Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Lịch sử hình thành và phát triển của thương cảng Hà Tiên (Thế kỷ XVII - XIX) - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
------***------

TRẦN VIỆT NHÂN

Chuyên ngành : LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số : 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ THANH THANH

Tp. Hồ Chí Minh - 2010


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và không có trong bất kỳ công trình
nào khác.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 06 năm 2010
Tác giả luận văn

TRẦN VIỆT NHÂN


MỤC LỤC



T
2

4.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. ..................................................................................... 13
2T

T
2

Chương 1: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
VÙNG ĐẤT HÀ TIÊN ................................................................................................................. 17
2T

2T

1.1.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HÀ TIÊN. ..................................... 17
2T

T
2

1.1.1. Đặc điểm địa lí tự nhiên............................................................................................................. 17
2T

2T

1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội. .......................................................................................................... 22
2T


2

2.1.1. Những điều kiện để Hà Tiên trở thành thương cảng. .................................................................. 39
2T

T
2

2.1.2. Quá trình hình thành thương cảng Hà Tiên. .............................................................................. 42
2T

T
2

2.2. CÁC HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA THƯƠNG CẢNG HÀ TIÊN. ....................................... 50
2T

T
2

2.2.1. Hoạt động buôn bán trong nước. ................................................................................................ 50
2T

2T

2.2.2. Giao lưu thương mại với nước ngoài. ........................................................................................ 55
2T

T
2

3.2.2. Những thay đổi về tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII – đầu thế
kỷ XIX. ............................................................................................................................................... 74
2T

T
2

3.2.3. Sự thay đổi con đường thương mại Đông – Tây. ........................................................................ 75
2T

T
2

3.2. CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NGUYỄN ĐỐI VỚI HÀ TIÊN (ĐẦU THẾ KỶ XIX). ..................... 77
2T

T
2

3.3.TRIỂN VỌNG CỦA CẢNG HÀ TIÊN NGÀY NAY........................................................................ 81
2T

T
2

KẾT LUẬN ................................................................................................................................... 87
2T

T
2

triển của nó. Nằm ở phía Tây cực Nam của Tổ Quốc, Hà Tiên là một vùng đất có cả biên
giới biển lẫn biên giới lục địa, một vùng đất có nhiều ưu thế nhưng cũng ẩn chứa nhiều khó
khăn trong xây dựng kinh tế và bảo vệ lãnh thổ. Vì thế, từ rất sớm, Hà Tiên đã trở nên nổi
tiếng và nói như “nhà Hà Tiên học” Trương Minh Đạt, thì “Hà Tiên có bề dày lịch sử và văn
hóa mà không phải địa phương nào cũng có” [14, tr. 6].
Thật vậy, đến với Hà Tiên, chúng ta sẽ đến với một xứ sở thơ mộng với nhiều danh
thắng du lịch nổi tiếng như Hòn Phụ Tử - quanh năm rủ mình xuống biển xanh

( 1)
P

F
0

, hay Hà
P

Tiên thập vịnh – mười cảnh đẹp tuyệt diệu mà ngày xưa Mạc Thiên Tứ đã bình chọn với núi
Tô Châu, núi Bình San, chùa Phù Dung, sông Giang Thành, …mà cho đến bây giờ vẫn còn
nguyên giá trị; hoặc những bãi tắm tuyệt đẹp như mũi Nai, bãi Ớt, bãi Dương... với cát vàng
mịn, nước trong xanh, quanh năm sóng biển rì rào, có thể gọi là một “Hạ Long phương
Nam”. Và hơn tất cả, đến với Hà Tiên, chúng ta sẽ được sống lại một thời sôi động của
những bước chân khai khẩn của lưu dân ở vùng đất mới; đến với không khí sinh hoạt văn
chương của kẻ sĩ từ bốn phương ở vùng hải ngoại xa xôi; đến với cả không khí binh đao
trong những ngày quân dân Hà Tiên chống giặc ngoại xâm dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của
những người con ưu tú của Mạc gia và đặc biệt là quang cảnh buôn bán nhộn nhịp của
thương khách gần xa của một hải cảng từng là “quyền lực thương mại” ở Việt Nam và thế
giới lúc bấy giờ - thương cảng Hà Tiên.
Thương cảng Hà Tiên hình thành từ những năm cuối thế kỷ XVII, phát triển đỉnh cao
vào giữa thế kỷ XVIII và lùi tàn vào đầu thế kỷ XIX. Quá trình phát triển ấy của thương

