22 Đề tthi và đáp án tổng hợp lớp 12 - Pdf 59

Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
các đề tổng hợp
Đề 1: Trớc CM XD có bài "ĐMTT' sau CM, NĐT có bài "Đất nớc" cùng nói về
mùa thu. Hãy so sánh 2 trạng thái cảm xúc của thi nhân với 2 mùa thu đó.
Bài làm.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã tổng kết về mối quan hệ giữa cảnh và tình trong văn
học bằng câu thơ bằng câu thơ nổi tiếng nh vậy. Bởi trong văn học, mỗi bức tranh thiên nhiên
bao giờ cũng là bức tranh tâm trạng. Ngời vui thì cảnh vui, ngời buồn thì cảnh buồn. Qua 2 bài
thơ ĐMTT của XD và Đất nớc của NĐT chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.
Mùa thu là một thi đề vô cùng hấp dẫn đối với các thi nhân vì ngời ta dễ rung động khi
trời đất chuyển mùa. Từ mùa đông lạnh giá sang mùa xuân ấm áp con ngời dễ vui, từ mùa hè
nồng nàn sắc lửa, chuyển sang mùa thu chớm lạnh mơ màng dễ gợi cảm giác bâng khuâng xao
xuyến lu luyến vấn vơng. Vì vậy, mùa thu xa nay đã làm xao động không biết bao trái tim thi
sĩ và chảy thành muôn vàn lời thơ nổi tiếng trong văn chơng nhân loại cũng nh dân tộc. Nhng
không vì thế mà thơ viết về mùa thu trở nên khuôn sáo đơn điệu. Bởi cảnh thu thời nào cũng
vậy, nhng lòng ngời thì mỗi thời mỗi khác. Vậy nên, cảnh sắc thu trong mỗi bài thơ đều có
những vẻ đẹp riêng độc đáo. Chính trạng thái cảm xúc của thi nhân đã quy định cảnh sắc mùa
thu trong thơ.
Bài thơ ĐMTT là một bài thơ hay về mùa thu của XD trớc CM. Bài Đất nớc (48 -
55) của NĐT không phải là bài thơ viết về mùa thu nhng cảm hứng đất nớc lại bắt đầu từ cảm
hứng mùa thu. Hai bài thơ viết trong 2 giai đoạn lịch sử khác nhau thể hiện 2 trạng thái cảm
xúc khác nhau của hai nhà thơ trớc mùa thu.
Cảnh sắc mùa thu trong bài ĐMTT thấm một nỗi buồn. Đó là cái buồn muôn thủa nh-
ng cũng là cái buồn của thời đại, cái buồn riêng của thơ mới. Buồn vì cái lạnh len lỏi đâu đây
gợi nỗi cô đơn. Buồn vì sự chia lìa hoa cỏ, chim muông đến con ngời. Buồn vì một nỗi nhớ
nhung ngẩn ngơ phảng phất trong không gian và trong lòng ngời. Bài thơ mở đầu bằng h/a
rặng liễu buồn nh những cô gái xõa tóc lặng lẽ, đìu hiu đứng chịu tang cùng ngàn dòng lệ nối
hàng tuôn rơi. Các khổ thơ tiếp thơ tiếp theo t/g tái hiện cảnh hoa lá rụng, cành cây khô gẫy,
vầng trăng bơ vơ, sơng mờ khí trời u uất... Tất cả những h/a ấy gợi lên sự chia lìa tàn tạ, phai

Bài thơ Đất nớc của NĐT là bài thơ về đất nớc rũ bùn đứng dậy sáng lòa qua cuộc k/c 9
năm gian khổ (46 - 54), nhng cảm hứng đất nớc lại bắt đầu từ cảm hứng mùa thu. Mở đầu là h/a
mùa thu:
Sáng mát trong nh sáng năm xa
Gió thổi rừng tre hơng cốm mới
Đó là cảnh sắc thân thuộc của mùa thu Việt Nam muôn đời. Cảnh thu trong sáng tơi vui.
Đoạn thơ tiếp theo t/g khắc họa cảnh thu Hà Nội ra đi vì nghĩa lớn, mục đích lẽ sống cao cả.
Đó là cảnh thu với vẻ đẹp thơ mộng mà xao xác buồn, buồn vì t/g nh thiếu hẳn bóng ngời,
buồn vì niềm bâng khuâng lu luyến của sự chia li:
ngời ra đi đầu không ngoảnh lại
Nhng thật ra là chẳng muốn rời:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
..................
Sau lng thềm nắng lá rơi đầy
Còn mùa thu hiện tại là mùa thu sau CMT8, mùa thu ở chiến khu Việt Bắc giải phóng. Lúc
này là chiến khu tự do, căn cứ địa của cuộc k/c chống Pháp nơi Bác Hồ, Chính phủ k/c đang
điều khiển cuộc chiến tranh thần thánh của cả dân tộc. Nguyễn Đình Thi đến với mùa thu này
bằng một niềm vui tràn ngập, niềm vui của ngời tự thấy mình đợc tự do, dân tộc mình đợc tự
do. Đang trong tâm trạng vui nên t/g thấy cảnh thu hiện lên với vẻ đẹp tơi sáng đầy sức sống,
đầy âm thanh màu sắc rộn rã tơi vui. Bầu trời nh thay áo mới, cảnh vật nh hồi sinh. Những âm
thanh của cảnh vật và cuộc sống con ngời cũng ríu ran ríu rít đầy niềm vui.
Và không gian mùa thu nh trải ra mở rộng theo những con đờng, dòng sông, đồng lúa
cánh rừng trùng điệp của đất nớc.
Cảm hứng của NĐT trong bài ĐN là cảm hứng tự hào, làm chủ của một nghệ sĩ đang
tham gia trực tiếp bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Trong đoạn thơ nói về mùa thu Hà
Nội t/g có thể hiện tâm trạng buồn, nhng đó là nỗi buồn của một ngời tha thiết yêu quê hơng
mà phải tạm biệt quê hơng lên đờng vì nghĩa lớn. Nỗi buồn này khác nỗi buồn của XD (nỗi
buồn của ngời mất nớc nên sống giữa quê hơng mà bơ vơ nh kiếp ngời đi đày).
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ vẫn là niềm vui, niềm tự hào về giang sơn giàu đẹp, độc
lập chủ quyền vì vậy đoạn thơ viết về mùa thu chiến khu Việt Bắc vang lên sang sảng tự hào

