MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Tên
viết tắt
1
ALL
Bệnh bạch cầu cấp dòng
lympho
Acute lymphoblastic
leukemia
2
AML
Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy
Acute myeloid leukemia
3
BCC
Bạch cầu cấp
Hội các nhà huyết học Pháp
Mỹ Anh
French American British
8
HHTB
Nhuộm Hóa học tế bào
Cytochemistry
9
HLA DR
Kháng nguyên bạch cầu người
Human Leukocyte antigen
10
LA
Bệnh bạch cầu cấp
Acute leukemia
Homogenous lager blast type
14
M0
Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy
biệt hóa tối thiếu
Minimally differentiated
acute myeloid
15
M1
Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy
không có tế bào trưởng thành
Acute myeloblastic leukemia,
without maturation
16
M2
Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy
có tế bào trưởng thành
Acute myeloblastic leukemia,
M6
Bệnh bạch cầu cấp dòng
hồng cầu
Acute erythroid leukemia
21
M7
Bệnh bạch cầu cấp dòng Acute megakaryoblastic
tiểu cầu
leukemia
22
NE
Esteraza không đặc hiệu
Nonspecific esterase
Esteraza không đặc hiệu ức
chế bằng NaF
Nonspecific esteraza NaF
inhibitor
Sudan đen
Sudan black
29
SLTBT
Số lượng tế bào tủy
The number of myeloid cells
30
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
World Heath Organization
23
NE NaF
24
PA
25
giá thành cao và có những nhược điểm: kỹ thuật nhuộm nằm nên có nhiều cặn,
quy trình nhuộm khác nhau về thời gian, số bước nhuộm, hóa chất cố định khác
nhau, bước tẩy màu của kỹ thuật nhuộm Sudan và Periodic Acid Schiff khó
đồng nhất, nhuộm nền thiếu tương phản, chất màu dễ hòa tan trong dầu soi kính
nên khó hội chẩn tiêu bản nhiều lần. Tại Việt Nam, các thuốc thử hầu hết là tự
6
pha kết hợp với các yếu điểm trên nên độ nhạy, độ đặc hiệu còn thấp. Theo
Trần Ngọc Vũ và cộng sự (2014) tỷ lệ phù hợp chẩn đoán giữa hình thái họchóa
học tế bào và miễn dịch là 89,1%, giá trị dự báo đối với bệnh bạch cầu cấp dòng
lympho là 88,88% và độ đặc hiệu là 73,77% [25]. Theo tác giả Nguyễn Hữu Toàn
thì việc phân loại dòng tế bào theo tiêu chuẩn FAB dựa trên phương pháp nhuộm
hóa học vẫn cần phải có sự điều chỉnh tới 29,7% nhờ vào kỹ thuật miễn dịch và
di truyền [19]. Hiên nay, tác gi
̣
ả Trần Văn Tính, Trung tâm Huyết học Truyền
máu, Bộ Công an đã nghiên cứu và chế tạo thành công kít nhuộm hóa học tế bào
đồng bộ HICYTEC gồm 10 kỹ thuật: Giemsa, PeriodicAxit Schiff (PAS),
Peroxidaza, Sudan B, Esteraza đặc hiệu, Esteraza không đặc hiệu, Esteraza không
đặc hiệu ức chế bằng NaF, Photphataza kiềm, Photphataza axit, Perls. Bộ kít đã
cơ bản khắc phục được các yếu điểm ở trên . Nhằm đánh giá giá trị sử dụng của
bộ kít, tiến tới có thể thay thế hàng nhập ngoại, đề tài “Ứng dụng bộ kít nhuộm
hóa học tế bào để phân loại bệnh bạch cầu cấp theo tiêu chuẩn FAB” là đề tài
có ý nghĩa khoa học, thực tiễn, kinh tế xã hội cấp thiết.
