Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Ứng dụng hàm Block trong nghiên cứu một số tính chất của vật liệu cấu trúc perovskite - Pdf 59

MỞ ĐẦU
Vật liệu Perovskite là một trong những vật liệu hiện nay đang được các  
nhà vật lý trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang rất quan tâm cùng với những 
tính chất vô cùng quý báu của nó. Đặc biệt là việc khám phá ra hiệu ứng từ trở 
khổng lồ trong các hợp chất manganite đã mở ra một hướng nghiên cứu mới rất  
thú vị  [2]. Những hợp chất này xuất hiện nhiệt độ  chuyển pha kim loại ­ điện 
môi/bán dẫn  TP và nhiệt độ chuyển pha sắt từ ­ thuận từ Tc (Tc > TP). Đặc tính 
cơ  bản của vật liệu này là từ  trở  của mẫu (CMR) lớn khi  ở  gần nhiệt độ  T P. 
Năm 1951 Zener đã sử dụng mô hình tương tác trao đổi kép DE để giải thích về 
hiệu ứng từ trở khổng lồ (CMR). Trong mô hình này, độ dẫn được thiết lập cho  
các điện tử  linh động (d) nhảy từ  trạng thái e g của ion Mn3+ sang trạng thái eg 
của ion Mn4+. Đồng thời các điện tử  này tương tác trao đổi mạnh với các điện  
tử định xứ nằm trên quỹ đạo t2g hình thành nên trật tự sắt từ. Tuy nhiên để giải  
thích rõ ràng, đầy đủ hiệu ứng CMR trong các Managanite thì chỉ có mô hình DE  
là chưa đủ. Để  hiểu thêm về  hiệu  ứng này nhiều tác giả  cho rằng sự  tương  
quan điện tử  ­ phonon, méo mạng Jahn ­ Teller, hiệu  ứng polaron cũng  ảnh 
hưởng rõ rệt đến tính chất của các vật liệu Perovskite manganite. 
Nghiên cứu sự  ảnh hưởng của việc thay thế các nguyên tố  đất hiếm (R) 
trong manganite (ABO3)  là một trong những đề  tài nghiên cứu hấp dẫn. Vì Mn  
tác động trực tiếp tới tương tác trao đổi và sự ảnh hưởng của việc thay thế Mn  
cho những nguyên tố  khác là đáng kể. Đặc biệt khi chúng ta thay thế  trực tiếp  
các nguyên tố  kim loại chuyển tiếp như  Fe, Co, Ni… cho Mn trong hợp ch ất  
La2/3Ca1/3MnO3  thì sự thay thế đó gây ảnh hưởng rõ rệt tới các tính chất điện và 
từ của vật liệu. Khi pha tạp 5% nguyên tố kim loại chuyển tiếp sạch vào vị  trí  
Mn một số tác giả  đã tìm thấy sự  tương quan trong số các cực đại của đường  
cong từ trở MR, các thông số mạng và bán kính ion của các nguyên tố thay thế. 
Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác cho thấy rằng: việc thay  

8



Chương3:   Trình   bày   các   kết   quả   nghiên   cứu   được   trên   các   hợp   chất 
La2/3Ca1/3Mn1­x(TM)xO3­   (TM = Zn và Cu; x=0,00 và x=0,10).
Kết luận.
Tài liệu tham khảo.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VẬT LIỆU PEROVSKITE LaMnO3
1.1. Cấu trúc lý tưởng của vật liệu perovskite manganite LaMnO3.
Các manganite pha tạp được nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống bởi G. H. 
Jonker và J. H. Van Santen vào năm 1950. Năm 1964, H.D. Megaw đã phát hiện ra 
một cấu trúc tinh thể  đặc biệt của khóang chất CaTiO 3, ông gọi là cấu trúc 
Perovskite.   Thuật   ngữ   này   ngày   nay   được   sử   dụng   chung   cho   các   vật   liệu 
Perovskite và có công thức chung là ABO3  (A: đất hiếm R, B kim loại chuyển 
tiếp). Cấu trúc  Perovskite lý  tưởng của LaMnO3  thuộc cấu trúc Perovskite lý 
tưởng ABO3 được mô tả bởi hình 1.1(a). 