Các bài thơ: BKSĐ, Việt Bắc, Đất nớc đều tập trung thể hiện t/y quê hơng đất nớc thiết
tha. Đó là sự gắn bó máu thịt với cảnh vật và con ngời của vùng quê Kinh Bắc (BKSĐ), là t/y
tha thiết cảnh vật Việt Bắc, căn cứ địa của cuộc k/c và những con ngời miền núi đã từng cu
mang đùm bọc chở che cho cán bộ, bộ đội trong cuộc k/c gian khổ (Việt Bắc), là t/y thiên
nhiên đất nớc nên thơ nên họa gắn liền với niềm tự hào đất nớc hồi sinh giàu đẹp, có truyền
thống bất khuất anh hùng, giờ đây dới sự lãnh đạo của Đảng đã quật khởi đứng lên với những
chiến công huy hoàng. Mặc dù vậy mỗi bài thơ vẫn có những nét riêng mang bản sắc tâm hồn
t/g trong cách cảm cách nghĩ.
BKSĐ của Hoàng Cầm là bài thơ đặc sắc về tình quê hơng đất nớc, mỗi nhà thơ có
một phong cách, có một thế giới nghệ thuật riêng. Nó thờng đợc tạo nên bởi những gì thân
thuộc nhất từ tuổi ấu thơ. Đối với Hoàng Cầm đó là TG Kinh Bắc cổ kính. Vào một đêm tháng
4/1948, sau khi nghe kể về tình cảnh giặc chiếm đóng giày xéo quê hơng mình, trái tim t/g
trào dâng biết bao cảm xúc yêu thơng căm giận đau tiếc xót xa. Thông qua cảm xúc xót xa
đau tiếc ấy, những cảnh, những ngời, những số phận khác nhau của vùng quê Kinh Bắc cứ lần
lợt hiện ra thật đẹp, thật quý, thật thơng, thật tội cứ lay động tâm hồn nhà thơ không thôi.
Với lòng yêu thơng tha thiết của Hoàng Cầm, vùng Kinh Bắc trong cuộc sống thanh
bình hiện lên mới đẹp đẽ, nên thơ và giàu có biết bao. Đó là cái lấp lánh của dòng sông xen
lẫn màu cát trắng phẳng lì, hoà với cái xanh xanh bãi mía bờ dâu trải dài nối tiếp với cái
biêng biếc ngô khoai. Sự trù phú đẹp đẽ của quê hơng dờng nh đợc đọng lại ở một h/a thật
nên thơ và gợi cảm. Đấy là lúa nếp thơm nồng - thơm nồng của lúa nếp hay thơm nồng t/y
thơng tự hào về quê hơng giàu đẹp của t/g.
Quê hơng Kinh Bắc còn đáng tự hào vì có truyền thống văn hóa tinh thần đáng quý đáng
yêu. Đó là truyền thống văn hóa văn nghệ dân gian lâu đời với vẻ đẹp vừa thuần phác vừa cổ
kính giàu màu sắc dân tộc. Những tranh vẽ gà lợn, đám cới chuột, hứng dừa, đánh ghen của
Đông Hồ. Những hội hè, đình đám trên núi Thiên Thai, trong chùa Bút Tháp, giữa huyện Lang
Tài... những cô gái dăng tơ dệt lụa ở bãi Trầm Chỉ, những ngời thợ nhuộn Đồng Tỉnh, Huê
Cầu đã thành ca dao:
Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Để thơng, để nhớ để sầu lại đây
Nhng rồi những giá trị văn hóa cổ truyền, sinh hoạt bình yên từ bao đời nay của những

hẹn hò của mình và ta đằm thắm thủy chung tràn đầy thơng nhớ. Trong hoài niệm nhớ thơng
suốt 15 năm thiết tha mặn nồng ấy, bao trùm có mấy bức tranh hiện thực thống nhất hòa nhập
khó mà tách rời. Đó là nỗi nhớ thiên nhiên núi rừng chiến khu Việt Bắc và cuộc sống con ngời
Việt Bắc, cùng những kỷ niệm về cuộc k/c anh hùng.
Những đờng Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập nh là đất rung
Thiên nhiên Việt Bắc qua ngòi bút chứa chan tình nghĩa CM k/c của Tố Hữu còn là một thiên
nhiên đã cùng con ngời đánh giặc và ghi lại biết bao sự tích anh hùng:
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Thiên nhiên Việt bắc hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian
khác nhau, trong cả thời tiết sơng sớm nắng chiều trăng khuya, trong các mùa thay đổi. Điều
đặc biệt là h/a thiên nhiên gắn với bóng dáng con ngời làm cho cảnh bớt hoang sơ hiu hắt và
trở nên gần gũi thân thiết với con ngời hơn. Tiêu biểu nhất là đoạn thơ sau:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tơi
.................
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Đoạn thơ xứng đáng là một bộ tranh tứ bình có đủ 4 mùa. Mỗi mùa một màu sắc đờng nét âm
thanh thật sinh động, khi lắng dịu, khi rực rỡ chói chang khi rộn ràng náo nức.
Cuộc sống sinh hoạt của con ngời vùng chiến khu Việt Bắc qua hoài niệm t/g hiện ra
trong những nét thanh bình yên ả:
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
Nhng cũng có cảnh nghèo khó gian nan cơ cực:
Thơng nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm xẻ nửa chăn sui đắp cùng
Bao nhiêu tình nghĩa keo sơn, gắn bó đợc chứa đựng trong những h/a chân thực cụ thể mà rất
gợi cảm ấy. Cái đẹp nhất đúng là ở tình nghĩa của con ngời, ở sự san xẻ cùng chung mọi gian
khổ niềm vui, cùng gánh vác nhiệm vụ k/c, thiên nhiên, nghĩa tình càng đẹp hơn nữa trong
cuộc sống gian nan, thiếu thốn. Càng sắt son thấm thía trong gian nan thử thách.