Mục tiêu của đề tài là: Đánh giá sự phù hợp của bộ kít nhuộm hóa học tế
bào trong phân loại dòng tế bào so với phương pháp hình thái học, miễn dịch học
và di truyền trên những bệnh nhân bạch cầu cấp đã được chẩn đoán thể bệnh
theo tiêu chuẩn FAB (1986).
ra từ tế bào gốc vạn năng. Quá trình biệt hóa qua nhiều giai đoạn và tùy theo sự
kích thích đặc hiệu mà tế bào gốc vạn năng biệt hóa để tạo thành những tế bào
có chức năng cần thiết [11]. Ba kích thích tố chính tạo máu gồm: Erythropoietin
tạo hồng cầu, thrombopoietin tạo tiểu cầu và colonystimulating factors cùng với
interleukin (IL) kích thích tạo bạch cầu. Quá trình sinh máu được điều hòa bởi
yếu tố di truyền đặc biệt là các tế bào bị chết theo chương trình [13].
1.2. Bệnh bạch cầu cấp
1.2.1. Khái niệm chung
Bệnh bạch cầu cấp là tình trạng bệnh lý cấp tính của tế bào sinh máu với
đặc điểm chính là tăng số lượng bạch cầu bất thường ở cả trong tủy xương và ở
ngoài máu ngoại vi, tủy xương có trên 30% tế bào non (blast) trong tổng số tế
bào có nhân, phá hủy quá trình sinh máu bình thường trong tủy và xâm nhiễm vào
các cơ quan [12].
1.2.2. Dịch tễ học
Theo công bố của Rebecca Siegel MPH và cộng sự (2015) trong năm 2014,
ở Mỹ ghi nhận 6.250 ca mắc mới bệnh bạch cầu cấp dòng lympho. Tỷ lệ
9
nam (3.100) và nữ (3.150) gần bằng nhau, số tử vong gây ra bởi bệnh này
là 1.450 người [52];
Tại Mỹ, hàng năm xuất hiện mới khoảng 2,2 trường hợp bạch cầu cấp
dòng tủy trên 100.000 dân và có khoảng 3.000 trường hợp bạch cầu cấp
dòng lympho mới trên toàn quốc [44];
Tại Việt Nam, tuy chưa có nghiên cứu nào tiến hành đầy đủ về dịch tễ
học của bệnh bạch cầu cấp trên toàn quốc nhưng theo tổng kết tại Viện
Huyết họcTruyền máu, Bệnh viện Bạch Mai thì thấy bệnh bạch cầu cấp
gặp tỷ lệ cao nhất (32.1%) trong số các bệnh máu đến khám và điều trị tại
Bệnh viện Bạch Mai [7].
Bang 1..
̉
Biến đổi di truyền và tiên lượng trong bạch cầu cấp dòng lympho.
Tiên lượng
Tốt
Loại bất thường
Trên lưỡng bội: >50 NST; Chuyển đoạn t(12;21)
Trung bình
Trên lưỡng bội từ 4750 NST; 46XX/XY (bộ NST bình
thường); Chuyển đoạn t(1;19)
Xấu
Thiểu bội, mất NST; Chuyển đoạn t(9;22); Chuyển đoạn
t(11q23), t(4;11); Chuyển đoạn t(5;14).
1.2.5. Phân loại
Xếp loại bạch cầu cấp dòng tủy: Trong Bảng xếp loại bạch cầu cấp
dòng tủy theo FAB 1976. Bạch cầu cấp dòng tủy được chia làm các thể từ
M1 đến M7:
Thể M1: lơ xê mi cấp nguyên tủy bào kém biệt hóa;
Thể M2: lơ xê mi cấp nguyên tủy bào biệt hóa;
Thể M3: lơ xê mi cấp tiền tủy bào tăng hạt đặc hiệu và chia làm 2 nhóm:
M3h: chứa các hạt đặc hiệu lớn;
M3v: chứa các hạt đặc hiệu nhỏ.