đặc biệt ấy của thương cảng Hà Tiên đã làm chúng tôi hết sức quan tâm. Đây là lí do quan
trọng thúc đẩy chúng tôi chọn vấn đề thương cảng Hà Tiên làm đề tài nghiên cứu.
Nghiên cứu về thương cảng Hà Tiên là để tìm hiểu rõ trong quá khứ thương cảng Hà
Tiên đã hình thành và phát triển như thế nào ? Họ Mạc có vai trò gì đối với sự phát triển của
thương cảng Hà Tiên và vùng đất Hà Tiên ? Vì sao thương cảng Hà Tiên chỉ tồn tại đúng
trong một thế kỷ ? Và với vị trí và tiềm năng của mình, ngày nay Hà Tiên sẽ phát triển ra sao
?... Mặc khác, Hà Tiên là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng nằm ở tận cùng phía Tây Nam
Tổ Quốc thì việc tìm hiểu về Hà Tiên sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình mở cõi Nam
tiến của dân tộc Việt Nam, hiểu rõ hơn về vai trò, vị trí của Hà Tiên trong sự phát triển
chung của đất nước.
Trong những năm qua, với những tiềm năng vốn có và vị trí đặc biệt quan trọng cả về
kinh tế và quốc phòng, Hà Tiên – Kiên Giang giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển của
(1) : Lấy mốc năm 1700 là theo sách Nghiên cứu Hà Tiên của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt; Còn theo Trịnh Hoài Đức trong
sách Gia Định thành thông chí thì Mạc Cửu đến Hà Tiên vào năm 1680.


vùng đất Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung. Đúng như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã
viết: “Kiên Giang là một cửa ngõ quan trọng ở phía Tây Nam Tổ Quốc” [51, tr. 10]. Chính vì
thế, vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên
cứu sử học. Nhiều công trình nghiên cứu đã ra đời, khai thác nhiều lĩnh vực khác nhau mang
tầm khu vực và ở từng địa phương. Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế
lại rất ít, nhất là kinh tế thời trung cổ. Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu về thương cảng Hà
Tiên cũng chưa được quan tâm đúng mức. Đây là một khoảng trống khoa học cần được lắp
đầy. Bởi vì muốn hiểu biết một cách đầy đủ khoa học về vùng đất Nam Bộ nói chung thì
không thể không nói đến vùng đất Hà Tiên, trong đó có thương cảng Hà Tiên. “Không có
nghiên cứu cơ bản thì không có nguồn dự trữ về lý luận…Nghiên cứu cơ bản là cơ sở cho sự
phát triển toàn bộ nền khoa học của đất nước. Nghiên cứu cơ bản càng sâu, khả năng ứng
dụng vào thực tiễn càng có hiệu quả”. [26, tr. 2]
Như vậy, mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm: Thứ nhất, góp phần tìm hiểu
một cách rõ nét và có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của thương cảng Hà

thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Đây có thể được coi là tác phẩm viết về Hà Tiên nhiều
nhất và đầy đủ nhất. Trong cả 3 tập Thượng, Trung, Hạ, tác giả đều có phần viết về Trấn Hà
Tiên. Tác giả đã phác họa cho chúng ta một cách khá rõ nét đặc điểm vị trí địa lí, xã hội,
kinh tế, về hình thể của thương cảng Hà Tiên. Đó là những tư liệu vô cùng quý giá, cho phép
các thế hệ nghiên cứu sau này hình dung được những nét lớn về bộ mặt của vùng đất Hà
Tiên vào thế kỷ XVII – XIX.
Có thể nói, đó là những tác phẩm đầu tiên nghiên cứu về vùng đất phía Nam của Tổ
quốc. Và mặc dù, những sử liệu về vùng đất Hà Tiên được ghi chép khá tản mạn nhưng đây
là một căn cứ quan trọng để chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của
vùng đất này.
Bên cạnh các bộ sử lớn trên, lịch sử vùng đất Hà Tiên đã được đề cập đến trong một
số tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước.
Tác phẩm đầu tiên phải kể đến là Mạc thị gia phả của Dinh Đức hầu Vũ Thế Dinh. Do
là người trong cuộc, chứng kiến mọi bước phát triển và những biến cố thăng trầm của Hà
Tiên, nên trong Mạc thị gia phả, Vũ Thế Dinh đã đề cập đến nhiều thông tin quan trọng để
giúp chúng ta hiểu đúng hơn về họ Mạc và đất Hà Tiên nói riêng, về một bộ phận quan trọng
của lãnh thổ xứ Đàng Trong các thế kỷ XVII và XVIII nói chung. Đọc Mạc thị gia phả