Hình 1.1a. Cấu trúc Perovskite lý tưởng ABO3

10


Hình 1.1b. Cấu trúc Perovskite lý tưởng ABO3 khi tịnh tiến đi 1/2 ô mạng cở sở
Các nhà nghiên cứu cho rằng ở trạng thái cơ bản LaMnO3 là một chất cách 
điện phản sắt từ với cấu trúc trực thoi. Nhận thấy rằng, mỗi ô mạng cơ sở hay 
còn gọi là ô cơ bản là một hình lập phương với các hằng số  mạng a = b = c và  
góc  α = β = γ = 900 . Các cation La ở vị trí A là tám đỉnh của hình lập phương, tâm  
của các mặt hình lập phương là vị  trí của các anion ôxy (ion ligan). Cation Mn  
nằm ở vị trí B là tâm của hình lập phương. Như vậy có 8 cation La (A) và 6 anion 
oxy sắp xếp lý tưởng xung quanh mỗi cation Mn (B), quanh mỗi cation La có 12  
anion oxy phối vị.
Một trong những đặc trưng tinh thể  quan trọng của hợp chất Perovskite  

perovskite nhận thấy có 6 ion O2­ mang điện tích âm ở đỉnh của bát điện và một  
ion kim loại chuyển tiếp Mn3+ mang điện dương ở tâm của bát điện. Lý thuyết 
trường tinh thể coi liên kết giữa ion trung tâm mang điện tích dương với các ion  
oxy mang điện tích âm chỉ  là tương tác tĩnh điện (tương tác Culomb). Trường 
tĩnh điện tạo bởi các ion oxy nằm  ở  đỉnh bát diện như  hình 1.1b được gọi là  
trường tinh thể bát diện (octahedra field).
1.3. Sự tách mức năng lượng trong trường bát diện.

 

Đối với một nguyên tử  tự  do, các quỹ  đạo có cùng số  lượng tử  n là suy 
biến và có cùng một mức năng lượng. Tuy nhiên với hợp chất Perovskite dưới  
tác dụng của trường tinh thể  bát điện, các quỹ  đạo d của các ion kim loại  
chuyển tiếp được tách ra  ở  những mức năng lượng khác nhau. Lớp vỏ  điện tử 
3d của nguyên tử  kim loại chuyển tiếp Mn có số  lượng tử  quỹ  đạo l =2, số 

12


lượng tử  từ  m = 0,   1, 2 tức là có 5 hàm sóng quỹ  đạo (5 orbital). Các quỹ 
đạo này ký hiệu là dxy, dyz, dxz, dz2, dx2­y2. Do tính đối xứng của trường tinh thể, 
các điện tử trên các quỹ đạo dxy, dyz, dxz chịu cùng một lực đẩy của các ion âm 
như  nhau nên có năng lượng như  nhau, còn các điện tử  trên các quỹ  đạo dz2 và 
dx2­y2 chịu cùng một lực đẩy nên cũng có cùng một mức năng lượng (hình 1.2)
Hình 1.2 mô tả sự tách mức năng lượng trong trường bát diện MnO 6 của 
các điện tử 3d.

Hình 1.2. Sự tách mức năng lượng các quỹ đạo điện tử của các điện tử 3d trong 
trường bát diện.
Như  vậy trong trường tinh thể  bát điện, các quỹ  đạo d của các ion kim 

(1.1)

              Hoặc
MR =

∆ρ
ρ ( H ) − ρ ( H = 0)
R( H ) − R( H = 0)
100% =
100% =
100%
ρ ( H = 0)
ρ ( H = 0)
R( H = 0)

(1.2)

Với  ρ ( H = 0)  là điện trở suất của vật liệu khi không có từ  trường và  ρ ( H )  là 
điện trở suất của vật liệu khi có từ trường H. Vì có khả năng xảy ra hiệu ứng từ 
giảo làm biến đổi hình dạng của mẫu dưới tác dụng của từ trường nên người ta 
thường đo điện trở của mẫu khi có và không có từ trường mà không đo điện trở 
suất của mẫu. Phương pháp bốn mũi dò là phương pháp phổ  biến nhất được 
dùng để đo từ trở của vật liệu. 
Trong các vật liệu perovskite giá trị  tử trở (MR) có thể dương hay âm: sử 
dụng công thức (1.1) ta sẽ  nhận được giá trị  MR là dương, sử  dụng công thức  
(1.2)  ta sẽ nhận được giá trị MR là âm. 
Hiệu  ứng từ  trở  khổng lồ  (CMR) là kết quả  của quá trình giảm mạnh 
điện trở do sự tán xạ electron khi các spin sắp xếp không phải là sắt từ trong từ 
trường H=0. Các nghiên cứu cho thấy vật liệu perovskite loại managnite thể hiện  
rất rõ hiệu ứng từ trở khổng lồ.