Nh vậy, bài thơ mang cảm hứng tổng hợp về quê hơng đất nớc. Bài thơ không viết về
một vùng quê cụ thể nh BKSĐ hay vùng chiến khu Việt Bắc mà trong bài thơ có hình
bóng của nhiều miền đất nớc: Hà Nội, Việt Bắc, có cả chiến trờng Điện Biên. Khơi nguồn cảm
hứng cho t/g nghĩ về quê hơng đất nớc là một buổi sáng mùa thu gợi lên khung cảnh mùa thu
Việt Nam muôn đời với không khí mát trong, gió thổi nhẹ hòa lẫn với hơng cốm mới dạt dào:
Sáng mát trong nh sáng năm xa
Gió thổi mùa thu hơng cốm mới
Tiếp theo là khung cảnh mùa thu Hà Nội với những ngày t/g từ giã quê hơng ra đi vì
nghĩa lớn với tâm trạng của một nghệ sĩ - chiến sĩ thiết tha với quê h ơng đất nớc mà phải xa
quê hơng, NĐT đã vẽ lên đợc một bức tranh thu Hà Nội buồn tĩnh lặng với những màu sắc, đ-
ờng nét, ánh sáng rất gợi cảm. Nắng rơi, lá rơi đang rơi đầy thềm và rơi đầy khoảng nhớ mênh
mông của ngời ra đi kiên quyết mà lu luyến, lặng lẽ mà xao động.
Bài thơ biểu hiện niềm vui đất nớc hồi sinh, niềm tự hào về Tổ quốc giàu đẹp và ý thức
độc lập tự chủ. Đất nớc đẹp đẽ nên thơ rất yêu thơng ấy đã chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ
cả dân tộc giải phóng. Bầu trời cánh đồng, dòng sông tất cả đã thuộc về ta. ý thức làm chủ đất
nớc, niềm tự hào về Tổ quốc giàu đẹp là tình cảm quan trọng nhất của t/y quê hơng đất nớc.
Thông qua tình cảm yêu thơng tự hào ấy mà mùa thu mới và bức tranh đất nớc tràn ngập niềm
vui cứ lần lợt đợc mở ra lộng lẫy bát ngát theo không gian nhiều tầng bậc với bầu trời, núi
rừng, cánh đồng, dòng sông.
Càng yêu thơng đất nớc giàu đẹp đang đợc hồi sinh, t/g càng tự hào về đất nớc có truyền
thống bất khuất anh hùng. ý thơ dõng dạc sang sảng khi nói về những cái hữu hình cụ thể về
đất nớc trong không gian, thời gian bỗng chuyển sang trang trọng trầm lắng thành kính đầy vẻ
thiêng liêng khi cảm nhận về cái vô hình là hồn đất nớc, là truyền thống bất khuất oanh liệt
của cha ông suốt chiều dài thời gian, lịch sử. Truyền thống ấy, tiếng nói ấy đầy sức sống, đầy
sức mạnh thầm lặng vững bền muôn thuở cứ đêm đêm rì rầm trong tiếng đất vọng từ ngàn x-
a vọng tới mai sau.
Đất nớc là nỗi đau thơng niềm căm giận đối với quân xâm lợc. Bởi đất nớc đó hiện tại
đang chìm đắm trong khói lửa chiến tranh. Bầu trời cánh đồng nh rách nát ứa máu bởi dây
thép gai, móng vuốt của kẻ thù. Biết bao căm giận nhức nhối đối với quân xâm lợc và tình yêu
thơng đối với đất nớc chứa đựng trong những h/a thơ ấy.