chúng ta sẽ có thêm những cơ sở tư liệu tin cậy để hình dung về chủ trương của họ Mạc
trong việc quy tụ nhân dân lưu tán về mở đất lập làng tại Hà Tiên, về vị trí cũng như quy mô
cụ thể của bảy xã thôn đầu tiên nằm rải rác trên vùng đất ngày nay tương ứng với các tỉnh
Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Đọc Mạc thị gia phả chúng ta sẽ hiểu được Mạc Cửu và
Mạc Thiên Tứ “đã tìm cách thi vị hóa vùng đất Hà Tiên nhằm tạo ra sức hấp dẫn đối với kẻ
sĩ và thường dân trong khắp bốn phương thiên hạ ra sao” [24, tr. 9]. Có thể nói, Mạc thị gia
phả là cuốn sử sinh động nhất về vùng đất Hà Tiên.
Thế nhưng, đáng tiếc là Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh cũng tồn tại nhiều hạn chế.
Đó là xác định chưa đúng niên đại Mạc Cửu đến lập nghiệp ở vùng đất Mang Khảm, khi cho
rằng đó là năm 1671 [24, tr. 14]. Mốc thời gian này được nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt
xác định là khoảng năm 1700. Hay Vũ Thế Dinh chép rằng sự kiện Mạc Cửu dâng đất Mang

Năm 2008, nhân kỷ niệm 300 trấn Hà Tiên, nhà “Hà Tiên học” Trương Minh Đạt đã
cho ra đời một tác phẩm rất đáng quan tâm, tác phẩm Nghiên cứu Hà Tiên (Tạp chí xưa và
nay, NXB. Trẻ ấn hành). Đây là một công trình chuyên khảo rất có giá trị về vùng đất Hà
Tiên với tập hợp gồm 35 bài khảo cứu – đính chính – tư liệu được viết từ năm 1990 đến nay.
Với tầm hiểu biết sâu rộng về đất Hà Tiên, cộng với những ý kiến mang tính phát hiện, tác
giả đã đưa ra nhiều kiến giải quan trọng, giúp chúng ta nhận thức đứng đắn về các sự kiện,
niên đại …liên qua đến quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tiên như : người
xây dựng lũy đất Trúc Bàn Thành là Mạc Cửu, từ đầu thế kỷ XVIII, chứ không phải là từ
giữa thế kỷ XIX; Mạc Cửu bắt đầu tạo dụng cơ nghiệp ở Hà Tiên vào năm 1700 (chứ không
phải năm 1671, 1674, 1680, 1708, hay 1715 như một số tác giả đã viết); Mạc Cửu thần phục
chúa Nguyễn vào năm 1708 (chứ không phải năm 1714 như Vũ Thế Dinh đã viết trong Mạc
thị gia phả)…Ngoài ra tác giả còn giúp chúng ta xác định vị trí của nền nhà Chiêu Anh Các,
hiểu về lai lịch chùa Phù Dung. Đặc biệt, ông đưa ra ý kiến Hà Tiên từng là điểm cư trú xưa
của người Việt cổ.
Tuy vậy, điểm đáng tiếc là trong Nghiên cứu Hà Tiên, tác giả Trương Minh Đạt lại ít
quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế của vùng đất Hà Tiên nói chung và cảng Hà Tiên nói
riêng.
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tìm thấy nhiều bài viết chuyên khảo về thương cảng Hà
Tiên như : Kinh tế Hà Tiên – Rạch Giá thời Pháp thuộc (1867 – 1939), luận án phó Tiến sĩ
sử học của Nguyễn Thùy Dương. Đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về vùng
đất Hà Tiên. Tác giả đã giành toàn bộ chương một để trình bày về lịch sử khai phá vùng đất