Thể M4: lơ xê mi cấp hỗn hợp chia làm 2 nhóm:
M4: lơ xê mi cấp tủy mono;
Nho, đêu
̉ ̀
Lơn, không đêu
́
̀
Lơn, đêu
́
̀
Chât nhiêm săc
́
̃
́
Đông nhât, min
̀
́
̣
Không đông nhât
̀
́
Min va đông nhât
̣
̀ ̀
́
Môt hay nhiêu hat
̣
̀ ̣ Môt hay nhiêu hat
̣
̀ ̣
nhỏ
nhân to
nhân hinh tui
̀
́
Nhân/ Bao t
̀ ương
Thâṕ
Kha cao, thay đôi
́
̉
Cao
Bao t
̀ ương ưa base
Nhe, v
̣ ưa hoăc đâm
1.2.6. Đặc điểm lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng của bệnh là hậu quả của quá trình sản sinh quá nhiều
tế bào non, ác tính lấn át các tế bào máu sinh máu bình thường. Bệnh có nhiều
thể, mỗi thể có những đặc điểm riêng, các biểu hiện lâm sàng chung nhất gồm:
12
Hội chứng thiếu máu: xảy ra nhanh, nặng dần với các biểu hiện da xanh,
mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, nhịp tim nhanh. Thường không cân xứng với
tình trạng xuất huyết;
Hội chứng xuất huyết: xuất huyết tự nhiên, hay ở da niêm mạc (chấm
nột đám mảng xuất huyết, chảy máu mũi, chảy máu chân răng...) có thể ở
các tạng (xuất huyết đường tiêu hoá, tiết niệu, tử cung, não màng não...);
Hội chứng nhiễm trùng: Sốt, viêm loét miệng họng, viêm phổi, nhiễm trùng
da;
Hội chứng thâm nhiễm: Gan to, lách to, hạch to, phì đại lợi , thâm nhiễm
da, đau xương, cơ khớp...
Toàn trạng chung: mệt mỏi gầy sút, suy sụp nhanh.
1.2.7. Đặc điểm xét nghiệm
Huyết đồ:
Thiếu máu bình sắc, hồng cầu bình thường, hồng cầu lưới giảm;
Bạch cầu: số lượng bạch cầu thường tăng, nhưng có thể bình thường hoặc
giảm. Công thức bạch cầu thường gặp một tỷ lệ tế bào blast. Tuy nhiên một số
trường hợp số lượng bạch cầu giảm nặng có thể không gặp tế bào blast ở máu
ngoại vi;
Tiểu cầu: số lượng giảm.
Tuỷ đồ:
Số lượng tế bào tuỷ: thường tăng, tủy giàu tế bào. Trong một số trường hợp tủy
nghèo hoặc có mật độ bình thường;
Xét nghiệm về di truyền NST:
Xét nghiệm di truyền thường được dùng để chẩn đoán và tiên lượng
bệnh. Có một số bất thường nhiễm sắc thể phổ biến trong một số thể bạch cầu
cấp (chuyển đoạn, đảo đoạn,…), cụ thể như sau:
t(8;12) trong bạch cầu cấp M2;
14
t(15;17) trong bạch cầu cấp M3;
Inversion (inv) 16 trong bạch cầu cấp M4Eo;
t(9;22) trong bạch cầu cấp dòng lympho.
1.3. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về nhuộm hóa học tế bào
Nhuộm hóa học tế bào từ lâu đã trở thành đối tượng được các nhà khoa
học tập trung nghiên cứu phát triển các kỹ thuật nhằm phát hiện các enzym cũng
như các chất chuyển hóa có trong nội bào tế bào. Năm 1885, Ehrlich là người đầu
tiên nhuộm enzym cytochrom oxidaza trong các mô tươi bằng phản ứng "Nadi"
giữa naphtol và dimethylpphenylethylendiamine và có thể quan sát được trên
kính hiển vi. Neukirch (1910) giới thiệu kỹ thuật nhuộm phát hiện các glycogen
trong các bạch cầu trung tính bằng phẩm màu carmin theo phương pháp Best [ 31,
40]. Năm 1947, Bailllif và Kimbrough ứng dụng dùng Sudan B nhuộm hạt mỡ
bạch cầu để phân biệt dòng tuỷ và các dòng khác [31, 40]. Đầu những năm 50
của thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của các loại phẩm màu azo đã giúp các
nhà nghiên cứu đưa các tiến bộ trong ngành hóa màu vào ứng dụng nhuộm hóa
học tế bào [30, 32, 51]. Năm 1953, Gomori là người đầu tiên phát triển kỹ thuật
nhuộm esteraza đặc hiệu bạch cầu người sử dụng naphtol ASD cloaxetat làm cơ
chất [55]. Việc phối hợp với các công nghệ khác như kỹ thuật kháng thể đơn
dòng và các phương pháp phân tích dòng chảy đã cho phép tự động hóa đạt kết
quả tin cậy cao [45]. Phương pháp hình thái họcnhuộm hóa học tế bào cùng với
miễn dịch và di truyền được ứng dụng rộng rãi trong chuyên ngành Huyết học để
dòng tủy, mẫu tiểu cầu, tiểu cầu, tương bào dương tính dạng lan tỏa, còn tế bào
bạch cầu ưa axit, bazơ và dòng hồng cầu thì gần như âm tính. Những tính chất
khác nhau đó là cơ sở của kỹ thuật nhuộm hóa học bạch cầu để phân biệt các
dòng tế bào và xếp loai th
̣
ể bệnh bạch cầu cấp theo tiêu chuẩn FAB [27, 28].