biểu nh BKSĐ - Hoàng Cần, ĐN - NĐT và Việt Bắc của Tố Hữu.
Cách nhìn, cách xúc cảm về quê hơng đất nớc của mỗi t/p đều mang đậm dấu ấn của
thời đại và t tởng cảm xúc riêng của từng nhà thơ nhng đều thống nhất dựng nên một bức tranh
về quê hơng Việt Nam k/c với mảng màu đậm đà khơi gợi vô cùng tấm lòng yêu nớc, yêu quê
hơng của các thế hệ con ngời Việt Nam:
Em ơi buồn làm chi
Anh đa em về sông Đuống
Ngày xa cát trắng phẳng lì
Lời ru ngọt ngào của nhân vật trữ tình anh với nhân vật trữ tình em trong câu thơ mở
đầu bài BKSĐ của HC đã đa tâm hồn ngời đọc về với một miền quê mang bản sắc riêng độc
đáo mà cũng rất tiêu biểu cho quê hơng Việt Nam. Miền quê ấy bên kia sông Đuống - vùng
đất Nam phần của tỉnh Bắc Ninh nằm trên bờ con sông Đuống hiền hoà. ở chiến khu đánh giặc
nghe tin quê hơng bị giày xéo dới gót giày quân xâm lợc và cũng đang cùng cả nớc k/c, tâm
hồn ngời chiến sĩ ấy trào dâng theo cảm xúc: căm hận kẻ thù xâm lợc, thơng tiếc xót xa cho
quê hơng bị tàn phá, tự hào vì quê hơng đang vùng lên trong biển máu. Do sự thôi thúc của
phức hợp cảm xúc ấy HC đã cầm bút ghi ra những lời thơ vừa là để chép tội giặc vừa là thể
hiện lòng yêu thơng tự hào và cả tin tởng của mình đối với quê hơng thân yêu. Cả bài thơ vì
vậy là một dòng chảy không ngừng không nghỉ với bao nhiêu hoài niệm đẹp, bao nhiêu đau
đớn quằn quại, bao nhiêu căm hận tiếc nuối, bao nhiêu tự hào. Tất cả đợc ngòi bút trữ tình tài
hoa của HC dựng lên một TG Kinh Bắc với cảnh sắc thiên nhiên tơi đẹp, đất đai trù phú màu
mỡ với những con ngời thuần phác mộc mạc mà tài hoa thắm thiết nghĩa tình. Đó là một TG
của núi sông cổ tích, của những khung cảnh sinh hoạt mang đậm màu sắc truyền thống văn
hóa dân tộc và đều thống nhất gợi nên vẻ yên bình: Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình
yên. Bình yên ấy là thiên nhiên tơi đẹp với con sông Đuống thơ mộng một dòng lấp lánh,
giữa hai bờ cát trắng phẳng lì, giữa dâu mía xanh xanh, ngô khoai biêng biếc. Bình yên
cũng là cuộc sống vật chất, cuộc sống tinh thần đang toả sắc trên quê hơng:
BKSĐ
Quê hơng ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tơi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Cùng một cảm hứng về Đn quê hơng nhng NĐT trong bài thơ ĐN lại triển khai thi
hứng theo một hớng khác. Cảm hứng về ĐN của t/g trong bài thơ này không liền mạch, không
dạt dào tuôn chảy mà có thiên hớng tổng hợp khái quát từ những sự ghép nối cảm xúc cụ thể
để tạo thành một biểu tợng về đất nớc Việt Nam. Trong suốt bài thơ luôn có sự đi về dằng dặc
nối kết giữa cái riêng và cái trừu tợng để rồi đúc lại thành h/a Việt Nam k/c vất vả đau thơng
mà tơi thắm vô cùng.
Dòng cảm hứng về ĐN của NĐT đợc khơi nguồn từ cảm xúc mùa thu. Sớm mùa thu ở
chiến khu Việt Bắc mát trong và thoảng mùi hơng cốm mới đã chạm vào cảm giác, truyền vào
tâm hồn, đánh thức những lí ức, những kỉ niệm yêu thơng về mùa thu cũ. Mùa thu Hà Nội trớc
CMT8:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Ngời ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lng thềm nắng lá rơi đầy
Hoài niệm về mùa thu cũ đẹp mà xao xác, bâng khuâng buồn vắng càng làm cho lòng
ngời xốn xang rạo rực, niềm vui trớc mùa thu mới, mùa thu CM, mùa thu k/c:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cời thiết tha
Tâm hồn nhà thơ rộng mở giữa đất trời hồ hởi đón nhận từ ngọn gió thu mát lành, sắc
trời thu trong xanh đến âm thanh của tiếng thu trong biếc thiết tha. Niềm vui thu rạo rực đó lại
càng làm bừng thức một niềm tự hào phơi phới về một ĐN, một ĐN dân chủ cộng hoà non trẻ
đang lớn lên từng ngày, từng ngày thay da đổi thịt với bao vẻ đẹp trù phú:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm máy
Những ngả đờng bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Đứng dậy rũ bùn sáng loà"
Trong thơ ca Việt Nam hiếm có hiện tợng nào lại hào hùng nh hiện tợng ĐN đợc dựng lên
bằng ngòi bút chứa chan cảm xúc, bằng tâm hồn lộng gió thời đạI nh của NĐT.
Nhà thơ TH "ca sĩ của CM" (CLV) thi sĩ của giọng thơ tâm tình ngọt ngào thơng mến
lại mang đến h/a quê hơng Việt Nam k/c qua những lời thơ chất chứa hoài niệm yêu thơng
trong bài thơ "Việt Bắc". "Việt Bắc" (10/1954) là khúc ca ân tình ân nghĩa ngợi ca cái nghĩa,
cái tình của nhân dân với CM, của đồng bào, chiến sĩ của hai miền xuôi ngợc trong cuộc chiến
tranh thần thánh vừa gian khổ vừa thắm đợm nghĩa tình "15 năm ấy thiết tha mặn nồng", 9
năm k/c, 9 năm thời kỳ CM còn trứng nớc đã tô đậm bao nghĩa tình keo sơn gắn bó. Dòng
hoài niệm yêu thơng về những năm tháng đó tuôn chảy trong bài thơ làm hiện lên bức tranh
chân thực về Việt Bắc, cái nôi của CM, thủ đô k/c. Cả thiên nhiên đất trời cả con ngời đều đằm
thắm, đều sâu dày ơn nghĩa. Trớc hết là h/a của núi rừng hùng vĩ, thơ mộng. Nhớ Việt Bắc
nhớ mãi không quên cảnh:
"Rừng xanh hoa chuối đỏ tơi
...................
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
Rừng Việt Bắc cảnh nào cũng đẹp, cũng chan chứa ân tình. Việt Bắc còn là mảnh đất anh
hùng ca mà mỗi tên núi, tên sông, tên làng, tên bản đều gắn liền với những chiến công oanh
liệt, đều ghi dấu bớc trởng thành của cuộc k/c anh hùng:
"Những đờng Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập nh là đất rung"
Việt Bắc, cả dân tộc k/c, toàn diện k/c, Việt Bắc đánh giặc bằng sự huy động mọi sức mạnh cả
hiện đại cả thô sơ, cả quá khứ cả hiện tại và tơng lai... Tất cả tạo thành h/a Việt Bắc, một vùng
quê anh hùng của một dân tộc anh hùng.
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
8
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
Ba bài thơ đi theo ba hớng cảm xúc khác nhau nhng đều quy tụ lại một điểm chung,
đều làm bật sáng lên h/a quê hơng Việt Nam vô vàn đau thơng mà rất đỗi anh hùng đang vùng
lên chiến đấu để giành lấy độc lập tự do. TG Kinh Bắc trong tình cảm yêu thơng của HC, vẻ

