nano  
composit mang cacbon từ tính khảo sát hấp phụ phẩm xanh metylen, nghiên cứu cho 
thấy tải trọng hấp phụ cực đại ≈300 mg/g [20].  
Zeolit là một trong những chất sử dụng rộng rãi trong việc tổng hợp các chất 
hấp phụ. Trong mạng lưới tinh thể của zeolit, một phần ion Si 4+ được thay thế bởi 
ion Al3+ đã gây ra sự thiếu hụt về điện tích dương. Do đó, zeolit có thể tiếp nhận các  
cation nhất định của các kim loại khác. Zeolit được sử  dụng trong các phản  ứng  
đehyđro hóa các chất lỏng và chất khí sau đó việc tinh chế chất lỏng bằng khả năng 
hấp phụ của mình. Zeolit tự nhiên và tổng hợp là vật liệu aluminosilicat tinh thể, có  
cấu trúc xốp và bề  mặt riêng cao. Zeolit có rất nhiều  ứng dụng, đặc biệt là trong  
lĩnh vực xúc tác hóa dầu, tổng hợp hữu cơ và bảo vệ môi trường. Khả năng trao đổi  
ion cao kết hợp với ái lực lựa chọn đối với các cation làm cho chúng rất thích hợp  
trong việc xử  lý nước thải. Dưới đây là danh sách những cation kim loại có thể  bị 
loại ra khỏi nước thải bằng zeolit: Cu2+, NH4+, Pb2+, Zn2+, Hg2+, Cr3+, Fe3+, Cd2+, Ca2+, 
Al3+, Cs2+, Sr2+. Năm 2003, Barmagan cùng các cộng sự  [7] công bố  ứng dụng zeolit  
tách loại phẩm màu và các hợp chất hữu cơ trong nước. Kết quả cho thấy tải trọng  
hấp phụ các loại phẩm đỏ, vàng, đen,... đạt 61–89 mg/g.
Silicagel là dạng của anhyđrit axit silicsic có cấu trúc lỗ  xốp rất phát triển. 
Mạng lưới của gel bao gồm các phân tử  silic nằm giữa các nguyên tử oxy. Silicagel 
dễ dàng hấp phụ các chất phân cực cũng như các chất có tạo với nhóm hiđroxy các 
liên kết kiểu cầu hiđro. Silicagel có thể  tái sinh  ở  nhiệt độ  
1.5.3. Độc tính với môi trường
Các loại phẩm nhuộm tổng hợp có chứa các hợp chất azo đã có từ lâu đời  và 
ngày  càng  được  sử  dụng  phổ  biến  trong  các  ngành  công  nghiệp  dệt may, giấy, 
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status