1.3.2. Kỹ thuật nhuộm peroxidaza (PER)
Cơ chế của phản ứng nhuộm peroxidaza đi qua hai giai đoạn thể hiện trên
hình 1.3 và 1.4 [29, 46]:
H2 O2
H2O + O:
Hình 1.3. H2O2 bị khử do xúc tác của peroxidaza tạo oxi nguyên tử
Benzidin
16
Diimin diphenyl
Hình 1.4. Oxi nguyên tử ôxi hóa benzidin thành diimin diphenyl.
Dưới xúc tác của peroxidaza là một enzym oxi hóa khử, nước ôxi già bị
khử thành nước và oxi nguyên tử, oxi nguyên tử có tính oxi hóa mạnh đã oxi hóa
benzidin thành 2diimin diphenyl có màu vàng nâu. Nếu trên nguyên sinh chất của
tế bào có màu vàng nâu chứng tỏ có mặt của peroxidaza.
Peroxidaza dương tính đối với các tế bào dòng tủy, dương tính nhẹ với
dòng mono; âm tính với dòng lymphoxít, dòng hồng cầu và tiểu cầu.
1.3.3. Kỹ thuật nhuộm sudan B
azo theo hình 1.6
Hình 1.6. Naphtol tác dụng với muối điazo thành phẩm màu azo
Cơ chất nhuộm esteraza đặc hiệu gồm nhiều loại: naphtol ASD cloaxetat,
Naphtol ASOL 2clopropionat... Trong giai đoạn 1, phân tử cơ chất dưới xúc tác
của enzym tạo thành napthol theo cơ chế của hình 1. 5 và 1.6. Giai đoạn 2 là giai
đoạn ghép đôi giữa naphtol và muối điazo. Về mặt bản chất đây là phản ứng thế
electrophin của nhóm azo cho nguyên tử proton ở nguyên tử cacbon C 4 trên vòng
naphtol. Tùy theo loại muối điazo mà phẩm màu azo có màu đỏ hoặc màu đen.
Nếu xuất hiện màu trên nguyên sinh chất của tế bào có nghĩa là có esteraza. Tốc
độ của quá trình nhuộm màu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nồng độ cơ chất,
muối điazo, thành phần dung môi, nhiệt độ và pH môi trường... các hóa chất sử
dụng luôn đòi hỏi độ tinh khiết cao, giá thành đắt [3, 14, 40, 47, 55].