Trường hợp liên kết giữa các lớp là liên kết sắt từ.

15


Hình 1.3 chỉ  ra quá trình chuyển rời của các điện tử  có spin up( ) và spin 
down( ) qua các lớp từ  có phương từ  độ  khác nhau. Spin của một điện tử  sẽ 
không bị thay đổi khi đi từ một lớp từ này đến một lớp từ tiếp theo hay nói cách 
khác là điện tử bảo toàn spin. Xác suất tán xạ phụ thuộc vào chiều spin của điện  
tử  dẫn so với phương từ  độ  của mẫu. Các điện tử  có spin phản song song với  
phương của từ  độ  sẽ   bị  tán xạ  nhiều hơn so với các  điện tử  có spin song song 
với 

 

 

 

 



 

 

 

 

điện tử  dẫn đều bị  tán xạ  như  nhau và điện trở  suất  ứng với hai kênh là như 
nhau (hình 1.4a).
Xét trường hợp có từ  trường ngoài đủ  lớn, từ  độ  của các lớp từ  sắp xếp 
song song với nhau (liên kết FM) thì chỉ kênh điện tử có spin ngược chiều với từ 
độ là bị tán xạ mạnh, kênh còn lại có spin cùng chiều với từ độ nên chúng được 
truyền qua dễ dàng, điện trở suất của kênh này nhỏ hơn (hình 1.4b).
1.5:  Hiện   tượng   méo   mạng   trong   Perovskite   manganite ­Hiệu   ứng   Jahn­
Teller.
Cấu trúc tinh thể  của các manganite thường bị  méo dạng so với cấu trúc 
perovskite. Méo mạng manganite có thể được chia ra làm hai loại: Do các ion Mn 
không tương  ứng với lỗ  trống trong cấu trúc và cấu trúc bền vững tăng lên khi  
khoảng cách giữa các nguyên tử  giảm. Sự  tách mức trường tinh thể  giữa hai  
trạng thái t2g và eg , các điện tử có thể chọn việc chiếm giữ các mức năng lượng  
khác nhau t2g hay eg điều này sẽ dẫn tới hiệu  ứng méo mạng Jahn – Teller. Theo  
lý thuyết Jahn – Teller, một phần tử  có tính đối xứng cấu trúc cao với các quỹ 
đạo điện tử suy biến sẽ phải biến dạng để loại bỏ suy biến, giảm tính đối xứng 
và giảm năng lượng tự do.
Dưới tác dụng của trường tinh thể  bát diện, các quỹ  đạo 3d của các ion  
kim loại chuyển tiếp cụ thể là các manganite được tách ra thành những mức năng  
lượng khác nhau. Hình 1.5 cho thấy trên mức năng lượng cao eg có 2 quỹ đạo là 
dz2,  dx2­y2 

eg

17
Hình 1.5. Hình dạng của các hàm sóng eg: (a) , (b) [7]


 



2

y2

1
vµ d x

2

y2

d z02 .

1
0
Theo cách sắp xếp thứ nhất ( d z d x
2

2

y2

) ta có méo mạng Jahn – Teller  kiểu 

I. Theo cách sắp xếp này thì lực hút tĩnh điện giữa ion oxy với ion Mn 3+ theo trục 
z sẽ yếu hơn so với trên mặt phẳng xy, điều này sẽ dẫn đến độ dài các liên kết  
Mn – O không còn đồng nhất như trong trường hợp Perovskite  lý tưởng: sẽ có 4 
liên kết Mn – O ngắn trên mặt xy và 2 liên kết Mn – O dài hơn dọc theo trục z . 
1


(1.6)

Trong đó: rA, rB, rO lần lượt là bán kính của các ion ở các vị trí A, B, O.