đầu với CNPX. Phần lớn các dân tộc nhợc tiểu trên TG đang phải chiến đấu chống lại CNTD
để dành độc lập cho dân tộc mình. Trớc một đòi hỏi cụ thể của lịch sử nh vậy Ngời đã đặt vấn
đề về chất thép trong thơ. Ngời đặt "Thơ hôm nay trong sự so sánh với thơ xa" (Cổ thi) là để
làm nổi bật tính lịch sử cụ thể ấy chứ không bao hàm ý nghĩa phê phán thơ x a. Đồng thời bên
cạnh việc kêu gọi cần phải có chất thép trong thơ, Ngời còn yêu cầu nhà thơ "thi gia hồi ứng
hiệu xung phong", đòi hỏi nhà thơ phải đứng ở hàng đầu của cuộc chiến đấu chống lại cái ác,
tiêu diệt cái ác vì lợi ích chung của nhân loại. Cho nên bằng vũ khí thơ ca của mình nhà thơ
phải trở thành chiến sĩ kiên cờng.
Phát triển quan niệm này với thơ ca HCM trong bức th gửi cho triển lãm hội hoạ -1951
cũng đã viết: "văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận
ấy" để khẳng định sứ mệnh cao cả của văn hóa nghệ thuật trong đó có thơ ca, của ngời nghệ sĩ
trong đó có nhà thơ. Mà nói cho cùng đó cũng là những quan niệm nằm trong bản thể của
nghệ thuật cùng với những chức năng to lớn nh nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ của nghệ thuật,
của thơ cak.
Căn cứ vào nhận xét của Hoài Thanh ta đã làm nổi bật quan niệm về chất thép trong
thơ HCM. Tuy nhiên, Hoài Thanh cũng đã gợi ra cho ta thấy ở NKTT sự biểu hiện chất thép
của thơ ca lại hết sức linh hoạt. Có chất thép hiện ra ở những bài thơ nói về tinh thần chiến đấu
của ngời tù - ngời chiến sĩ mà cũng là nhà thơ, mà cũng nói bằng một chất thép rắn rỏi của
một ngòi bút kiên cờng và cũng có một chất thép ẩn sâu những chất trữ tình, ẩn sâu những h-
ớng ngoại của ngời làm thơ.
Chất thép của NKTT đợc biểu hiện một cách trực tiếp ở hàng loạt những bài thơ nh 4
câu thơ đề từ: Bốn tháng rồi, Tự khuyên mình, Nghe tiếng giã gạo, Không ngủ đợc, ở Việt
Nam có bạo động... ở những bài thơ này, nhà thơ, ngời tù HCM vĩ đại đã nêu cao tinh thần
chiến đấu bất khuất của ngời chiến sĩ cộng sản trong hoàn cảnh lao tù, làm sáng lên tinh thần
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
9
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
thép của ngời cộng sản và nêu cao những bài học lớn về lẽ sống của con ngời. NKTT ngay từ
những dòng thơ đề từ ta đã thấy hiện lên tầm vóc lớn lao của ngời chiến sĩ cộng sản:
"Thân thể tại ngục trung

Một tinh thần thép nh thế của nhà thi sĩ - chiến sĩ trong cảnh lao tù còn đợc thể hiện
trong sự cố gắng vợt qua gian nan thử thách:
"Ví không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoảng ngày xuân
Nghĩ mình trong bớc gian truân
Tai ơng rèn luyện tinh thần thêm hăng"
Chỉ nghe một tiếng giã gạo Ngời cũng đã nghĩ tới sự rèn luyện về mặt tinh thần, bản lĩnh của
ngời chiến sỹ trong hoàn cảnh đấu tranh đặc biệt, đấu tranh trong nhà tù:
"Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời ngời cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công"
ở NKTT niềm khao khát trở về cuộc sống, cuộc chiến đấu của dân tộc, của nhân loại
cũng là một biểu hiện của tinh thần thép. Thơ viết về niềm khao khát ấy là thơ mang chất thép
của ngời cộng sản:
"Trong ngục ngời nhàn nhàn quá đỗi
Chí cao mà chẳng đáng đồng chinh"
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
10
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
vì:
"Xót mình giam hãm trung tù ngục
Chẳng đợc xông ra giữa trận tiền"
Những bài thơ nh thế chiếm một tỉ trọng khá lớn ở NKTT. Tuy nhiên, tuyên ngôn về thơ HCM
ở bài "Cảm tởng đọc thiên gia thi" đã đợc thể hiện thành hành động sáng tạo ở NKTT. Giữa
tuyên ngôn và sáng tác của Ngời chẳng phải luôn là sự thống nhất đó sao.
Song, chất thép đợc hiểu nh tinh thần chiến đấu của thơ ca ta sẽ thấy ở NKTT một chất
thép đặc biệt, chất thép HCM, chất thép không phải ở những bài thơ nói chuyện thép, lên
giọng thép mà ở những bài thơ trữ tình. Phần lớn những bài thơ nh thế đều thể hiện những
rung động sâu sắc và tinh tế của một tâm hồn thi sĩ trớc thiên nhiên tạo vật. Với những bài thơ

