Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu khả năng tăng sinh của tế bào gốc mỡ và ảnh hưởng của chúng đến tế bào da nuôi cấy định hướng trong điều trị vết thương - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

ĐOÀN HOÀNG THU

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TĂNG SINH CỦA TẾ BÀO 
GỐC MỠ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN TẾ 
BÀO DA NUÔI CẤY ĐỊNH HƯỚNG TRONG ĐIỀU 
TRỊ VẾT THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

ĐOÀN HOÀNG THU

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TĂNG SINH CỦA TẾ 
BÀO GỐC MỠ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN 
TẾ BÀO DA NUÔI CẤY ĐỊNH HƯỚNG TRONG 
ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG

Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số              : 60420114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG

Bảng 1. Khả năng tạo dòng của tế bào mới tách ra từ mô mỡ (n=5).............
               Error:
  
 
Reference source not found
Bảng 2. Khả năng tạo CFU­F theo các thế hệ tế bào (n=5)..........
            Error: Reference
  
 
source not found
Bảng 3. Ảnh hưởng của tế bào gốc đến tăng sinh nguyên bào sợi  Error: Reference 
source not found
Bảng 4. Thời điểm nguyên bào sợi gia tăng số lượng khi có tấm tế bào gốc.......
         Error:
  
 
Reference source not found
Bảng 5. Tỷ lệ sống của nguyên bào sợi sau khi trypsin.  Error: Reference source not 
found
Bảng 6. Ảnh hưởng của tấm tế bào gốc đến tăng sinh tế bào sừng...............
                 Error:
  
 
Reference source not found

 
Hình 6. Tế bào sau 4 và 10 ngày nuôi cấy............
             Error: Reference source not found
  
 
Hình 7. Tế bào gốc mỡ trên kính hiển vi đảo ngược 50X(A) và 100X(B)........
         Error:
  
 
Reference source not found
Hình 8. Hình thái tế bào gốc mỡ sau khi nhuộm Giemsa. (100X) ..
   .  Error: Reference
 
 
source not found
Hình 9. Tế bào gốc mỡ tạo colony – ngày thứ 1 và 5. (50X) Error: Reference source 
not found
Hình 10. Tế bào gốc mỡ tạo colony ở ngày thứ 10 và 20. (50X)....
      Error: Reference
  
 
source not found
Hình 11. Các đĩa colony sau khi nhuộm giemsa....
      Error: Reference source not found
  
 
Hình 12. Biểu đồ  so sánh số  lượng tế  bào thu được giữa các thí nghiệm đồng  
nuôi cấy tấm tế bào gốc mô mỡ với nguyên bào sợi ở ngày thứ 2.  Error: Reference 
source not found
Hình 13. Tác động của tấm tế bào gốc mô mỡ  lên sự  tăng sinh của nguyên bào  

             Error: Reference source not found
  
 
Hình 18.  Ảnh hưởng của tế bào gốc mỡ  lên di cư  và biệt hóa của tế  bào sừng  
(50X).                                                                     
 
.....................................................................
  
 Error: Reference source not found
 

Hình 19. So sánh hình thái tế bào gốc mô 
mỡ…………………………….Error: Reference source not found
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AB

Antibiotic/Antimycotic ­ Kháng sinh

ADSCs

Adipose­Derived Stem Cells ­ Tế bào gốc mỡ

DMEM

Dubeco’s Modified Eagle Medium

EGF

Epidermal Growth Factor ­ Yếu tố tăng trưởng biểu bì


Passage­ Cấy chuyển

PBS

Phosphat Buffer Saline ­ Dung dịch đệm phosphat

PDGF  

Pletelet­Derived Growth Factor 

TB

Tế bào

TGF 

Transforming Growth Factor

VEGF

Vessle Endothelial Growth Factor



ĐẶT VẤN ĐỀ
Tế  bào gốc là một trong những lĩnh vực sinh học lôi cuốn nhất hiện 
nay. Từ lâu, cấy ghép tế bào gốc đã được y học thế giới lựa chọn như là liệu 
pháp hữu hiệu để chữa khỏi một số căn bệnh mạn tính, hiểm nghèo liên quan  
đến máu, tủy, xương khớp…Trên thế giới, có một số nguồn tế bào gốc được 