19


Thời gian gần đây để đánh giá chính xác hơn người ta đưa ra công thức:
d A −0
                      (1.7)
2.d B −0

t, =

Trong đó, dA­0 và dB­ 0 lần lượt là khoảng cách từ vị trí A và B đến ion oxy.
Đối với cấu trúc Perovskite lập phương lý tưởng thì t=1. Các góc liên kết 
Mn–O–Mn giảm khi giảm t và giảm đối xứng mạng. Cấu trúc Perovskite được 
coi là ổn định khi 0,89
trao đổi” kí hiệu là SE được Kramers và Anderson đưa ra năm 1955. Hàm 
Hamiltonnian:
� �

H =−
i, j



J i , j . Si S j

(1.8)



Với  Si , S j  là các spin định xứ tại vị trí i, j còn  J ij là tích phân trao đổi giữa 
các spin này. Nếu  J ij  > 0 ta có cấu trúc sắt từ, ngược lại nếu J ij
với qũy  đạo p của ion O2­. Như  vậy tương tác SE không chỉ  phụ  thuộc vào độ 
dài và góc liên kết Mn­O­Mn mà còn phụ thuộc vào cấu hình spin của ion Mn có 
nghĩa là tương tác phụ thuộc vào số điện tử  trên các eg và teg được lấp đầy hoàn 
toàn  (

) , lấp đầy một nửa  (

)  hoặc trống.

1.6.2. Tương tác trao đổi kép (double exchange – DE).
Các hợp chất perovskite RMnO3  , khi thay thế  một phần đất hiếm (R) 
bằng các kim loại kiềm thổ có hóa trị  2+, trong các hợp chất R1­xAXO3. Do có sự 
trung hòa về điện tích nên một số các ion Mn3+ chuyển thành ion Mn4+ hợp chất 
lúc này tồn tại đồng thời cả  ion Mn3+ và ion Mn4+ người ta gọi hợp chất lúc này 
là hợp chất hỗn hợp hóa trị.

22


 Sự truyền đồng thời điện tử từ một ion kim loại tới ion oxy và một điện 
tử từ ion oxy sang một ion kim loại lân cận gọi là trao đổi kép và tương tác giữa 
hai ion như vậy gọi là  “tương tác trao đổi kép”.

Hình 1.9. Mô hình cơ chế tương tác trao đổi kép của chuỗi 
Mn3+ O2­ Mn4+ Mn3+ O2­  Mn4+ .

Hình 1.9 trình bày về cơ chế trao đổi kép DE của các ion Mn, hai trạng thái 
Mn3+ ­ O2­ ­ Mn4+ và Mn3+ ­ O2­ ­ Mn3+ là hai trạng thái suy biến cấu hình tương tác  
nếu các spin của các ion này song song. Khi đó điện tử  eg của Mn3+ có thể nhảy 
sang quỹ  đạo p của oxy đồng thời một điện tử  trong quỹ  đạo p của oxy nhảy 

thì s ự  truy ề n đi ệ n t ử  này đ ượ c  ư u tiên theo ph ươ ng c ủ a điệ n trườ ng và do 
v ậ y t ạ o thành dòng đi ệ n.
 Quá trình truy ề n đi ệ n t ử  trong t ươ ng tác SE ch ỉ  là  ả o, quá trình trao 
đ ổ i th ự c ch ấ t là s ự  lai hóa giữ a các qu ỹ  đạ o và các đi ệ n tử  vẫ n đị nh xứ 
trên các qu ỹ  đ ạ o. Còn t ươ ng tác trao đ ổ i kép lạ i có s ự  truy ề n th ự c s ự  các 
đi ệ n t ử  t ừ  qu ỹ  đ ạ o e g   c ủ a ion kim lo ại này sang qu ỹ  đ ạ o e g   c ủ a ion kim 
lo ạ i lân c ậ n. Vì v ậ y t ươ ng tác trao đổ i kép có liên quan tr ự c ti ếp t ới tính  
ch ấ t d ẫ n c ủ a v ậ t li ệu mà c ụ  th ể  là làm tăng tính d ẫ n c ủ a vậ t li ệ u. T ươ ng  
tác SE có th ể  là s ắ t t ừ  ho ặ c ph ả n s ắ t t ừ  nh ư ng t ươ ng tác DE ch ỉ  có th ể  là 
s ắ t t ừ . 