ngời xa thờng nói: "bản chất của thơ là trữ tình". Tuy nhiên, ở một cái nhìn thật sâu đậm về hai
chữ "trữ tình" này ta sẽ thấy "chất thép" cũng là biểu hiện của chất trữ tình. Đó là sự biểu hiện
cao nhất của những tình cảm lớn lao đối với cuộc sống, đối với con ngời. Tình yêu lớn ấy đòi
hỏi con ngời phải biết chiến đấu cho cái thiện, cho cái đẹp. Vì thế, chất trữ tình và tính chiến
đấu của văn chơng làm sao có thể đối lập với nhau? Hơn nữa, đâu chỉ nhà thơ HCM hay những
nhà thơ cộng sản mới đề cao tinh thần chiến đấu của thơ ca. Tính chiến đấu trong truyện cổ
tích và đặc biệt trong truyện cời dân gian chẳng phải là một trong những đặc tính nổi bật đó
sao. Dọc theo tiến trình phát triển của văn học ta từng thấnh Trần Nhân Tông vừa là nhà thơ
vừa là vua nói:
"Thơ làm sao trả ánh sáng cầu vồng
Thơ phải nh lỡi cày sáng loáng
Cày trên trang giấy dọc ngang
Thơ phải là thanh bảo kiếm rực rỡ
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
11
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
Xông ra giữa muôn vạn hùng binh"
Quan niệm của ngời xa đã coi thơ nh một thứ vũ khí vô cùng quý báu, nhà thơ phải xông
ra giữa trận tiền để thế hiện sức mạnh chiến đấu. Rồi, Nguyễn Trãi trong "Bảo kính cảnh giới"
cũng đã khẳng định: "Thơ cần phải trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngợc và nhà thơ phải có nhân, có
trí, có anh hùng" cũng là một cách nói về "chất thép" trong thơ, về vị trí của ngời cầm bút với
cuộc đời. Trong lịch sử cận đại, Nguyễn Đình Chiểu lại nói tới sứ mệnh thơ ca và tinh thần
thép của nhà thơ:
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà"
Cùng quan niệm nh thế nhà thơ Sóng Hồng đã viết: "Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ
- Mỗi vần thơ bom đạn phá cờng quyền" đến cả nhà văn lãng mạn nh Thạch Lam còn nói:
"văn chơng là thứ khí giới thanh cao đắc lực". Khí giới ấy phải làm thay đổi xã hội giả dối và
tàn ác...
Vì thế, quan niệm của HCM về một chất thép trong thơ là một quan niệm tích cực, một

không". Đó là bà cụ Tứ nhìn thấy con có vợ mà trong lòng lại trào lên bao nhiêu sự ai oán xót
thơng trăn trở trong lòng ngời mẹ những giọt nớc mắt tủi hờn, những lo lắng về kiếp ngời bèo
bọt... Bởi việc có vợ của Tràng làm cho ngời mẹ ấy thấm thía hơn nỗi tủi nhục của mình, làm
mẹ không lo nổi vợ cho con để đến lúc đói khát ngời ta mới theo con mình về làm vợ, con mình
mới có vợ.
Khi các dân tộc vùng cao còn chìm đắm trong bóng tối của một xã hội tàn bạo nh thời
trung cổ thì thân phận những ngời phụ nữ nh Mị cũng bị đày đọa nh con trâu, con ngựa thậm
chí không đợc bằng con trâu con ngựa bị giam cầm trong địa ngục trần gian nh con rùa lùi lũi
trong xó cửa. Họ trở thành một thứ hàng hóa để gạt nợ và biến thành nô lệ cho g/c thống trị.
Phải chăng tự bao giờ ngời ta không còn nhớ nữa ngời con gái ấy đã bị trói chặt vào công việc
nh một thứ công cụ lao động, trói chặt vào kiếp sống nô lệ, trái tim đã hóa đá, đã trở nên vô
cảm. Phải chăng ngời con gái ấy tự bao giờ đã cam sống kiếp trâu ngựa và cô là kẻ dờng nh
cúi đầu trớc hoàn cảnh.
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
12
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
Còn khi ĐN đã sang một trang mới thì số phận ngời phụ nữ cũng đổi thay nh Đào
trong truyện ngắn "ML" của NK. Đào đã từ cuộc sống tởng nh đến bớc đờng cùng đã đợc cuộc
sống mới trả lại bao nhiêu niềm vui, bao nhiêu hạnh phúc. Đó là một cô Đào khi đến với nông
trờng Điện Biên sau bao nhiêu bất hạnh, khổ đau của cuộc đời. Và nông trờng Điện Biên với
cuộc sống ấm áp tình ngời, chan hòa lòng nhân ái, thấm đợm tinh thần nhân đạo mới - nhân
đạo của những ngời cộng sản, cuộc sống sôi nổi trong lao động có thể giúp con ng ời tự bộc lộ
mình đã đem đến những thay đổi chắc chắc và sâu sắc trong tâm hồn rồi trong số phận của
Đào. Nh vậy, số phận của Đào cũng thay đổi cũng với số phận của đất nớc. Cuộc đời của Đào
sẽ bớc sang một trang mới khi đất nớc cùng đồng thời sang trang.
Và trong cuộc sống mới con ngời làm chủ Đất nớc, ngời phụ nữ cũng nh cả dân tộc
đều náo nức say mê trong công cuộc xây dựng Tổ quốc và hào hứng sẵn sàng hy sinh cả tuổi
trẻ, cả sự sống của mình trong sự nghiệp giải phóng miền nam nh Nguyệt trong "MTCR".
Nguyệt đẹp nh ĐN ở tuổi đôi mơi, Nguyệt là biểu tợng cho sự sống bất diệt, cho niềm tin
mãnh liệt của dân tộc ta những ngày chống Mỹ.

