Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Sử dụng các phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước cho một số sông thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Cái Anh Tú

SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN 
CHẤT LƯỢNG NƯỚC  CHO MỘT SỐ SÔNG 
THUỘC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ, SÔNG ĐÁY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
 

Cái Anh Tú

SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN 
CHẤT LƯỢNG NƯỚC  CHO MỘT SỐ SÔNG 
THUỘC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ, SÔNG ĐÁY

                    Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
                    Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG 

                                                                   NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
                                                                            

này đã được cảm  ơn và thông trích dẫn trong luận văn đều được chỉ  rõ 
nguồn gốc

                                     Hà Nội, ngày    tháng 12 năm 2013
                                                          Người thực hiện luận văn

                                                                                          Cái Anh Tú

4


MỤC LỤC

1 ­ 2
1
1
1

MỞ ĐẦU
Mục tiêu nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.Một số đặc điểm chính về  điều kiện tự nhiên, kinh tế  ­ xã hội  

3 ­ 7

tại lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy
1.2.Một số nghiên cứu chính đã thực hiện về chất lượng nước sông 


thông qua số  lần thông số  môi trường quan trắc đạt và không đat  
QCVN 
3.2.2. Phương pháp 2 – Đánh giá chất lượng nước thông qua việc 
tính toán chỉ số ô nhiễm tổng IB1 
3.2.3. Phương pháp 3 – Đánh giá chất lượng nước thông qua việc 
tính toán chỉ số WQI 

48
52

5


A) Kịch bản 1: Tính WQI không có trọng số
B) Kịch bản 2: Tính WQI có trọng số 
Trường hợp 1: Chỉ số WQI có trọng số riêng cho sông Đáy 

53 – 58
58 
60

Trường hợp 2: Chỉ số WQI có trọng số riêng cho sông Nhuệ

64

Trường hợp 3 ­ Trọng số chung cho cả lưu vực Nhuệ­Đáy

65

3.2.4. Phương pháp 4 – Đánh giá chất lượng nước thông qua việc 

85
86 ­ 88
           89 ­ 100

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

WQI

:

Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index)

6


QCVN
TCVN
UBND
TNMT
CLN
CTCP
CLN
BTNMT
BOD
COD
DO
QLMT
KTXH
PP
TCMT

Lượng oxy hoà tan (Dissolvel Oxygen)
Quản lý môi trường
Kinh tế xã hội
Phương pháp
Tổng Cục môi trường
Sử  dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt và các 

:

mục đích khác như loại A2, B1 và B2.
Dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng phải áp 
dụng công nghệ xử lý phù hợp; bảo tồn động vật thủy 

B1

:

sinh, hoặc các mục đích sử dụng như loại B1 và B2
Dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục 
đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương  

B2

tự hoặc các mục đích sử dụng như loại B2
Giao  thông thủy và   các  mục   đích  khác   với  yêu cầu 
chất lượng nước thấp
DANH MỤC BẢNG

Tên bảng
Bảng 1– Các vị trí lấy mẫu sông Nhuệ 

Bảng 13 ­ Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu  dọc theo 
sông Nhuệ

21

Bảng14 ­ Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu  dọc theo 

29

22
23
24
24
26
26
28

sông Đáy 
Bảng 15 ­ Giá trị COD tại các điểm lấy mẫu  dọc 

30

theo sông Nhuệ 
Bảng 16 ­ Giá trị  COD tại các điểm lấy mẫu   dọc 

30

theo sông Đáy
Bảng 17 ­ Giá trị BOD tại các điểm lấy mẫu  dọc 


dọc theo sông Nhuệ                        
Bảng   24 ­ Giá trị  Coliform   tại các điểm lấy mẫu 
dọc theo sông Đáy 
Bảng 25 ­ Tổng kết chất lượng nước dọc theo sông  
Nhuệ
Bảng 26 – Tổng kết chất lượng nước dọc theo sông 
Đáy