Hà Tiên. Các chương còn lại viết về kinh tế Hà Tiên – Rạch Giá thời Pháp thuộc nhưng lại
thiên về kinh tế nông nghiệp, ít nói về kinh tế thương nghiệp, nhất là ở thế kỷ XVIII. Điều
này cũng dễ hiểu, vì nó nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài. Cùng với đó, các bài viết
Hà Tiên từng là thương cảng trung tâm Đông Nam Á của Nguyên Khang, đã chứng minh Hà
Tiên là một thương cảng sầm uất vào thế kỷ XVIII; Công cuộc khai phá trấn Hà Tiên vào
những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, nửa đầu thế kỷ XVIII và vai trò của họ Mạc của Huỳnh Lứa,
phân tích khá rõ nét vai trò của họ Mạc đối với công cuộc khai phá và phát triển vùng đất Hà

đặt ra.
3.NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã kế thừa về tư liệu và cả về lý luận của
các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài. Thực tế đã có nhiều nguồn sử liệu
ghi lại quá trình hình thành và phát triển của thương cảng Hà Tiên nhưng lại tản mạn, thiếu
hệ thống, chậm chí là trùng lập, rất khó nghiên cứu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận
văn, chúng tôi đã cố gắng khai thác các nguồn sử liệu sau:
Một là, các bộ chính sử được ra đời dưới triều Nguyễn như Đại Nam thực lục (chính
biên và tiền biên), Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí, Phủ biên tạp lục
…Đây chính là nguồn tài liệu gốc mà chúng tôi dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện, niên
đại liên qua đến vùng đất Hà Tiên.
Hai là, các tác phẩm nghiên cứu về lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, trong đó có đề
cập đến vùng đất Hà Tiên với nhiều khía cạnh khác nhau. Và những tác phẩm chuyên khảo
về Hà Tiên của một số ít các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Những tác phẩm này, bên
cạnh việc dựa vào các tư liệu gốc trình bày về lịch sử vùng đất Hà Tiên, đã đưa ra nhiều kiến
giải quan trọng, làm cơ sở để chúng tôi hiểu rõ hơn vấn đề đặt ra.
Ba là, các bài viết trên tạp chí khoa học như tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí xưa và
nay. Các bài báo cáo trong các hội thảo khoa học về vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX,
kỷ yếu Hội thảo về Hà Tiên và các bài viết đăng trên các báo có uy tín. Đặc biệt, chúng tôi
đã sử dụng kho tư liệu đồ sộ trên Internet, trên cơ sở so sánh, đối chiếu và chọn lọc kỹ càng.
Bốn là, nguồn tài liệu điền dã tại Hà Tiên, Kiên Giang, thu thập từ các cuộc tọa đàm
với các học giả có hiểu biết sâu sắc về Hà Tiên và những tư liệu về dòng họ Mạc còn lưu giữ
trong nhân dân ở địa phương.
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau :


1. Phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Đây là hai phương pháp căn bản
được sử dụng trong luận văn. Vận dụng phương pháp lịch sử là dựa trên những sử liệu lịch
sử xác thực để miêu tả, khôi phục lại quá khứ gần đúng như nó từng tồn tại. Cụ thể ở đây là

P

(1) : Sáu tỉnh Nam kỳ khi ấy là : Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.