24


Ngoài ra mô hình DE còn đ ượ c coi là mô hình c ơ  b ả n nh ấ t cho vi ệc  
gi ả i thích các tính ch ấ t đi ệ n t ừ  c ủ a v ậ t li ệ u. Đó là c ơ  s ở  để  giả i thích các  
tính ch ấ t t ừ  và tính ch ấ t d ẫ n c ủa v ậ t li ệu Perovskite sau này.
1.7. Tìm hiểu giản đồ pha của hợp chất  La1− x Cax MnO3  .
Trật tự điện tích là hiện tượng quan sát được ở chất rắn, trong đó các điện 
tử định xứ trên các cantion nằm trên các nút mạng 
Sự pha tạp lỗ trống ảnh hưởng đến tính chất của hợp chất LaMnO 3 được 
tìm hiểu và phân tích thông qua giản đồ  pha của hợp chất La1­xCaxMnO3. Hợp 
chất manganite La1­xCaxMnO3 được coi như tổ hợp của thể rắn giữa hai hợp chất  
LaMnO3 và AMnO3, tương ứng với x = 0 và x = 1. 
Những nghiên cứu của Jonker và Santen (1950) [20] đã chỉ  ra rằng. Oxy  
tồn tại trong hợp chất này với hóa trị (­2) và nó không ảnh hưởng bởi các nguyên  
tử A và giá trị x. Vì vậy, hóa trị của hợp chất La 1­xCaxMnO3 khi x = 0 là La3+Mn3+
O32− . Trong hợp thức trên, khi các ion La3+ được pha tạp bởi các ion Ca2+ thì một 

phần ion Mn3+ chuyển thành Mn4+ để đảm bảo cân bằng điện tích. Nồng độ  ion 

thái trật tự điện tích dần dần hình thành dẫn đến sự xuất hiện của cấu trúc phản 
sắt từ thay thế cấu trúc sắt từ.
Khi 0,2 
của mẫu 

T(K)

La2/3CaxMnO3 

(x=0,33).
Hình 12 biểu diễn sự giãn nở nhiệt của mẫu La2/3CaxMnO3 (x=0,33) tại từ 
trường H=0T và H=12T. Sự đóng góp của mạng tinh thể cho giãn nở nhiệt được  
tính toán và sử dụng bởi quy luật Gruneisen cùng với  θ D = 500 K . Một đóng góp 

28


khác ngoài các dự đoán lí thuyết thu được trong chất thuận từ đó là dưới nhiệt độ 
này giãn nở nhiệt cho phép tính toán cả sự đóng góp của mạng tinh thể. Ibarra đã 
làm sáng tỏ hơn sự đóng góp của từ trường dưới tác dụng của một từ trường 12T 
sự giãn nở nhiệt giống như trong chất sắt từ với sự đóng góp của mạng tinh thể.
Ρ(Ωc
m)

T(K)

Hình 13. Sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ ở những từ trường khác 
nhau của mẫu La2/3CaxMnO3 (x=0,28).
Một khía cạnh quan trọng về sự thay đổi từ tính của các hợp chất trong tự 
nhiên được tìm thấy trong chất sắt từ. Hình 13 là kết quả  tìm thấy trong mẫu  
La2/3CaxMnO3 (x=0,28), về sự phụ  thuộc vào nhiệt độ  có tầm quan trọng, có thể 
thay đổi từ mẫu này sang mẫu khác, Mahesh và Gupta đã tìm ra mối quan hệ mật  
thiết giữa điện trở  suất và cấu trúc vi mô. Điện trở  suất tăng lên vì kích thước 

vector sóng. Từ độ phụ thuộc vào nhiệt độ được xác định bởi sự kích thích sóng  
spin. Moment từ giảm khi nhiệt độ tăng và tiến tới không ở gần nhiệt độ TC. Khi 
nhiệt độ T 
Trong đó  γ p  là hệ  số  liên hệ  với nhiệt độ  chuyển pha TC theo công thức 
sau: 

TC =

µ H γ p .M s ( J + 1)

(1.15)

3kJ

Khi momen qũy đạo triệt tiêu bởi từ  trường tinh thể  thì ta có J = S. Từ 
phương trình (1.14) và (1.15) ta có: 
J ex =

3kTC
2 z.S ( S +1)

(1.16)

Theo Kramers và Anderson [6] thì tùy thuộc vào dấu của tích phân trao đổi 
Jex sẽ có cấu trúc sắt từ hay phản sắt từ: 
Nếu Jex > 0: Ta có cấu trúc từ sắt .

31


Nếu Jex 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status