43

Bảng 27 – Đánh giá sắp xếp chất lượng nước sông 

47

37
44
45

Nhuệ  thông qua số lần thông số môi trường quan trắc  
đạt và không đat QCVN
Bảng 28 – Đánh giá sắp xếp chất lượng nước sông 

48

Đáy thông qua số  lần thông số  môi trường quan trắc 
đạt và không đat QCVN
Bảng 29 ­ Kết quả tính toán I tại các vị trí quan trắc 

    49


55

9


sông Nhuệ vào mùa mưa
Bảng 38 ­ Kết quả  tính toán WQI và mức đánh giá 
chất lượng nước  sông Đáy vào mùa khô
Bảng 39 ­ Kết quả  tính toán WQI và mức đánh giá 
chất lượng nước  sông Đáy vào mùa mưa
Bảng 40 – Trọng số đối với các thông số môi trường  
nước sông theo các trường hợp khác nhau
Bảng 41 ­ Tính WQI các thông số trên các mẫu ở sông  
Đáy 
Bảng 42 ­  Đánh giá chất lượng thông qua chỉ số WQI

56
57
60
60
61

(trường hợp có trọng số)
Bảng  43 ­ Đánh giá chất lượng sông Đáy (trường hợp 

62

có trọng số)
Bảng 44 ­ Tính WQI cho các thông số ở sông Nhuệ
Bảng 45   ­  Đánh giá  chất lượng  sông Nhuệ  (trường 

78 ­ 
79

10


11


MỞ ĐẦU
Số liệu quan trắc nước mặt từ các chương trình quan trắc thường được sử dụng 
trong các báo cáo hiện trạng môi trường các lưu vực sông. Các thông số  trong môi 
trường nước được phân tích đánh giá và đưa ra các nhận định về  hiện trạng và diễn 
biến của chất lượng nước.
Ngoài các phân tích đánh giá cho từng thông số, các bộ  chỉ  thị  môi trường quốc  
gia cũng đã được xây dựng. Bộ chỉ thị môi trường nước mặt lục địa đã có quy định chi  
tiết và đang được áp dụng cho cấp độ địa phương cũng như quốc gia.
Trước đây,  đã có nhiều chương trình quan trắc  ở  lưu vực  sông Nhệu –  Đáy 
nhưng nhìn chung hoạt động quan trắc vẫn còn một số hạn chế như:
­ Các dữ liệu quan trắc được thu thập chưa đầy đủ. 
­ Một số chương trình quan trắc chưa được gắn liền với  mục tiêu sử dụng nước.
­ Phương pháp tiếp cận, phương pháp đánh giá chất lượng nước hiện vẫn còn chưa
thống nhất, chưa hệ thống,  trong đó có việc sử dung các chỉ số để đánh giá.
Chỉ số chất lượng nước và các phương pháp đánh giá chất lượng nước là công 
cụ 
phục vụ  việc đánh giá mức độ  ô nhiễm từng đoạn sông phục vụ  mục đích quy hoạch 
sử  dụng hợp lý nguồn nước mặt và xây dựng định hướng kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ 
môi trường nước. Từ  đó, xây dựng các biện pháp để  kiểm soát ô nhiễm môi trường 
nước tốt hơn, đây là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách. 
Lưu vực sông Nhuệ ­ Đáy là một trong ba lưu vực được quan tâm hàng đầu trong  


2


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.