dụng bao nhiêu tế bào là cần thiết và bao nhiêu tế  bào trong hỗn dịch tế bào 
mới tách là đủ  để  cho một lần ghép điều trị  vết thương. Do đó, cần nghiên 
cứu xây dựng hoàn chỉnh quy trình tách và tinh lọc tế bào gốc trung mô. Nếu 
như các tế bào gốc trung mô tách ra lại có tác dụng kích thích tăng sinh hoặc di 
cư của 2 loại tế bào chủ yếu của da thì đó sẽ là cơ sở khoa học cần thiết cho  
việc tiếp tục các nghiên cứu  ứng dụng tế  bào gốc mô mỡ  trên lâm sàng và 
định hướng cho các nghiên cứu chế tạo các chế phẩm sinh học phục vụ điều  
trị  các tổn thương thuộc hệ  thống trung mô đặc biệt là vết thương và vết 
bỏng. 
Ngày nay, nhu cầu điều trị vết thương bằng ghép tế bào gốc là rất lớn,  
cụ thể tại Mỹ với 260 triệu dân thì hàng năm có khoảng 6,5 triệu người mang  
các vết thương mạn tính. Hàng năm tại miền tây Châu Âu có khoảng 150.000 
người cần được điều trị  bằng da nhân tạo. Riêng tại Đức có khoảng 3 triệu  
người bị loét và chi phí lên tới hơn 1 tỷ Euro dành cho điều trị. 
Tại Việt Nam hàng năm ước tính khoảng 791.000 người gặp tai nạn về 
bỏng [8]. Tuy chưa có con số  thống kê cụ  thể  nhưng chỉ  tính riêng tại Viện  
Bỏng Quốc Gia, hàng năm có khoảng 5000 bệnh nhân bỏng điều trị  thì nhu 
cầu về ghép da cũng đã chiếm khoảng 2500 bệnh nhân
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và tiềm năng ứng dụng của tế bào 
gốc mỡ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:  “Nghiên cứu khả  năng tăng sinh  


của tế bào gốc mỡ và ảnh hưởng của chúng đến tế bào da nuôi cấy định  
hướng trong điều trị vết thương” nhằm mục tiêu sau:

1. Đánh giá đặc điểm phân lập và sự  tăng sinh của tế bào gốc mỡ  trong  
điều kiện nuôi cấy invitro

2. Đánh giá ảnh hưởng của tế bào gốc mỡ đến tế bào da nuôi cấy
Chương 1 

Metalloproteinase,   collagenase   gây   thoái   huỷ   protein   khoảng   kẽ;   men  
Stomalysin   thoái   huỷ   protein   màng   nền.   Điều   hoà   tổng   hợp   và   thoá   biến  
collagen thông qua FGF­ , TGF­ . Sắp xếp collagen theo cấu trúc mô. Trong 
khoảng thời gian từ 5­7 ngày, các nguyên bào sợi tăng sinh, và được kích thích  
tiết PDGF, TGF­beta để điều khiển quá trình tổng hợp và lắng đọng các thành 
phần đệm gian bào bao gồm: fibronectin, laminin, glycosaminoglycans (GAGs)  
và collagen. Nguyên bào sợi còn tham gia vào giai đoạn sửa chữa sẹo diễn ra 
trong nhiều năm sau khi vết thương đã liền.
Tế bào sừng (Keratinocytes) tạo nên lớp biểu bì bảo vệ cơ thể. Biểu 
bì gồm nhiều lớp tế bào biểu mô lát tầng sừng hóa, thành phần chính là các tế 
bào sừng gồm nhiều lớp tế bào sắp xếp chặt chẽ với nhau [1]. Lớp mầm hay  
còn gọi là lớp đáy chứa các tế bào gốc biểu bì có khả  năng tự  tồn tại, tự tái 
sinh nhiều lần và nhanh trong suốt cuộc sống của con người. Giữa các tế bào  
sừng có các cầu nối gian bào làm kết nối chặt chẽ giữa chúng với nhau. Các 
tế  bào lớp đáy có cấu trúc cầu nối khác với các lớp  ở  trên, chúng có thể  dễ 
dàng bị xoá bỏ và cũng tự tái tạo lại để các tế bào sừng mới sinh ra di chuyển  
lên trên tạo ra các lớp tế  bào biệt hoá  ở  phía trên. Trong các tế  bào của lớp  