rơi vào ách cai trị của thực dân Pháp. Sự giới hạn này nhằm làm sáng tỏ thời kỳ phát triển
hoàng kim của thương cảng Hà Tiên.
Trong phạm vi tài liệu mà tác giả tiếp cận được, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu để làm
sáng tỏ các vấn đề sau:
1. Quá trình khai phá vùng đất Hà Tiên thời kỳ thời các chúa Nguyễn và dòng họ Mạc.
2. Các hoạt động kinh tế của thương cảng Hà Tiên thời kỳ phát triển đỉnh cao ở thế kỷ
XVIII qua hoạt động kinh tế trong nước và ngoài nước.
3. Mối quan hệ về kinh tế giữa Hà Tiên với Đàng Trong (Gia Định – Đồng Nai…),
Đàng Ngoài (Hội An, Đà Nẵng…), các quốc gia trong khu vực (Trung Quốc, Nhật Bản,
Xiêm …) và cả với các nước Châu Âu.
4. Vai trò của họ Mạc (Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ) đối với vùng đất Hà Tiên.
5. Những nguyên nhân làm cho thương cảng Hà Tiên suy tàn vào đầu thế kỷ XIX và
nguyên nhân nào là quan trọng nhất.
6. Phác họa những nét cơ bản về triển vọng phát triển của Hà Tiên ngày nay.
Qua những vấn đề trên, luận văn có những đóng góp sau :
Thứ nhất, làm rõ quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tiên từ thế kỷ
XVII – XIX. Với những phác họa rõ nét qua từng thời kỳ lịch sử, luận văn sẽ giúp cho người
đọc nắm một cách tương đối hoàn chỉnh lịch sử phát triển của thương cảng Hà Tiên từ thuở
sơ khai đến thời kỳ phát triển đỉnh cao thời họ Mạc và lùi tàn vào đầu triều Nguyễn.
Thứ hai, hình thành một cách tương đối bức tranh lịch sử về thương cảng Hà Tiên.
Bằng những cứ liệu lịch sử cụ thể và dẫn chứng sinh động, luận văn giúp cho người đọc có
thêm kiến thức thú vị rằng, Hà Tiên không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp của non nước, sự trù
phú của thiên nhiên và sự hào phóng của dân cư mà Hà Tiên còn nổi tiếng với một thương
cảng trù phú bậc nhất khu vực Đông Nam Á vào thế kỷ XVIII. Trong suốt một thế kỷ, cảng
Hà Tiên là một quyền lực thương mại của con đường buôn bán Đông – Tây trên biển qua

Tài liệu tham khảo : Liệt kê các tài liệu chính có trích dẫn trong luận văn. (gồm có 7
trang, từ trang 114 – trng 120).


Phần phụ lục : Trình bày một số tài liệu tham khảo liên quan đến luận văn. (gồm có 43
trang, từ trang 121 đến trang 163).


Chương 1: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA VÙNG ĐẤT HÀ TIÊN
Lịch sử phát triển của vùng đất Hà Tiên đã trải qua nhiều biến đổi thăng trầm. Hà Tiên
xưa kia vốn là vùng đất hoang vu với tên gọi là Mang Khảm. Đến khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, Mạc Cửu đã đến khai phá vùng đất đó. Ông đã ra sức mở mang, khai phá
và phát triển buôn bán làm cho vùng đất này trở thành trù phú. Vào năm 1708, Mạc Cửu đã
thần phục chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu (chúa Minh). Từ đó, vùng đất do Mạc Cửu cai
quản thuộc về lãnh thổ Việt Nam và có tên gọi là Hà Tiên. Sau đó, con Mạc Cửu là Mạc
Thiên Tứ đã mở rộng thêm vùng đất này. Đến đời vua Minh Mạng, Hà Tiên là một trong 30
tỉnh của Việt Nam và là một trong 6 tỉnh của Nam Bộ. Ngày nay, Hà Tiên là một thị xã phát
triển của tỉnh Kiên Giang.
1.1.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HÀ TIÊN.
1.1.1. Đặc điểm địa lí tự nhiên.

Hà Tiên xưa là vùng đất rộng lớn (bao gồm toàn bộ tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc
Liêu, một phần nhỏ của tỉnh An Giang và tỉnh Sóc Trăng ngày nay), là dãy đất tận cùng phía
Tây Nam của Tổ quốc Việt Nam, cũng là vùng đất cuối cùng phía Tây Nam của đồng bằng
sông Cửu Long.
Ngày nay về địa giới hành chính, Hà Tiên thuộc về tỉnh Kiên Giang. Tỉnh Kiên Giang
có tổng diện tích tự nhiên là 617.709 ha, trong đó phần đất liền là 554.734 ha, phần hải đảo
là 62.975 ha, chiếm 1,9% diện tích cả nước và đứng đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tỉnh Kiên Giang có chung đường biên giới đất liền với Camphuchia ở phía Bắc trên chiều
dài 56,8 km, phía Đông và đông Nam giáp các tỉnh An Giang, Hậu Giang và thành phố Cần