Một số  đặc điểm chính về  điều kiện tự  nhiên, kinh tế  ­ xã hội tại  

lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy
Lưu vực sông Nhuệ  ­ Đáy có tọa độ  địa lý từ  200 ­ 21020' vĩ độ  Bắc và 1050 ­  
106030' kinh độ  Đông, diện tích 7665 km2, chiếm 10% diện tích toàn lưu vực sông 
Hồng, Bao gồm địa phận hành chính của các tỉnh sau:
Tỉnh Hòa Bình: gồm các huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy.
Thành phố Hà Nội: gồm nội thành, quận Hà Đông (Tp.Hà Đông), các huyện Từ 
Liêm, Thanh Trì, Đan Phượng, Hoài Đức, Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Oai,  Ứng  
Hòa, Chương Mỹ, Mỹ Đức.
Tỉnh Hà Nam: gồm thành phố  Phủ  Lý và các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Kim  
Bảng, Bình Lục, Thanh Liêm.
Tỉnh Nam Định: gồm thành phố  Nam Đinh và các huyện Nam Trực, Vụ  Bản,  
Xuân Trường, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Ý Yên, Giao Thủy, Hải Hậu.
Tỉnh Ninh Bình: gồm thành phố Ninh Bình, tp. Tam Điệp và các huyện Gia Viễn,  
Nho Quan, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn. 
Lưu vực được giới hạn như sau:
3


Phía Bắc và phía Đông được giới hạn bởi đê Sông Hồng kể  từ  ngã ba Trung Hà 
tới cửa Ba Lạt với chiều dài 242 km.

các làng nghề đều phát triển tự phát theo yêu cầu của thị trường nên thiết bị, công nghệ 
đơn giản, mặt bằng sản xuất nhỏ, khả năng đầu tư  cho các hệ  thống xử  lý nước thải 
rất hạn chế. Nước thải của các làng nghề này không qua xử lý hoặc xử lý ko hiệu quả.  
Tổng lượng nước thải phát sinh từ  các làng nghề  này khoảng 50.000­60.000m3 nước 
thải/ngày, trong đó riêng ở Hà Nội đã chiếm khoảng 40% /1/ /2/. 
Về đặc điểm thủy văn, nói chung, 90% lượng dòng chảy trên lưu vực sông Đáy 
có nguồn gốc từ  sông Hồng chuyển sang, chỉ  10% còn lại bắt nguồn từ  trên lưu vực.  
Tổng dòng chảy năm khoảng 28,8 tỉ m3, trong đó có đến 25,8 tỉ m3 (chiếm 85­90%) bắt  
nguồn từ  sông Hồng qua sông Đào. Lượng dòng chảy trên sông Hoàng Long chiếm  
khoảng 2.4% tổng dòng chảy năm, tương đương 0.68 tỉ m3. Lượng dòng chảy trên sông  
Tích vào sông Đáy tại Ba Thá chiếm khoảng 4.7%, tương đương 1.35 tỉ m3.
 Mật độ lưới sông trong lưu vực biến đổi trong phạm vi 0.7 ­ 1.2 km/km2. Hệ thống 
sông này gồm 2 con sông chính là sông Nhuệ và sông Đáy.
Chế độ thủy văn sông Nhuệ ­ sông Đáy không những chịu ảnh hưởng của các yếu 
tố mặt đệm trên bề mặt lưu vực, các yếu tố khí hậu mà còn phụ thuộc vào chế độ dòng  
chảy của nước sông Hồng và các sông khác cũng như chế độ vận hành của các công trình 
thủy lợi trên sông. Vì thế mà chế độ thủy văn ở đây rất phức tạp và có sự khác nhau nhất 
định giữa các đoạn sông.
Sự phân bố theo thời gian thể hiện rõ nét thông qua phân phối dòng chảy trong năm.  
Phân phối dòng chảy năm phụ thuộc vào sự phân phối theo mùa của lượng mưa năm nên  
dòng chảy trong năm cũng phân phối không đều và thể hiện hai mùa rõ rệt là mùa mưa và 
mùa khô. Mùa mưa từ tháng V đến tháng X, chiếm 80 ­ 85% lượng mưa cả năm. Mùa khô 
từ tháng XI đến tháng IV năm sau.
a) Sông Nhuệ: bắt nguồn tại cống Liên Mạc, lấy nước từ sông Hồng chảy vào. Đây  
là nguồn nước cấp cho nhiều hệ  thống, công trình thủy lợi như  Hà Đông, Đồng Quan, 
Nhật Tựu, Lương Cổ  ­ Điệp Sơn. Ngoài ra, sông Nhuệ  còn đóng vai trò tiêu nước cho 
5