mầm biểu bì thì chỉ có 10% là tế bào mầm biểu bì còn lại là các tế bào đang ở 
các giai đoạn gián phân. Bình thường sự phân chia tế bào sừng lớp mầm cân  
bằng với sự  sừng hoá bong vảy của biểu bì nhưng khi da bị  tổn thương thì  
chúng tăng cường phân chia để tạo ra nhiều tế bào biểu mô. Các tế bào biểu  
mô sẽ di cư vào trung tâm của vết thương ở dạng đơn lớp cho đến khi các tế 
bào tiếp xúc trực tiếp với nhau thì tốc độ phân chia chậm lại và biệt hoá thành 
các lớp gai, lớp hạt, lớp sừng  ở phía trên để thực hiện chức năng bảo vệ của 
biểu bì. Trong quá trình di cư  chúng cần đệm gian bào đủ  chất lượng như 
trung bì, chúng cần có các sợi decorin, laminin…để bám vào và trượt dọc theo 
các sợi đó để di chuyển vào trung tâm vết thương. Trong trường hợp các vết  
thương mạn tính, cấu trúc đệm gian bào bị  tổn thương không hồi phục, vết 

Các vật liệu thay thế da này được chế  tạo dựa trên các tiến bộ về công 
nghệ  mô và đã được  ứng dụng trong lâm sàng, chúng thúc đẩy sự  liền vết 
thương cấp và mạn tính và được sử dụng như một cơ quan phức hợp cho hệ 
thống thử  nghiệm cơ bản hoặc các nghiên cứu về dược [59]. Một vấn đề chính 
trong việc tăng sinh tế  bào là đáp  ứng yêu cầu cần đạt đủ  số  lượng các tế  bào 
cần thiết, trong khi vẫn đảm bảo được tính chất bình thường của tế  bào và cả 
chức năng của chúng. Các tế bào này sau đó chỉ được sử dụng cho các mục đích  
hoặc là tạo vật liệu thay thế  da phù hợp cho cấy ghép hoặc là cho các thử 
nghiệm in vitro [27], [66]. 

Có rất nhiều lý do gây nên tổn thương da bao gồm các hội chứng do gen, 
chấn thương cấp tính, vết thương mạn tính hoặc các can thiệp ngoại khoa. 
Một trong các lý do phổ biến nhất là tổn thương da do bỏng. Ngay khi da bị 
tổn thương, hàng loạt các vấn đề phức hợp bắt đầu diễn ra: các tế  bào miễn 
dịch bị lôi kéo tới vùng thương tổn, mô đệm mới được sinh ra bởi nguyên bào 
sợi, tiếp theo là tái biểu mô hóa do tế bào sừng đảm nhiệm và cuối cùng là sự 
tái phân bố mạch của vết thương [54]. Quá trình liền vết thương phức tạp này 
được kích thích và kiểm soát bởi các cytokine và các yếu tố tăng trưởng khác  
nhau [25]. Kích thước vết thương là yếu tố  chủ  đạo cho biểu mô hóa. Tổn 
thương toàn bộ lớp da với kích thước lớn hơn 1 cm đường kính thì cần phải  


ghép da để  đề  phòng tạo sẹo dẫn đến di chứng về  chức năng hay thẩm mỹ 
[55]. Mảnh ghép hoàn hảo nên phải sẵn có, không gây đáp ứng miễn dịch, che  
phủ và bảo vệ nền vết thương, làm tăng nhanh liền vết thương, ít gây đau và  
ít tạo sẹo.
Trong trường hợp tổn thương diện tích rộng các tế  bào có chức năng 
liền vết thương của bệnh nhân không đủ  khả  năng làm lành tổn thương mà  
cần phải ghép da tự thân nhưng nguồn da tự thân cũng không phải vô hạn nên 
ghép da tự  thân cũng chỉ cứu được những bệnh nhân bỏng sâu 50% diện tích cơ 

