BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
NGUYỄN HỮU CHIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC
VÀ THỰC TRẠNG CẤP CỨU BAN ĐẦU Ở BỆNH NHÂN
GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
Chuyên ngành: Ngoại khoa
Mã số: 9720104
TOM TĂT LU
́
́
ẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
2
HÀ NỘI 2019
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI HỌC VIỆN QUÂN Y
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Nguyễn Tiến Bình
2. PGS.TS. Phạm Đăng Ninh
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch
Phản biện 2: PGS.TS. Nghiêm Đình Phàn
vững chắc sẽ giảm tỷ lệ các biến chứng toàn thân và tại chỗ như sốc, tổn
thương gãy kín thành gãy hở và tổn thương mạch máu, thần kinh. Mặt
khác việc sơ cấp cứu sớm còn tạo điều kiện cho tuyến sau xử trí được
thuận lợi hơn...Việc sơ cấp cứu ban đầu kịp thời và hiệu quả là vô cùng
quan trọng để giảm mức độ trầm trọng và tử vong do thương tổn từ các
tai nạn thương tích đem lại (Nguyễn Thúy Quỳnh, 2013).
Các nghiên cứu về gãy xương do tại nạn thương tích đã được nhiều
tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Trên thế giới, hầu hết các quốc gia
đều có các trung tâm phòng ngừa tai nạn và thương tích. Ở Việt Nam,
trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, khía cạnh dự phòng tai nạn thương
tích, dự phòng gãy xương, sơ cấp cứu ban đầu khi bị gãy xương mới
được chú ý.
Để có những thông tin cơ bản, hệ thống về đặc điểm dịch tễ học
của gãy xương cơ quan vận động và thực trạng cấp cứu ban đầu tại
các tuyến trước bệnh viện, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch
tễ học và thực trạng cấp cứu ban đầu ở bệnh nhân gãy xương cơ
5
quan vận động điều trị tại Bệnh viện Quân y 103” được tiến hành với
các mục tiêu sau:
1. Xác định một số đặc điểm dịch tễ học gãy xương cơ quan vận động ở
bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn 20102014.
2. Khảo sát thực trạng cấp cứu ban đầu bệnh nhân gãy xương cơ quan
vận động điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 trong thời gian trên.
2. Ý nghĩa khoa học
Luận án cung cấp các dữ liệu về một số đặc điểm dịch tễ học gãy
xương cơ quan vận động: Các kết quả về đặc điểm tuổi, giới và nghề
nghiệp của người bị gãy xương; đặc điểm về nguyên nhân và thời gian
xảy ra gãy xương; đặc điểm về cơ cấu và tính chất gãy xương…
do nguyên nhân chấn thương hoặc do bệnh lý. Gãy xương cơ quan vận
động bao gồm gãy xương tứ chi, gãy xương cột sống, gãy xương chậu và
gãy một số xương khác (xương đòn, xương bả vai, xương bánh chè).
Hiện nay, có nhiều cách phân loại gãy xương đang được áp dụng trên
lâm sàng. Phân loại gãy xương theo nguyên nhân được chia thành do chấn
thương và do bệnh lý (viêm xương, giang mai xương, do u ác tính nguyên
phát ở xương, do di căn ung thư xương, do mỏi mệt,do tai biến sản
khoa...). Phân loại tổn thương phần mềm gồm phân loại gãy xương hở
của Gustilo và Anderson, phân loại tổn thương phần mềm của Oestern và
Tscherne. Phân loại tổn thương ở xương theo cơ chế chấn thương, vị trí
gãy, hình thái và tính chất gãy, theo Quinquist và Hansen, phân loại tổng
hợp AO.
1.2. Dịch tễ học gãy xương cơ quan vận động
Tình hình GX cơ quan vận động đã được nhiều tác giả trên thế giới
nghiên cứu như Trung Quốc, Iran, Ấn Độ, Brasil, Mỹ… Johansen A. và cs.
nghiên cứu các trường hợp GX vào khoa cấp cứu của Bệnh viện (BV)
Hoàng gia Cardiff thấy tần suất GX là 21,1/1000 người/năm (nam:
23,5/1.000 người/năm; nữ: 18,8/1.000 người/ năm). Tần suất GX tương tự
với kết quả nghiên cứu ở Mỹ, Úc và Na Uy, nhưng cao hơn tần suất GX
ở Anh vào những năm 1960 (9/1.000 người/năm) (Johansen A. và cộng sự,
1997). Tại Việt Nam, GX ở cơ quan vận động là nguyên nhân gây tử vong
và tàn tật hàng đầu. Năm 2008, gánh nặng bệnh tật do tàn tật ở cả hai
giới đều là 2,7 triệu YLD (Trường Đại học Y tế công cộng, 2011).