thành phố Hà Nội và thị xã Hà Đông. Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ 


cung cấp, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào và sông Nhuệ. Sông Đáy dài 
237 km, diện tích lưu vực khoảng 6.592 km2  (chiếm 83% diện tích toàn LVS Nhuệ  ­ 
Đáy). Chế độ dòng chảy của sông Đáy rất phức tạp và có sự  khác nhau giữa các đoạn  
sông do địa hình lòng dẫn và  ảnh hưởng từ  chế  độ  dòng chảy của sông Đào và triều  
cường
Sông Đáy có chiều dài khoảng 240 km, diện tích lưu vực xấp xỉ 850.000 ha. Sông 
Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông  Hồng, bắt đầu từ  cửa  Hát  
Môn chảy theo hướng  Đông  Bắc – Tây Nam rồi đổ  ra biển qua Cửa  Đáy. Sông Đáy  
bản thân nó cũng có các sông nhánh khác đổ vào nên chế độ dòng chảy tương đối phức  
tạp, vừa chịu  ảnh hưởng của sông  Hồng vừa chịu  ảnh hưởng của các sông nội địa và 
thủy triều. Nhìn chung, sông Đáy hoàn toàn mang các đặc thù của sông đồng bằng. Vào  
mùa lũ, dòng chảy lũ trên sông Đáy phản ánh các đặc trưng chế độ dòng chảy lũ cả trên  
sông Hồng cũng như  trên vùng núi. Do có đập Đáy, nước sông Hồng không thường  
xuyên vào sông Đáy qua cửa đập này trừ những khi phân lũ. Khi đập đáy đóng, sông Đáy 
chủ yếu nhận nước từ các sông nhánh là: sông Tích, sông Thanh Hà, Sông Châu Giang,  
sông Nhuệ, sông Hoàng Long, sông Sắt, sông Đào và sông Bút, phần đầu nguồn sông (từ 
km 0 đến Ba Thá dài 71 km) coi như một đoạn sông chết. Ở đoạn sông này xảy ra hiện 
tượng bồi lắng, nhân dân ven sông lấn đất canh tác làm dòng sông hẹp và nông, cản trở 
việc thoát lũ mùa mưa. Tại điểm giao nhau giữa sông Đáy và sông Hồng thuộc địa phận 
tỉnh Hà Tây cũ có hai công trình kiểm soát lũ trên sông Đáy, điều tiết dòng chảy từ sông 
Hồng vào. Việc tiêu nước trên sông Đáy dùng động lực là chính, chỉ có một số khu vực  
miền núi, trung du giáp biển là có thể tự chảy vì lợi dụng được độ dốc và thủy triều.

1.2.

Một số nghiên cứu chính đã thực hiện về chất lượng nước sông Nhuệ ­ Đáy
Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu về chất lượng nước sông

Nhuệ ­ Đáy, trong đó tiêu biểu là nghiên cứu:


2%

8%

Hà Nôi
Hà Nam
Nam Định
Ninh Bình
Hòa Bình
76%

Tỷ lệ nước thải công nghiệp đổ vào 

Tỷ lệ nước thải công nghiệp đổ vào 

lưu vực sông Đáy – Nhuệ /12/

lưu vực sông Đáy – Nhuệ /12/

Tỷ lệ nước thải bệnh viện đổ vào lưu 

Tỷ lệ phân bố các làng nghề trên lưu 

8


vực sông Đáy – Nhuệ /12/
vực sông Đáy – Nhuệ /12/
Hình 1 – Tỷ lệ các nguồn nước đổ vào sông lưu vực sông Nhuệ – Đáy /12/