P

P

P


Tỉnh Kiên Giang gồm một thành phố (Rạch Giá), một thị xã (Hà Tiên), 7 huyện đất
liền : Hòn Đất, Châu Thành, Tân Hiệp, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh
Thuận và hai huyện hải đảo : Kiên Hải và Phú Quốc.
So với các tỉnh khác của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thì thiên nhiên của Kiên
Giang đa dạng, phức tạp và biến động hơn. Kiên Giang có vùng đồng bằng phù sa phì nhiêu,
có núi, có rừng, có sông rạch và biển cả, hải đảo.
Kiên Giang là vùng tiếp giáp giữa cổ đại và hiện đại, núi, biển và quá trình bồi đắp
vẫn đang tiếp tục. Địa hình Kiên Giang tương đối bằng phẳng, ngoại trừ các đảo và núi, theo
hướng thấp dần từ đông Bắc (độ cao trung bình từ 0,8 – 1,2 m) xuống tây Nam (độ cao trung
bình từ 0,2 – 0,4 m) so với mặt nước biển. Địa hình đồi núi của Kiên Giang tập trung tại ven
biển phía tây Bắc, thuộc các huyện Hòn Đất, Kiên Lương và thị xã Hà Tiên, độ cao trung
bình dưới 200m. Địa hình vùng đồng bằng thuộc các huyện còn lại của tỉnh, được phù sa
sông Hậu bồi đắp, độ cao trung bình từ 0,2 – 0,4 m, có nhiều kênh rạch và sông ngòi chảy
qua.
Kiên Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, do nằm ở vĩ độ thấp và
giáp biển nên khí hậu Kiên Giang mang tính chất nhiệt đới đại dương với đặc chung là nóng
ẩm và mưa nhiều theo mùa. Tổng lượng bức xạ trong năm đạt từ 120 – 130 kca/cm2, nhiệt độ
P

P

trung bình trong năm là 27,0 – 27,60C. Khí hậu Kiên Giang thể hiện rõ tính chất nhiệt đới gió
P

chảy vào khu vực Hà Tiên. Chiều dài sông trên lãnh thổ Kiên Giang là 23 km. Sông đổ vào
Đông Hồ (Hà Tiên) với chiều rộng cửa sông trên 200 m. Sau này sông Giang Thành được
nối liền với kênh Vĩnh Tế, tạo nên tuyến đường thủy quan trọng từ Châu Đốc đến Hà Tiên.
Nguồn nước ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có trạng thái nghịch lý là “cực kỳ
thừa thãi mà cũng cực kỳ thiếu thốn” [8, tr. 12] và chế độ nước ở Kiên Giang cũng không
thoát khỏi nghịch lý đó mà còn có phần trầm trọng hơn. Chế độ thủy văn Kiên Giang chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chế độ lũ sông Cửu Long, chế độ mưa nội vùng và chế độ thủy triều
của vịnh Thái Lan. Mùa lũ ở Kiên Giang thường chậm hơn mùa mưa khoảng 3 tháng, kéo
dài trong 5 tháng (từ thàng 7 – 11). Thời gian ngập lụt kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11. Thời
gian xuất hiện đỉnh lũ thường xảy ra vào đầu tháng 10, tuy nhiên cũng có năm đến sớm hơn
hoặc muộn hơn (tháng 9 hoặc đầu tháng 11). Mùa cạn ở Kiên Giang kéo dài từ tháng 12 đến
tháng 6. Vào mùa cạn, tình trạng xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền, gây nhiễm mặn cho
vùng, nội vùng, dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nước ngọt cho sản xuất và đời sống.
Biển và hải đảo là một điểm đặc biệt của thiên nhiên Kiên Giang. Biển Kiên Giang
nằm ở phía Đông vịnh Thái Lan, là nơi rất thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế
biển và là nơi thuận lợi cho việc buôn bán giao thương. Tài nguyên thủy sản của Kiên Giang
rất phong phú, đa dạng bao gồm tôm, cá các loại và nhiều đặc sản quý như đồi mồi, hải sâm,