mô đang được mô tả  như  vật liệu thay thế  da giúp liền vết thương và sửa  
chữa, thay thế da tạm thời và thường hỗ trợ  cho việc tái sinh. Quá trình liền  
vết thương, vết bỏng có nhiều cơ  chế phức tạp nhưng kết quả cuối cùng là 
tái lập các mô tế  bào đã bị  tổn thương. Do đó, quan niệm mới trong điều trị 
các tổn thương ở bất cứ cơ quan nào trên cơ thể là các tế bào tổn thương phải 
được thay thế bằng các tế bào khỏe mạnh [4].
Cho đến ngày nay, người ta đã chế  tạo được các tấm nguyên bào sợi, 
tấm tế bào sừng, thậm chí cả các tấm vật liệu chứa cả hai loại tế bào trên mà  
người ta gọi là các vật liệu tương đương da hoặc da nhân tạo…[57], [70]. 
Tuỳ  theo nguồn gốc tế  bào sừng trên tấm vật liệu là tự  thân hay khác gen  
đồng loài (gọi tắt là đồng loài) mà người ta chế  được vật liệu có tính chất  
vĩnh viễn (không thải ghép) hoặc tạm thời. 
Các tấm tế  bào da nuôi cấy hoặc vật liệu tương đương da được  ứng  
dụng trong điều trị bỏng, vết thương mạn tính trong thẩm mỹ  và nghiên cứu  
thuốc…. So với ghép da tử thi, các vật liệu này có thuận lợi lớn là không phụ 
thuộc nguồn da người cho, việc sản xuất chúng gần như  vô hạn và hầu như 
không có nguy cơ lây nhiễm bệnh do có thể kiểm soát trước được nguồn cho 
tế bào bằng các xét nghiệm tầm soát các bệnh lây truyền qua ghép mô/tế bào.  
Có hai thành phần chính của vật liệu tương đương da là thành phần khuôn và 


thành phần tế  bào. Thành phần khuôn hay  được sử  dụng là collagen, acid  
hyaluronic, polymer tổng hợp hoặc sinh tổng hợp. Thành phần tế bào bao gồm  
các tế bào da như nguyên bào sợi, tế bào sừng là hai tế bào chủ  yếu, ngoài ra 
có thể có tế bào sắc tố… Đã có những sản phẩm thương mại sẵn có trên thị 
trường như Epicell, Integra, Transcyte, Apligraft, Dermagraft…

1.2.2. Một số loại tế bào và vật liệu điều trị vết thương từ nuôi cấy tế bào
Trị liệu tế bào nói chung đã mang lại một số kết quả đáng kể trong lâm  
sàng, một số tế bào được nuôi cấy và ứng dụng phổ biến là: 

các yếu tố như các sợi fibrin gắn kết, các yếu tố kết dính để gắn biểu bì vào 
trung bì. Vết bỏng sâu thiếu các thành phần trung bì hoặc lớp trung bì chưa  
hình thành hoặc hình thành chậm. Cần thiết phải tạo ra một lớp trung bì mới 
để tạo điều kiện cho da ghép tự thân hoặc tế bào sừng nuôi cấy che phủ lên 
vết thương cho kết quả tối  ưu nhất [40].  Hiện nay, các nhà nghiên cứu đều  
cho rằng, vật liệu thay thế  da lý tưởng nhất là phải thay thế  được cả  lớp 
trung bì và biểu bì. Sự tương tác giữa các yếu tố thuộc lớp biểu bì và trung bì 
sẽ  kích thích sự  trưởng thành của từng lớp. Boyce và Hansbrough đã tạo ra 
vật liệu thay thế da hỗn hợp (composite subtitues) g ồm nguyên bào sợi người 
nuôi cấy được cấy lên tấm màng collagen­glycosaminoglycan sau đó cho tế 
bào sừng phát triển lên trên, vật liệu này đã được thử nghiệm thành công trên  
mô hình chuột, nhưng còn một số hạn chế khi thử nghiệm lâm sàng. Một xu  
hướng khác, đơn giản hơn và không đòi hỏi cao về công nghệ đó là sử  dụng  
fibroblasts nuôi cấy đưa lên vết thương. Nguyên bào sợi sẽ  tổng hợp các 
thành phần của trung bì, tạo điều kiện cho việc ghép da tự  thân hoặc cấy 
ghép tế bào sừng thành công [33], [40], [70].  