Nhân hậu và lòng yêu thơng luôn gắn bó với nhau làm một. Nó dờng nh trở thành lẽ
sống của ngời phụ nữ Việt Nam. Ngời phụ nữ trong văn học hiện đại còn là sự kết tinh tinh
thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt vào con ngời, vào cuộc sống, vào tơng lai. Bà cụ Tứ chính là
điển hình cho sự lạc quan ấy. Niềm tin của bà cụ Tứ đó là bà đã sống bằng triết lí lạc quan lúc
nào cũng chỉ nói chuyện vui. Trong lúc không biết có sống qua khỏi nạn đói không thì bà luôn
miệng nói với đứa con dâu và thằng con trai về tơng lai tơi sáng, bà nh muốn truyền cho con
mình sự lạc quan, tin tởng ấy. Xung quanh bữa cơm của nhà nghèo có con dâu mới ngời ta chỉ
toàn thấy những chuyện mai sau, những chuyện vui, tiếng cời nói của bà cụ Tứ.
Còn Đào lại xây dựng cho mình một triết lý sống: ở đời không có những con đờng cùng
chỉ có những ranh giới và điều cốt yếu là phải có sức mạnh để vợt qua những ranh giới ấy. Và
chính triết lý sống ấy đã đem đến cho Đào hạnh phúc trên nông trờng Điện Biên qua bao
nhiêu khổ đau, bất hạnh. "Đờng lên nông trờng Điện Biên" chính là con đờng để Đào đến với
mọi ngời và cũng là con đờng để mọi ngời đến với Đào. Lòng Đào nh rộng mở trớc cuộc sống
mới. Những khi làm việc bên cạnh Huân nhìn cánh tay cuồn cuộn những bắp thịt Đào bỗng
thèm khát, thèm khát một cuộc sống gia đình, điều mà từ lâu Đào ngỡ đã chết vợt lên những
mặc cảm nh một ám ánh trong lòng Đào. Đào bỗng nhận ra con ngời ta ai chẳng có điều tốt
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
13
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
đẹp của mình và "cuộc đời cha phải đã chết". Đào nhìn cuộc sống với cái nhìn tơi sáng hơn,
Đào thấy hạnh phúc cha hiện hình một cách cụ thể nhng nó đã lấp lánh ở phía trớc. Đào đã vợt
qua cái mặc cảm về một thứ "hồng nhan bỏ bị" để lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Đào nhận ra
cái phần tốt đẹp của riêng mình. Cuộc sống ở nông trờng Điện Biên đã trả lại cho Đào "chân"
giá trị của một ngời phụ nữ đam đang, tháo vát, cởi mở, tâm hồn trong sáng giàu xúc cảm,
giàu tình yêu đối với cuộc sống và cho Đào niềm lạc quan đối với cuộc sống.
Đặc biệt là nhân vật Nguyệt trong "MTCR" của Nguyễn Minh Châu là một nhân vật có
một niềm tin mãnh liệt dối với cuộc sống tơng lai. Niềm tin ấy đợc ví nh một sợi chỉ xanh óng
ánh trong tâm hồn Nguyệt. Một sợi chỉ xanh bé nhỏ nhng nó đợc kết lên từ niềm tin của con
ngời, từ truyền thống nghìn đời của dân tộc nên nó chẳng những óng ánh tỏa sáng mà còn bền
vững cùng thời gian. Trớc khi truyện ngắn kết thúc NMC đã để sợi chỉ xanh óng ánh ấy hiện

Nguyệt vẫn bình thản giúp Lãm vợt qua đoạn đờng ác liệt vì bom đạn. Chiếc xe bị cháy
Nguyệt vẫn đứng bên cửa buồng lái chỉ huy một cách ràng rọt để Lãm đa xe tới nơi an toàn.
Đó là sự vợt lên số phận của nhân vật Đào. Đào là một ngời phụ nữ từng trải gặp nhiều
đau khổ, bất hạnh trong cuộc sống đến nỗi mất hết niềm tin vào cuộc sống, mất hết niềm tin ở
tơng lai. Nhng khi đến với nông trờng Điện Biên cô đã vợt lên trên số phận của mình đã tìm
thấy hạnh phúc ở tơng lai. Tất cả họ đều từ niềm tin tởng vào cuộc sống, vào tơng lai tốt đẹp, vào
con ngời mà dám vùng lên đấu tranh để có đợc hạnh phúc cho bản thân cũng nh những ngời xung
quanh.
Nếu nh trong văn học hiện thực phê phán trớc CMT8 những ngời phụ nữ cũng gặp
những khó khăn bế tắc nhng không thể thoát ra đợc thì ở văn học CM ngời phụ nữ đã có sự
thay đổi mới. Có thể thấy rõ điều này nếu ta so sánh những t/p trớc và sau CM, mà nhân vật
chị Dậu trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố là một điển hình. Trong t/p ta thấy nhiều lần ở chị
Dậu có sự phản kháng mãnh liệt nhng sự phản kháng ấy chỉ là sự bộc phát tức thời không phải
là sự đấu tranh. Kết thúc t/p chị vẫn cha tìm đợc lối thoát cho cuộc đời mình bằng h/a chị chạy
ra ngoài trời giữa đêm tối đen nh mực, tối nh tiền đề của chị vậy. Đó chính là sự khác nhau
giữa CN nhân đạo của văn học hiện thực phê phán với CN nhân đạo cộng sản. Văn học hiện
thực phê phán chỉ dừng lại ở sự cảm thông với số phận của ngời phụ nữ nhng không mở ra con
đờng giải phóng cho họ. Trong văn học CM thì số phận của ngời phụ nữ đều đợc giải phóng ví
nh ngời phụ nữ trong "Vợ nhặt" thị đã nhìn thấy h/a lá cờ đỏ của Việt Minh tung bay đằng trớc
đoàn ngời đi phá kho thóc giải quyết nạn đói. Nghĩa là Kim Lân đã mở ra trớc mắt thị một con
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
14
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
đờng có thể vợt lên trên hoàn cảnh để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Đó là Mị sau khi giải thoát
cho APhủ đã vùng dậy chạy theo APhủ cùng APhủ đi đến một vùng đất mới thoát khỏi kiếp
sống bế tắc, nô lệ của mình, gặp cán bộ Đảng và trở thành ngời CM trở về giải phóng quê h-
ơng. Mà đặc biệt đó là nhân vật Nguyệt cô cũng đang trên con đờng đi đến giải phóng cho mình
và giải phóng cho đất nớc.
Nếu nh ngời phụ nữ trong văn học hiện thực phê phán bị trói buộc trong lễ giáo phong
kiến nh nàng Kiều chỉ vì cứu gia đình mà phải lu lạc 15 năm sống một kiếp ngời bèo bọt, nh