Quy trình xây dựng mô hình chỉ số chất lượng nước thông qua 4 bước:
­ Bước 1: Lựa chọn thông số
­ Bước 2: Chuyển đổi các thông số về cùng một thang đo – tính toán WQI thông  
số
­ Bước 3: Trọng số
­ Bước 4: Tính toán chỉ số WQI cuối cùng
Có rất nhiều quốc gia đã đưa áp dụng WQI vào thực tiễn, cũng như có nhiều các 
nhà khoa học nghiên cứu về các mô hình WQI.
Hoa Kỳ: WQI được xây dựng cho mỗi bang, đa số các bang tiếp cận theo phương  
pháp của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation­NSF) – sau đây gọi 
tắt  là  WQI­NSF 
Canada: Phương pháp do Cơ  quan Bảo vệ  môi trường Canada (The Canadian  
Council of Ministers of the Environment ­ CCME, 2001) xây dựng
Châu Âu: Các quốc gia  ở châu Âu chủ  yếu được xây dựng phát triển từ  WQI – 
NSF (của Hoa Kỳ), tuy nhiên mỗi Quốc gia – địa phương lựa chọn các thông số  và 
phương pháp tính chỉ số phụ riêng
Các quốc gia Malaysia,  Ấn Độ phát triển từ WQI – NSF, nhưng mỗi quốc gia có 
thể xây dựng nhiều loại WQI cho từng mục đích sử dụng.
1.3.2. Tổng quan các nghiên cứu đã thưc hiện ở Việt Nam về áp dụng các chỉ   số 
đánh giá chất lượng nước mặt
Phạm Thị  Minh Hạnh, 2008  đưa ra mô hình WQI với chỉ số chất lượng nước  
được chia làm 2 loại là: Chỉ số chất lượng nước cơ bản IB và chỉ  số chất lượng nước 
tổng hợp IO. Chỉ  số  chất lượng nước cơ  bản được tính cho 8 thông số  chính (COD,  
BOD5, DO, độ  đục, SS, NH4+ ­ N, PO43­­P và  Coliform. Chỉ  số  chất lượng nước tổng  
hợp ngoài 8 thông số trên được tính thêm các thông số pH, nhiệt độ, các kim loại nặng 

10


và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nước, chỉ số chất lượng nước tổng hợp cung  

vực nội thành và ngoại thành. Dựa vào kết quả quan trắc của Sở TN&MT Hà Nội  /14/,  
số liệu phân tích diễn biến CLN theo chiều dài các sông chính kết hợp phương pháp xác 
định chỉ số CLN (WQI) đề  xuất trong Đề  tài "Nghiên cứu phân vùng chất lương nước  
sông hồ  theo WQI và đề  xuất phương án sử  dụng, BVMT nước mặt vùng Hà Nội" đã  
được Sở KHCN TP. Hà Nội nghiệm thu (2010).
11