Để điều trị bỏng sâu, cả lớp biểu bì và lớp trung bì của da cần được thay  
thế, việc điều trị bằng tấm tế bào biểu bì đơn thuần sẽ  dẫn đến chất lượng 
liền vết thương thấp. Tương phản với tấm biểu bì nuôi cấy, các cấu trúc 
trung bì từ  công nghệ  có thể  dự  phòng co kéo vết thương và tạo ra tính bền 
vững cơ  học tốt hơn. Vật liệu tương đương trung bì và biểu bì phải được 
ghép kế tiếp nhau việc làm cho tuần hoàn hóa trung bì tốt sau khi loại bỏ nền 
vết thương là cần thiết trước khi ghép lớp biểu bì [35]. Một số vật liệu này là 
mảnh ghép đồng loại đã được xử lý bằng hóa chất, ví dụ Alloderm không có  
thành   phần   tế   bào   gây   ra   đáp   ứng   miễn   dịch   thải   ghép   [77].   Ngược   lại, 
Dermagraft lại có các nguyên bào sợi từ da bao quy đầu của người được nuôi  
cấy trên lưới polyglactin có khả  năng giáng hóa [72]. Trong các vật liệu này,  
các tế  bào tiết protein  đệm gian bào, hàng loạt các yếu tố  tăng trưởng và 

thương cấp tính trên người [26].  
Các nghiên cứu gần đây gợi ý rằng, MSC có khả  năng tiết ra nhiều  
cytokin và các chất hóa ứng động khác nhau vốn có vai trò quan trọng cho hoạt  
động sửa chữa mô, thậm chí trên cả các mô hình tổn thương thận và não [73]. 
MSC làm nhanh quá trình liền vết thương là do ít nhất có 2 cách thức khác  
nhau bao gồm thông qua tăng biệt hóa tế bào và thông qua các tín hiệu ngoại  
lai. Các MSC tủy xương đã được báo cáo là có thể biệt hóa thành tế bào sừng 
trong các nghiên cứu có sử  dụng EGFP [82]. Trong các vết thương này, một 
phần trăm các tế bào có biểu hiện EGFP dương tính ở  cả  trung bì và biểu bì 
cũng có biểu hiện với keratin vốn là marker chuyên biệt của tế bào sừng. Tuy  
nhiên, với tỷ  lệ  được đưa ra là quá thấp nên MSC vẫn chưa được coi chắc 
chắn là có trách nhiệm đối với quá trình sửa chữa mô thông qua tăng biệt hóa 
chuyển dạng và tái sinh hoặc phá hủy mô [58], [82]. Những chứng cớ tích cực  
hơn cũng đã cho thấy, MSC có thể thúc đẩy liền vết thương thông qua các tín 


hiệu ngoại lai được tiết ra mà cải thiện các đáp ứng với tổn thương của các  
tế bào da cư trú tại đó. Các báo cáo gần đây bắt đầu xác định những tương tác 
ngoại lai này giữa MSC và các dạng tế bào chuyên biệt khác trong vết thương  
da [15], [22], [81]. Khi nghiên cứu các vết thương được điều trị bằng dịch nổi  
nuôi cấy MSC (dịch chiết ngoại bào MSC), các tác giả  nhận thấy dịch chiết  
ngoại bào MSC đã làm vết thương nhanh đóng kín và nó tăng hấp dẫn với các  
đại thực bào và các tế bào nội mô đầu dòng thâm nhập đến vết thương [22]  
và các thí nghiệm in vitro chỉ  ra rằng dịch ngoại bào MSC cũng thúc đẩy tế 
bào sừng và tế bào nội mô tăng sinh. Hơn nữa, MSC tủy xương còn tiết ra các 
chất hóa  ứng động với đại thực bào, tế  bào sừng và các tế  bào nội mô. Các  
quan sát này rõ ràng chỉ  ra rằng MSC tủy xương là một nguồn các tín hiệu  
ngoại lai có tác dụng điều khiển các đáp ứng tế bào quan trọng trong sửa chữa 
vết thương da. 
Do đó,   một   trong   những   hướng   nghiên   cứu   khác   trong   điều   trị   vết 