sò huyết, nghêu lụa, ngọc trai, bào ngư, mực, vi (vây) cá… Theo điều tra của Viện nghiên
cứu biển Việt Nam thì trữ lượng tôm cá ở biển Hà Tiên – Kiên Giang ước tính khoảng 465
nghìn tấn, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng (khoảng trên 200 nghìn tấn).
[72, tr. 334] Với nguồn thủy hải sản phong phú, cùng với việc Hà Tiên – Kiên Giang có bờ
biển dài hơn 200 km dọc theo Vịnh Thái Lan, Hà Tiên – Kiên Giang là nơi rất thuận lợi cho
việc phát triển các ngành kinh tế biển và là nơi thuận lợi cho việc buôn bán giao thương.
Hiện nay, ngư trường vùng biển Tây Nam (bao gồm tỉnh Cà Mau và Kiên Giang) là một
trong những ngư trường lớn nhất cả nước với diện tích khai thác trên 63 nghìn km2.
P

P

đó, thiên nhiên Kiên Giang cũng chứa đựng nhiều khó khăn, thách thức cho việc thích ứng
cải tạo và chinh phục, nhất là thời kỳ xa xưa. Điều này lí giải cho sự hoang du của nó cho
đến tận thế kỷ XVII.
Trong sự phát triển tỉnh Kiên Giang ngày nay, thị xã Hà Tiên với nhiều thế mạnh của
mình, đang giữ vị trí đặc biệt quan trọng.
Thị xã Hà Tiên nằm phía Tây Bắc tỉnh Kiên Giang, phía Đông và phía Nam giáp
T
2

T
2

huyện Kiên Lương; phía Tây giáp Biển tây; phía bắc giáp Campuchia. Thị xã Hà Tiên gồm
T
2

2T

T
2

T
2

có 7 đơn vị trực thuộc là phường Đông Hồ, phường Bình San, phường Pháo Đài, phường Tô
Châu, xã Thuận Yên, xã Mỹ Đức và xã đảo Tiên Hải.
Diện tích tự nhiên của thị xã Hà Tiên là 8.851,5 ha, trong đó đầm ngập mặn Đông Hồ
chiếm 1.047 ha. Hà Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, do ở vĩ độ thấp và ở
ven biển nên khí hậu mang tính chất khí hậu đại dương. Nhiệt độ trung bình hàng năm
T

2

biển, đầm, quần đảo… Thi sĩ Đông Hồ đã từng ca ngợi Hà Tiên như một Việt Nam thu nhỏ :
2T

2T

T
2

T
2

T
2

2T

“Ở đó kì thú thay, như gồm đủ hết. Có một ít hang sâu động hiếm của Lạng Sơn. Có một ít
ngọn núi đá chơi vơi ngoài biển của Hạ Long. Có một ít núi đá vôi của Ninh Bình. Có một ít
thạch thất sơn môn của Hương tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa
chiền của Bắc Ninh, một ít lăng tẩm của Thuận Hóa. Có một ít Đồ Sơn, Cửa Tùng, một ít
Nha Trang, Long Hải…”. [32, tr. 26]


Hà Tiên có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Hòn Phụ Tử, hang Tiền,
Thạch Động, núi Bình San, núi Phù Dung, núi Lộc Trĩ, núi Đá Dựng, núi Châu Nham, Hòa
Đại Kim dữ, biển Đông Hồ,…và nhiều bãi biển tuyệt đẹp như bãi Dương, Mũi Nai…không
chỉ có giá trị về mặt phát triển du lịch mà còn có giá trị về văn hóa bởi những câu chuyện
nửa thật, nửa hư xung quanh các danh thắng ấy.