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ GX có những điểm rất khác biệt, sự
khác biệt không chỉ theo tuổi, giới, vùng miền, thậm chí còn theo cả
chủng tộc, màu da. Tỷ lệ GX cánh tay chiếm khoảng 1 3% tổng số GX.
Gãy thân hai xương cẳng tay chiếm khoảng 1,2% tổng số GX, gãy thân
8
nạn nhân không được vận chuyển đến bệnh viện bằng các xe cấp cứu
chuyên dụng mà bằng các phương tiện khác như xe taxi, xe ôm hoặc
thậm chí bằng cả xe tải do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do
thiếu xe cấp cứu. Phương tiện chủ yếu mà người dân dùng để đưa nạn
nhân đến CSYT là xe máy, thời gian để đến được các CSYT đó là dưới 30
phút (58,6%) và từ 30 đến 60 phút (30,4%) (Nguyễn Thúy Quỳnh và cộng
10
sự, 2003). Thực tế cho thấy ở Việt Nam, sau TNGT, phần lớn các nạn
nhân thường được những người xung quanh đưa vào viện bằng bất cứ
phương tiện gì sẵn có và chủ yếu thường là xe máy. Tỷ lệ chuyển bằng
xe máy từ hiện trường đến BV là 84,48% (Phạm Thị Mỹ Ngọc, 2013).
vận chuyển nạn nhân GX từ phương tiện vận chuyển vào phòng khám
khu vực chủ yếu vẫn bằng khiêng tay 33,3%; vẫn còn một tỷ lệ không
nhỏ cõng, bế, dìu, thể hiện hiện trạng thiếu thốn phương tiện vận
chuyển, và trình độ vận chuyển vẫn còn nhiều hạn chế (Đồng Ngọc
Đức, 2009). Có 6,9% trường hợp đến BV trên 60 phút (3 phút 100 phút)
(Phạm Thị Mỹ Ngọc, 2013).
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 4918 bệnh nhân gãy xương cơ quan vận động
điều trị tại bệnh viện Quân y 103 trong thời gian 5 năm (20102014).
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
Bệnh nhân gãy xương cơ quan vận động có hồ sơ bệnh án đầy đủ và
ghi chép rõ ràng tất cả các thông tin cần thiết theo mẫu bệnh án nghiên
cứu.
Được điều trị đầu tiên tại Bệnh viện Quân y 103 (sau khi bị gãy
xương được sơ cấp cứu ban đầu tại chỗ, tại tuyến y tế cơ sở hoặc tại
phòng khám khu vực mà chưa từng vào điều trị tại một bệnh viện nào
p: Tỷ lệ ước đoán một loại gãy xương cơ quan vận động trong tổng
số các trường hợp gãy xương. Chúng tôi chọn tỷ lệ này là 3% (0,03) theo
bệnh học Chấn thương chỉnh hình của Học viện Quân y xuất bản năm
2006 và theo Nguyễn Tiến Bình năm 2009.
ε: Sai số tương đối có thể chấp nhận. Trong nghiên cứu này chúng tôi
chọn ε = 16% (0,16).
Thay các tham số trên vào công thức, cỡ mẫu lý thuyết được tính là
4852. Thực tế chúng tôi đã nghiên cứu 4918 bệnh nhân gãy xương cơ quan
vận động điều trị tại bệnh viện Quân y 103 trong thời gian 5 năm (2010
2014).
2.2.2.2. Phương pháp chọn mẫu
12
Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, có chỉ tiêu: Đưa vào
nghiên cứu tất cả bệnh nhân gãy xương cơ quan vận động đến khám tại
Phòng khám Bệnh viện Quân y 103 sau đó được phân bổ về điều trị tại
các khoa Chấn thương chỉnh hình, Phẫu thuật thần kinh, Ngoại dã chiến,
Hồi sức cấp cứu của Bệnh viện Quân Y 103 cho đến khi ra viện, thỏa
mãn đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn, loại trừ nêu trên và cho đến khi đáp ứng
đủ số lượng cần thiết tối thiểu cho nghiên cứu.