Phân vùng CLN sông, hồ (phân vùng theo chất lượng và mức độ  ô nhiễm nguồn  
nước) đối vói một lưu vực sông hoặc một địa phương là nội dung đặc biệt quan trọng 
không chỉ trong quản lý môi trường mà còn phục vụ cho quy hoạch sử dụng và BVMT 
nước. Trong năm 2008, Bộ TN&MT đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về CLN  
mặt (QCVN 08:2008/BTNMT). 
Để  có cơ  sở khoa học và thực tiễn trong việc phân loại và phân vùng CLN theo 
QCVN 08:2008/BTNMT cần áp dụng hệ  thống phân loại theo chỉ  số, CLN (WQI) phù 
họp đặc điểm nguồn nước của địa phương hoặc lưu vực.
Khi có phân vùng tốt, các cấp lãnh đạo và các sở, ngành, doanh nghiệp  ở TP. Hà 
Nội và cộng đồng sẽ  xác định rõ: vùng (đoạn sông) đạt yêu cầu về  CLN an toàn cho 
cấp nước sinh hoạt (lấy nước cho nhà máy nước); vùng đạt yêu cầu về  CLN có khả 
năng nuôi trồng thủy sản an toàn, có hiệu quả kinh tế; vùng có khả năng cấp nước thủy 
lợi an toàn, có chất lượng tốt; vùng có khả năng xây dựng cơ sở thể thao, du lịch dưới  
nước đủ tiêu chuẩn; vùng không thể sử dụng cho các mục đích trên, cần ưu tiên xử lý,  
kiểm soát ô nhiễm.
Để  khắc phục khó khăn trên, cần phải có một hoặc một hệ  thống chỉ  số  cho 
phép lượng hoá được CLN (nghĩa là biểu diễn CLN theo một thang điểm thống nhất), 
có khả  năng mô tả  tác động tổng hợp của nồng độ  nhiều thành phần hoá – lý – sinh 
trong nguồn nước. Một trong số  chỉ  số  đó là chỉ  số  chất lượng nước (Water Quality  
Index ­ WQI). 
Năm   2008   Sở   KHCN   TP.   Hà   Nội   đã   giao   Viện   Môi   trường   và   Phát   triển 
(VESDEC) triển khai Đề  tài: Nghiên cứu phân vùng CLN các sông, hồ trên địa bàn TP.  

Phú Cường, Bình Phước và Phú An trong thời gian từ  2003 đến 2007. Một số  nghiên  
cứu điển hình như sau:
­ Nghiên cứu của TS. Tôn Thất Lãng, sử dụng chỉ số chất lượng nước (WQI) để 
đánh giá và phân vùng chất lượng nước sông Hậu năm 2008 /9/.

13


Nghiên cứu  ở  đây đã sử  dụng WQI để  đánh giá và phân vùng chất lượng sông 
Hậu với mô hình WQI với nhóm gồm 6 thông số: pH, DO, BOD, COD, TSS, Coliform.  
Mô hình có ứngdụng phương pháp Delphi và phương pháp đường cong tỷ lệ.
Để  phục vụ  công tác quản lý và kiểm soát chất lượng nước sông Hậu, chỉ  số 
chất lượng nước được xây dựng dựa vào phương pháp Delphi. Các hệ  thống câu hỏi 
được gởi đến 40 chuyên gia chất lượng nước tại các Viện Nghiên cứu, trường Đại học, 
Trung tâm Môi trường v.v… 
Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo các chỉ  số  chất lượng nước (WQI)  
và đánh giá khả  năng sử  dụng các nguồn nước sông, kênh rạch  ở  vùng thành phố  Hồ 
Chí Minh” năm 2008 do PGS. TS Lê Trình làm chủ  nhiệm là một trong những nghiên  
cứu đầu tiên ở Việt Nam về phân vùng chất lượng nước theo WQI. Nghiên cứu đã xác 
định với tính định lượng cao các yếu tố ảnh hưởng đến CLN vùng TP. HCM (thủy văn,  
các nguồn thải CN, sinh hoạt, nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản) và dự  báo đến năm 
2020.  Nghiên cứu đã đưa ra diễn biến chất lượng nước (ô nhiễm nước) các sông rạch  
chính theo không gian và thời gian và thiết lập hệ thống WQI phù hợp cho TP. HCM (và 
cả lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn) và tính WQI cho 35 điểm khảo sát vào tháng 3 và 
tháng 9.2007. Dựa vào điểm số  về  WQI chất lượng nước tại các điểm đã được phân 
thành 5 loại (I – V). /7/ 
Nghiên cứu “Áp dụng phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) cho  
sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn thành phố  Hà Nội)” do Nguyễn duy Phú, Trịnh Thị 
Thanh, 2010 được tiến hành  Nghiên cứu đã đánh giá các yếu tố có khả năng ảnh hưởng  
đến chất lượng nước sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn thành phố Hà Nội) và đánh giá  


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status