18
b) Kỹ thuật nhuộm esteraza không đặc hiệu ức chế và không ức chế bằng
NaF
Nhuộm phát hiện esteraza không đặc hiệu bạch cầu người lần đầu tiên
được công bố vào năm 1959 bởi Braunstein. Esteraza không đặc hiệu dương tính
trong tất cả các dòng tế bào máu vì thế nên được gọi là không đặc hiệu. Cơ chế
phản ứng thủy phân dựa trên cơ chế hình thành phẩm màu azo giống như nhuộm
esteraza đặc hiệu (hình 1.4, 1.5 và 1.6). Cơ chất thường sử dụng là naphtol AS
axetat, naphtyl axetat, naphtyl butyrat và naphtol ASD axetat. Chất ghép đôi
thường sử dụng là muối điazo và tùy theo loại muối điazo mà phẩm màu azo có
phổ màu khác nhau từ đen đến đỏ. Các cơ chất cua
̉ naphtyl axetat, naphtyl
butyrat thường cho phản ứng dương tính mạnh đối với dòng mono, dòng tiểu
cầu; các dòng khác lên màu dưới dạng hạt và yếu. Riêng tế bào lymphoxít B cho
kết quả âm tính. Đối với cơ chất naphtol ASD axetat và naphtol AS Axetat thì
Giai đoạn 2: Naphtol tác dụng với muối điazo tạo thành chất màu azo theo
hình 1.6 như ở phần nhuộm esteraza.
Photphataza kiềm bạch cầu dương tính đối với dòng tủy từ hậu tủy bào
đến bạch cầu hạt. Tế bào càng trưởng thành thì mức độ dương tính càng mạnh.
Ngoài ra các tế bào tạo cốt bào cũng cho phản ứng dương tính trong kỹ thuật
nhuộm này. Trong bệnh bạch cầu kinh, hoạt tính của photphataza kiềm bạch cầu
giảm trong bệnh thiếu máu do tan máu; hoạt tính của photphataza kiềm bạch cầu
tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp, lách to sinh tủy, phản ứng giả bạch cầu
[3, 25, 30, 40, 43].
Photphataza axit dương tính mạnh trong bệnh bạch cầu cấp dòng lympho
loại tế bào B, tế bào liên võng, hủy cốt bào và các nguyên mẫu tiểu cầu. Dòng
hồng cầu, mono, lympho (trừ bệnh bạch cầu tế bào tóc tế bào B hay còn gọi là
Hairy cell) và dòng tủy từ nguyên tủy bào đến tiền tủy bào cho kết quả âm tính
[40, 56].
1.4. Ứng dụng phương pháp nhuộm hóa học tế bào trong y học
Nhuộm hóa học tế bào được ứng dụng rộng rãi trong y học, nghiên cứu sinh học
và đặc biệt trong chuyên ngành Huyết họcTruyền máu. Trong bệnh bạch cầu
cấp, kết quả của phương pháp hình thái họcnhuộm hóa học tế bào, phương
pháp marker và di truyền là tiêu chuẩn để phân loại dòng tế bào bệnh bạch cầu
20
cấp cũng như thể bệnh. Việc xác định chính xác thể bệnh quyết định việc dùng
thuốc điều trị đặc biệt là các thuốc nhắm đích. Trong bệnh bạch cầu kinh,
nhuộm photphataza kiềm thường bị giảm điểm nhuộm và có giá trị phân biệt với
các bệnh nhiễm trùng, tăng bạch cầu đơn nhân... Năm 1976, Hội các nhà huyết
học PhápAnhMỹ đã sử dụng kết quả của các phương pháp: hình thái học
nhuộm hoá học tế bào làm cơ sở để phân loại thể bệnh trong bệnh bạch cầu
cấp. Trong đó nhuộm hóa học tế bào dựa trên các kỹ thuật: periodic axit schiff,
nguyên hồng cầu;
2) ≥30% tế bào có nhân
trong tủy là tế bào blast
loại I:
Hầu hết là tế bào
nhỏ;
Nhân mịn, đồng nhất,
23
hình thoi dẹt;
Marker CD
PAS 1) 1CD (+): TdT; CD (): Smlg;
dương tính 2) Early Pre B: (+): CD10, HLA
hạt to trên
DR; (/+): CD19; (): CD3,5,
một số
Cylg.
lymphoblast
trong 80%
trường hợp;
2)
Peroxid
bào
Marker CD
1)
Thể
Hình thái họcsố lượng
Hóa học tế
tế bào tủy
bào
1)
v), t(8;14) (q24;q11),
4) (): CD3,5.
t(10;14)(q24;q11), t(11;14)
5) Pre T: (+): CD5; ():
(p13;q11q13), inv(14)
(q11;q32).