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin
Bộ Công cụ sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu là mẫu
bệnh án nghiên cứu. Mẫu phiếu này được xây dựng dựa vào các nội dung
và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, được các chuyên gia thuộc lĩnh vực
chuyên ngành góp ý và đã được thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi chính
thức tiến hành nghiên cứu.
2.2.4. Các biến số nghiên cứu
Các thông tin chung của bệnh nhân (tuổi, giới tính, địa chỉ, dân tộc, tôn
giáo, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nguyên nhân tai nạn, loại phương
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Một số đặc điểm dịch tễ học của gãy xương cơ quan vận
động
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi và giới của các bệnh nhân gãy xương
(n=4918)
Nam
Nữ
Tổng
pvalues
Nhóm tuổi n
%
n
%
n
%
Dưới
0,000(
414
12,2
124
8,1
538
10,9
20
*)
20 –
0,000
992
29,2
242
16,7
715
14,5
59
60 –
0,000
186
5,5
207
13,6
393
8,0
69
70 –
0,000
76
2,2
108
7,1
184
3,7
79
Từ 80
0,000
47
1,4
112
7,4
159
3,2
Tổng
Nghề
nghiệp
n
%
n
%
n
%
Nông dân
787
23,2
572
37,6
1359 27,6
Công nhân
724
21,3
151
9,9
875
17,8
Viên chức
556
16,4
280
18,4
836
17,0
HS, SV
học sinh, sinh viên (13,5%) và thấp nhất là bộ đội với 3,9%.
16
Bảng 3.3. Phân bố gãy xương theo nguyên nhân (n= 4918)
Nguyên
Nam
nhân
Trong Lao động
Nữ
Chung
n
%
n
%
n
%
403
2033(8
Xe máy
46,1
9,6%)
140(6,2
Khác
%)
Trong Sinh hoạt
1383
40,7
798
52,4
2181
44,4
Tổng số
3395
xảy ra vào buổi sáng (5 – 11 giờ).
Trong số các trường hợp gãy xương cơ quan vận động, tỷ lệ gãy
kín là 74,9%, cao hơn so với gãy hở là 25,1%.
Gãy xương chi dưới chiếm tỷ lệ cao nhất là 54,2%; chi trên có tỷ lệ
thấp hơn là 26,5%, tỷ lệ gãy kết hợp chi là 2,8% trong tổng số các
trường hợp gãy xương. Các loại gãy xương khác chiếm tỷ lệ thấp
(xương cột sống 11,1%, xương chậu 3,0%).
Bảng 3.4. Đặc điểm về số lượng xương bị gãy trên bệnh nhân
(n=4918)
Số xương bị gãy
Số lượng
Tỷ lệ (%)
1 xương
4.447
90,42
2 xương
395
8,03
3 xương
69
là 24,6%.
Bảng 3.5. Liên quan giữa vị trí các xương gãy và tính chất gãy
xương
18
Xươn
g gãy
Gãy
hở
(n=1.2
33)
Gãy
kín
(n=3.6
85)
Tổng
(n=4.9
18)
pvalues
n
%
392
10,6
560
11,4
0,004
Bànngón tay
255
20,
7
92
2,5
347
7,1
0,0001
Đùi
162
Bànngón
chân
123
10,0
99
2,7
222
4,5
0,0001
146
4,0
146
3,0
0,0001
544
0,0
0
0,0
0
7,6
Gãy xương cánh tay chiếm 9,4% trong đó gãy hở có 7% và gãy kín là
10,2%.
Gãy xương cẳng tay chiếm 11,4% trong đó gãy hở có 13,6% và gãy
kín là 10,6%.
Gãy xương bànngón tay có 7,1% trong đó gãy hở có 20,7% và gãy kín
là 2,5%.
Gãy xương đùi chiếm 24,9% trong đó gãy hở có 13,1% và gãy kín là
28,9%.
19
Tỷ lệ gãy xương nhiều nhất là gãy hai xương cẳng chân trong đó tỷ
lệ gãy hở hai xương cẳng chân (40,9%) là cao hơn có ý nghĩa thống kê
so với gãy kín 2 xương cẳng chân (22,1%).
Gãy xương bànngón chân có 4,5% trong đó gãy hở có 10% và gãy kín
là 2,7%.
Gãy các xương khác bao gồm như xương hàm mặt, đòn, bánh chè,
xương bả vai…có 12,6% trong đó gãy hở là 7,6% và gãy kín là 14,3%.