thương diện tích rộng, do cơ thể bị suy yếu… thì hậu quả là gây ra những vết 
thương vết loét lâu lành, thậm chí không liền được. Do đó công nghệ  tế  bào 
gốc đang mang lại những hy vọng lớn trong việc khắc ph ục nh ững nan gi ải  
hiện nay trong liền vết thương.   
Những tế bào gốc phôi có tiềm năng lớn thay thế toàn bộ các tế bào chức  
năng của cơ  thể. Nhưng việc sử  dụng tế bào gốc phôi vào lĩnh vực liền vết  
thương hay bất cứ lĩnh vực nào khác đang gặp phải những vấn đề về đạo đức,  
cần có nguồn thay thế. Hơn nữa, một báo cáo gần đây cho thấy tế bào gốc phôi 
của người trong nuôi cấy có biểu hiện protein không phải của người và giả 
thiết đặt ra là có thể  từ  protein chuột từ fibroblasts chuột của lớp nuôi (feeder  
layer), do đó tính an toàn của tế bào gốc phôi còn phải tiếp tục nghiên cứu [51].
Một số nguồn tế  bào gốc khác nhau từ  máu cuống rốn, tế  bào gốc máu  


ngoại vi và tuỷ  xương cũng đang được nghiên cứu [19], [32], [37], [75]. Một  
nghiên cứu trên in vivo chỉ ra rằng sự tổng hợp collagen và mức độ  bFGF và  
VEGF trong tế bào Stroma của tuỷ xương cao hơn rất nhiều so với fibroblasts  
trung bì. Điều này gợi ý khả  năng sử  dụng tế  bào tuỷ  xương tại chỗ  vết  
thương để thúc đẩy liền vết thương.
Một nghiên cứu trên in vivo chỉ ra rằng sự tổng hợp collagen và mức độ 
bFGF và VEGF trong tế bào Stroma của tuỷ xương cao hơn rất nhiều so v ới  
fibroblasts trung bì. Điều này gợi ý khả  năng sử  dụng tế  bào tuỷ  xương tại  
chỗ vết thương để thúc đẩy liền vết thương [32].
Tuy nhiên có tác dụng liền vết thương vết bỏng nhưng các nguồn tế 
bào gốc từ các mô của cơ  thể như máu tuỷ  xương, máu ngoại vi, máu cuống  
rốn, não, mỡ, gan… đều rất hạn chế về số lượng nên tính ứng dụng chưa cao. 
Trong khi đó, khai thác các nguồn tế bào gốc trung mô trưởng thành cũng đang 
là một trong những hướng nghiên cứu điều trị  vết thương. Ngoại trừ  các  
trường hợp ghép tế bào gốc trung mô đồng loại vốn sẵn có nguồn tế bào rất 
trẻ như tế bào gốc trung mô từ màng ối, dây rốn và máu cuống rốn thì đối với  

sẵn có với số lượng lớn và dễ dàng thu hồi mà ít gây những bất lợi cho bệnh  
nhân nên tế bào gốc mô mỡ có thể sẽ là nguồn tế bào đầy hứa hẹn cho y học  
tái tạo trong tương lai đặc biệt các trường hợp sử dụng ghép tự thân. Các nhà  
nghiên cứu đề xuất nhiều cách thức phân lập tế bào gốc mô mỡ khác nhau, có 
tác giả  phân lập theo cách kinh điển là nuôi mô mỡ  trong đĩa nhựa có môi  
trường dinh dưỡng và chờ  cho tế bào tự mọc từ các mẩu mô ra và thu các tế 
bào có hình sao hoặc hình thoi là tế  bào gốc trung mô. Có tác giả  lại dùng 
collagenase để  phá hủy cấu trúc mô sau đó ly tâm lọc lấy các tế  bào. Môi 
trường nuôi cấy cũng được công bố  theo nhiều công thức khác nhau, các tác  
giả   dùng   môi   trường   cơ   bản   khác   nhau   như   DMEM,   DMEM­F12,  



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status