cổ mang từ tố Pù – Tà – Nạy” [14, tr. 23]. Từ đó, ông khẳng định, từ thời xa xưa, vùng đất
Hà Tiên chính là vùng đất Phù Dung (Phù Youn) của người Lạc Việt. Đồng thời ông cũng
giải thích rõ tên gọi Hà Tiên là bắt nguồn từ tên gọi của một dòng sông xưa có tên là Tà Ten
và đây cũng là tên của một ấp cư dân Việt cổ ở hướng đông bắc thị xã Hà Tiên ngày nay. Và
ông kết luận, tên gọi Hà Tiên theo “cách giải thích cũ theo truyền thuyết mà sách địa lý đời
Tự Đức chép lại: “Nơi đây xưa kia có tiên (Tiên) hiện xuống đi lại trên sông (Hà) nên gọi là
đất Hà Tiên” thật rõ ràng không có căn cứ và thiếu khoa học”. [14, tr.30]
Năm 1983, một trống đồng Đông Sơn được tìm thấy ở đảo Lại Sơn (Sơn Rái), huyện
Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Cổ vật này là chứng tích cụ thể còn sót lại trên đường hải hành
2T

T
2

của người Việt cổ. Họ khởi hành từ Vịnh Bắc Bộ, nương theo gió mùa Đông Bắc - Tây Nam,
T
2

T
2

T
2

T
2

men ven bờ bán đảo Đông Dương để vào vịnh Thái Lan… Và họ đã gặp một nơi khá thích
2T


tác giữa cư dân Việt, cư dân Khmer và nhiều cư dân khác. Thời đó, chủ nhân của nền văn
hóa Óc Eo đã có một trình độ khá cao về tổ chức xã hội và hoạt động kinh tế. Họ đã lập nên
nhà nước có tên gọi là Phù Nam (vào thế kỷ I sau CN). Vào thời kỳ cực thịnh của mình, Phù
Nam từng giữ vị thế là một “Trung tâm liên thế giới” [37, tr.2]. Óe Eo là cảng quốc tế lớn,
tiêu biểu nhất của đế chế Phù Nam. Trong khoảng hơn sáu thế kỷ, Óc Eo không chỉ là một
trung tâm văn hóa rực rỡ, là nền tảng của văn hóa Phù Nam, mà còn có nhiều ảnh hưởng đến
các nền văn hóa Đông Nam Á. Tuy nhiên, vì nhiều lí do như sự thay đổi con đường buôn bán
Đông – Tây trên biển, bị lũ lụt, bị chiến tranh tàn phá …vương quốc Phù Nam đã bị suy tàn
vào thế kỷ VII và bị Chân Lạp thôn tính. [49]
Từ thế kỷ VII - cho đến cuối thế kỷ XVII, trên danh nghĩa vùng đất đồng bằng sông
Cửu Long nói chung và Hà Tiên nói riêng thuộc Chân Lạp nhưng phụ thuộc một cách lõng
lẻo, chưa có chính quyền Chân Lạp trực tiếp cai trị. Sự không ổn trong nội bộ đất nước cũng
như nhiều nguyên nhân khách quan khiến họ không thể làm chủ vùng đất này. Đúng như ông
Pierre Dupont đã nói : “Người Camphuchia chưa bao giờ chiếm đoạt đất Nam Kỳ”. [14, tr.
31]. Thật vậy, người Khmer chiếm lấy đất của Phù Nam nhưng họ đã không hề làm chủ
được vùng đất thấp. “Đối với họ, vùng hạ lưu sông Cửu Long cận biển là một trở lực to tát,
đồng thời là sự thách đố của thiên nhiên. Chính họ đã chịu khuất phục. Suốt gần 10 thế kỷ
(từ thế kỷ VII – thế kỷ XVII), họ chẳng hề khai phá được vùng đất này, mãi cho đến khi
người Việt tràn đến” [14, tr. 31].
Đầu thế kỷ XIII, Châu Đạt Quan, một sứ giả Trung Quốc đã ghi rõ sự hoang sơ, tiêu
điều của vùng hạ lưu sông Cửu Long trong tác phẩm Chân Lạp phong thổ ký: “Gần hết cả
vùng đều là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm
dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chổ trú xum


xuê, khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu. Vào nửa đường trong sông thấy những
cách đồng hoang không có một gốc cây, xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy”. [58,
tr. 36] Trong Phủ Biên tạp lục, Lê Quý Đôn cũng viết : “Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các
cửa biển như Cần Giờ, Soài Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu đi vào, toàn là rừng rậm, rộng hơn ngàn
dặm.” [19, tr. 255].

(1) : Tập du ký này được công bố năm 1794.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status