Sự khác biệt về tỷ lệ gãy hở / kín ở từng loại xương là khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p
15
3,1
100
7,9
87
2,7
Tổng
480
9,8
1.259
25,6
3.179
64,6
Lần lượt theo các tuyến cấp cứu, bệnh nhân bị tai nạn ở thành thị
được cấp cứu tại chỗ và đưa đến PKCC đều là 37,3%, số còn lại được
cấp cứu tại Y tế cơ sở với 34,4%. Với nhóm bệnh nhân ở nông thôn,
số BN được sơ cấp cứu tại PKCC với 60% chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp
theo là sơ cứu tại chỗ với 59,6%, và ít nhất là đưa đến Y tế cơ sở với
57,7%. Với nhóm bệnh nhân ở khu vực miền núi, cao nhất là cấp cứu
tại y tế cơ sở với 7,9%, tiếp đến là tại chỗ với 3,1% và ít nhất là cấp
cứu tại PKCC với 2,7%. Sự khác biệt giữa các khu vực về tỷ lệ được
sơ cứu là có ý nghĩa thống kê với p
2.695
54,8
Xe cấp cứu 115
79
1,6
Taxi
138
2,8
Phương tiện khác
69
1,4
Tổng cộng
4.918
100
Kết quả bảng trên cho thấy: Phương tiện vận chuyển BN đến
Bệnh viện chủ yếu vẫn là xe máy (54,8%), tiếp đến là ô tô (39,4%).
Xe cấp cứu chuyên dụng của 115 chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp (1,6%).
Bảng 3.8. Người đầu tiên trực tiếp tham gia cấp cứu tại nơi xảy ra
tai nạn (n = 480)
Phương tiện
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Người dân
390
81,3
21
Nhân viên y tế
90
(n=1.2
(n=3.1
sơ
0)
59)
79)
cấ p
Tổng
pvalues
n
%
n
%
n
%
48,5
476
59,0
722
Cố định
338
70,4
1.195
94,9
2.787
87,7
4.320
87,8
0,001
0
nghĩa thống kê với p
Cỡ
mẫu (n)
Nguyễn Thị Như Tú và cs. (2012)
Lê Quang Ánh (2012)
Nguyễn Thị Chinh và cs. (2013)
Hoàng Đức Thái (2016)
Nguyễn Thị Xuân Trang (2011)
Nguyễn Đức Chính và cs. (2011)
Bùi Thị Tú Quyên (2004)
Lương Mai Anh (2012)
Đàng Tấn An và cs. (2014)
Nguyễn Hữu Chiến, 2019
Tỷ lệ (%)
Nam
471
73,0
717
69,31
289
66,1
99
61,6
262
53,4
62.229
72,9
93
77,0
2.036
Địa điểm
Tạ Văn Trầm (2006)
Lê Quang Ánh (2012)
Nguyễn Thị Chinh (2013)
n
BVĐK
Tiền Giang
Long Thành, Nhơn
Trạch
BV
Đức Giang
Nguyễn Thị Xuân Trang
BVĐK
(2011)
Đăk Lắk
Nguyễn Hữu Chiến, 2019
BV 103
Nguyên nhân (%)
TNGT
49,6
4918
46,1
36,3
9,5
44,4
Đặc điểm về nguyên nhân gãy xương: TNTT là vấn đề y tế quan
trọng hiện nay, chiếm 16% gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới.
TNTT là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật ở những nước
đang phát triển. Những năm gần đây ở nước ta, cùng với sự tăng nhanh
về kinh tế, xã hội trong cả nước nói chung, tốc độ đô thị hóa nhanh ở
các vùng nói riêng, là sự gia tăng các loại hình TNTT. Hiện nay, TNTT
gia tăng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là
TNGT. Qua nghiên cứu thấy số BN GX do TNGT chiếm tỷ lệ cao nhất
(46,1%), tiếp đến là TNSH (44,4%) và ít nhất là TNLĐ (9,5%). Kết
25
quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự một số nghiên cứu của các tác
giả trong nước.
Về vị trí gãy xương: tỷ lệ gãy xương trong nghiên cứu của chúng
tôi cũng phù hợp với một số tác giả nghiên cứu khác.
Phan Quang Trí (2015) nghiên cứu 102 trường hợp gãy trên lồi cầu
xương cánh tay thấy tổn thương tay trái (60,8%) gặp nhiều hơn tay
phải (39,2%). Phân loại theo Gartland thấy đa phần là gãy di lệch loại