"nghệ thuật vị nhân sinh".
Những sáng tác của NC trớc CM bao gồm 2 đề tài chủ yếu: ngời nông dân nghèo và tiểu
t sản trí thức nghèo. Dù viết về đề tài nào điều mà Nam Cao quan tâm trớc tiên là tình trạng
con ngời lao động bị tha hóa bởi bát cơm manh áo.
Là nhà văn sinh ra và lớn lên nơi chốn bùn lầy nớc đọng, Nam Cao hiểu khá sâu sắc
cuộc sống của những con ngời nhỏ bé này. Ông đã viết đợc hàng loạt tác phẩm rất có giá trị
nh: Lão Hạc, Chí Phèo... Qua những t/p trên Nam Cao không chỉ miêu tả một cách thấm thía
và cảm động cuộc đời đau khổ tối tăm của họ mà còn phát hiện ra dới những tâm hồn tởng nh
u mê, tăm tối vì đói nghèo ấy vẫn lấp lánh ánh sáng nhân phẩm.
Là nhà văn kiêm thầy giáo dạy trờng t thờng xuyên bị thất nghiệp Nam cao cũng hiểu
biết khá sâu sắc cuộc sống của những con ngời này. Ông đã viết đợc nhiều tác phẩm nổi tiếng
nh: Giăng sáng, Đời Thừa, Nhìn ngời ta sung sớng... đặc biệt tiểu thuyết "Sống mòn". Với
những t/p này Nam Cao không chỉ diễn tả một cách sinh động tình trạng sống dở, chết dở của
họ mà còn khám phá ra những tấn bi kịch tinh thần có tầm cỡ thời đại. Đó là bi kịch của ngời
trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị của sự sống, muốn làm một sự nghiệp tinh thần cao cả, nh-
ng kết cục bị cuộc sống tàn nhẫn đẩy vào "đời thừa".
Nam Cao có đóng góp quan trọng trong việc làm hiện đại hóa câu văn xuôi Việt Nam và
đa nghệ thuật phân tích tâm lý đạt đến trình độ bậc thầy.
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
15
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
Nam Cao là một trong số ít các nhà văn đến với CM ngay từ đầu, năm 1948 ông đ ợc kết
nạp vào Đảng. Ông tham gia hội văn hóa cứu quốc, làm th ký tòa soạn tạp chí "Tiền Phong",
"Văn nghệ Việt Bắc". Ông hăng hái tham gia CM, k/c. Thời kỳ này Nam Cao cũng viết đợc
nhiều t/p có giá trị nh : Truyện biên giới, Nhật kí ở rừng, đặc biệt là truyện ngắn "Đôi mắt" đ -
ợc xem là tuyên ngôn nghệ thuật của các nhà văn cùng thời.
Những t/p của Nam Cao có ý nghĩa đặt nền móng cho văn học hiện đại. Năm 1951 trên
đờng về quê công tác ông bị kẻ thù phục kích giết chết giữa đờng lúc tài năng đang chín muồi.
Cuộc đời sáng tác của Nam Cao chỉ trên dới 10 năm nhng đã để lại một sự nghiệp văn chơng
bất hủ. Ông xứng đáng đợc nhận giải thởng HCM về văn hóa nghệ thuật đợt 1 năm 1996.

trùm lấy cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn non tơ của nhà thơ. "Mơn mởn" là một từ láy rất gợi
cảm và giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi cảm giác sự vật cây cối đang ở độ non nợt tơi tốt tràn đầy
sức sống:
"Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây da quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi ở mãi vờn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dới đất"
(Thanh niên).
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
16
Đề ôn tập chơng trình văn học Việt Nam
Theo bớc chân "Vội vàng" và vòng tay cuồng nhiệt với lòng khát sống tột đỉnh của nhà
thơ, ta bớc vào một thế giới ngập tràn cảm xúc mãnh liệt và những h/a sinh động hấp dẫn đẹp
đẽ của sự sống trong thiên nhiên và cuộc đời:
"ta muốn riết mây đa và gió lợn
Ta muốn say cánh bớm với t/y
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều"
Một đoạn thơ ngắn mà có 4, 5 từ "ta muốn" đợc lặp đi lặp lại nh một nhịp điệu hối hả, nh hơi
thở gấp gáp của thi nhân. Nó nói lên đợc cái ham muốn khát thèm đến hăm hở, cuồng nhiệt
của nhà thơ. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động từ chỉ trạng thái yêu đơng mỗi lúc
một mạnh mẽ mãnh liệt nồng nàn hơn: ôm - riết - say - thâu - cắn. Có lẽ t/y cuộc sống và khát
khao tận hởng thanh sắc, hơng vị cuộc đời của thi nhân cứ tăng dần theo từng từ "muốn".
"Ôm" đã nằm gọn trong vòng tay đến "riết" lại còn ghì chặt hơn, "say" sự ngây ngất đến bất
tỉnh vẫn cha thỏa lòng còn muốn "thâu" nghĩa là muốn thu hết tất cả để có sự hòa nhập làm
một. Để cuối cùng là một tiếng kêu của sự cuồng nhiệt, đắm say thể hiện niềm yêu đời khát
sống cha từng có trong thơ ca Việt Nam :"Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngơi". Dới ngòi bút
của Xuân Diệu và trong ánh mắt "xanh non biếc rờn" của thi sĩ mùa xuân hiện ra rõ rệt sống
động nh có hình có dáng, có hồn có sắc. Mùa xuân nh môi nh má của một thiếu nữ trẻ trung
tràn đầy nhựa sống và đẹp xinh trinh nguyên đang rạo rực yêu đơng, hay nh một quả chín ngọt
thơm trong vờn. Đứng trớc cái hấp dẫn của mùa xuân cuộc sống thi sĩ hình nh không nén nổi

đời sống bi thảm của ngời nông dân trong xã hội cũ, làm hiện lên hình ảnh những ngời nông
dân nghèo khổ nhng lại giàu lòng yêu thơng, có trái tim, niềm lạc quan về một cuộc đời mai
sau để có thể vợt qua những đói khát cơ cực của cuộc đời hiện tại. Truyện ngắn "Vợ nhặt" vì
thế vừa giàu giá trị hiện thực lại tràn đầy tình cảm nhân đạo, những tình cảm con ngời với con
ngời cũng nh những tình cảm trào lên từ trái tim nhà văn.
Lê Ngọc Mai- THPT Yên Định 1
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status