Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Asean, tỉnh Hưng Yên - Pdf 59

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Natural Sci. 2017, Vol. 62, No. 3, pp. 127-134
This paper is available online at

DOI: 10.18173/2354-1059.2017-0016

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC
VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG ASEAN, TỈNH HƯNG YÊN

Dương Thị Anh Đào 1 và Nguyễn Thị Quyên2
1

Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2 Trường Cao đẳng Asean

Tóm tắt. Nghiên cứu được thực hiện trên 550 sinh viên từ 18 - 20 tuổi tại Trường Cao đẳng
Asean, tỉnh Hưng Yên nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ của sinh viên về sức khỏe
sinh sản và đánh giá giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho sinh viên.
Kết quả cho thấy nhận thức của sinh viên về sức khỏe sinh sản tương đối cao. Đa số sinh viên
ủng hộ quan điểm truyền thống cho rằng chỉ nên quan hệ tình dục sau khi kết hôn (73,3%), có
92,0% sinh viên cho rằng nên sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục, 96,8% sinh
viên cho rằng nên giáo dục sức khỏe sinh sản ở trường đại học, và đa số các em mong muốn
được học tất cả các nội dung liên quan đến sức khỏe sinh sản. Biện pháp can thiệp nhằm nâng
cao nhận thức cho sinh viên đã cho kết quả tốt, điểm trung bình nhận thức về sức khỏe sinh
sản của nhóm thực nghiệm (24,92 điểm) cao hơn nhóm đối chứng (14,00 điểm) (P < 0,001).
Do vậy, cần tăng cường giáo dục về sức khỏe sinh sản, thực hiện tình dục an toàn để sinh viên
nâng cao hiểu biết cũng như chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng.
Từ khóa: Sinh viên, giáo dục sức khỏe sinh sản, quan hệ tình dục.

1.


tỉnh Hưng yên. Tất cả các đối tượng có sức khỏe bình thường, không có dị tật bẩm sinh hoặc bệnh
truyền nhiễm, có trạng thái tâm sinh lí bình thường. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08 năm
2015 đến tháng 06 năm 2016.
* Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được chia thành 2 giai đoạn:
- Giai nghiên cứu cắt ngang: Tiến hành trên 450 sinh viên Khoa Điều dưỡng và khoa Dược.
Các đối tượng được chọn ngẫu nhiên và chia thành ba nhóm gồm sinh viên năm thứ nhất (khối I khoa Điều dưỡng), sinh viên năm thứ 2 (khối II - khoa Dược ) và sinh viên năm thứ 3 (khối III Hệ liên thông ngành Dược).
- Giai đoạn nghiên cứu can thiệp: Chọn ra 100 sinh viên năm thứ nhất, khoa Dược để tiến
hành nghiên cứu can thiệp. Chia thành 2 nhóm: đối chứng (ĐC) - nhóm không được can thiệp và
thực nghiệm (TN) - nhóm được can thiệp. Biện pháp can thiệp là giảng dạy các nội dung về SKSS
trong thời gian 4 tiết.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu: Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn, đã được phê duyệt bởi
Trung tâm SKSS và Kế hoạch hóa gia đình, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội để thu thập số liệu
về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, các thông tin về mức độ nhận thức, thái độ về sức khỏe
sinh sản (đặc điểm tuổi dậy thì, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua
đường tình dục...) và quan điểm về giáo dục SKSS.
- Phương pháp thiết kế bài giảng, hoạt động: Các hoạt động và bài giảng được thiết kế theo
hướng tiết học riêng: dạy kiến thức về SKSS như tuổi dậy thì, sức khỏe tình dục, tình dục an toàn,
các bệnh LTQĐTD, các BPTT trong 4 tiết học; cósử dụng các phương pháp dạy học tích cực như
phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai; phương pháp trò chơi.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá: Sau thời gian can thiệp tiến hành kiểm tra đánh giá bằng bộ
câu hỏi trắc nghiệm được thiết kế sẵn, gồm 30 câu, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm.
- Phương pháp xử lí số liệu: Số liệu thu thập được sẽ được nhập và quản lí bằng phần mềm
Epidata 3.1. Các phân tích thống kê được thực hiện trên phần mềm SPSS 16.0. Ý nghĩa thống kê
được xác định với giá trị P < 0,05 theo 2 phía. So sánh tỉ lệ phần trăm bằng 2– test.

2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.2.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu được trình bày ở Bảng 1.

Nam

18,0

23,3

17,3

19,6

Nữ

82,0

76,7

82,7

80,4

0,357

Dân tộc
Kinh

92,0

96,7

96,7

7,3

62,0

23,8

Góa vợ/chồng

2,0

2,0

0,0

1,3

Sống chung, không kết
hôn

0,7

0,7

0,0

0,5

< 0,001

Khu vực sống

so với nghiên cứu của tác giả Tôn Thất Chiểu (22,4 %) [3] và nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga
cùng cộng sự thực hiện tại Na Rì, Bắc Kạn (22,8 %) [4].
Dấu hiệu thay đổi về tâm lí mà sinh viên nhận thấy rõ nhất khi bắt đầu tuổi dậy thì là
“Tính tình thay đổi” chiếm 73,3% và có sự sai khác giữa các khối (P = 0,01), tiếp đến là
“Quan tâm nhiều đến hình thức” chiếm 72,2%; “Muốn người khác chú ý đến mình” chiếm 54,7%;
“Tò mò” chiếm 51,1%; “Thích giao tiếp với bạn khác giới” chiếm 48,4% và “Hiếu thắng” là
26,0%; các lí do khác như “Thích nhìn cơ thể bạn khác giới”, “Thích chơi với bạn khác giới”
chiếm 2,1%. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Tôn Thất Chiểu tiến hành ở Thừa
Thiên Huế với “Tính tình thay đổi” là 30,1 % và “Thích giao tiếp với bạn khác giới” là 27,1 % [3].
Tỉ lệ sinh viên nhận biết được trên 5 dấu hiệu thay đổi về thể chất và sinh lí chiếm 45,3%, về
tâm lí chỉ có 11,1%. Điều này cho thấy mặc dù các em đã cảm nhận được và chú ý đến những
thay đổi của mình trong giai đoạn này, nhưng những dấu hiệu về tâm lí là những dấu hiệu không
rõ ràng nên các em vẫn khó nhận biết.
* Hiểu biết về quan hệ tình dục
Hiểu biết về quan hệ tình dục (QHTD) của sinh viên được thể hiện như trong Bảng 2.
129


Dương Thị Anh Đào và Nguyễn Thị Quyên

Bảng 2. Hiểu biết về quan hệ tình dục của sinh viên
Đặc điểm

Ý
kiến về
QHTD
trong và
ngoài
hôn
nhân


Chỉ nên có QHTD
trong hôn nhân

72,0

64,0

84,0

73,3

< 0,001

Có thể QHTD khi
yêu nhưng chắc chắn
sẽ kết hôn

42,7

36,7

28,0

35,8

0,029

Có thể QHTD khi
yêu nhau

7,0

2,4

0,225

Có thể có thai ngoài
ý muốn

96,7

86,7

97,3

93,6

< 0,001

Có thể phải nghỉ học
và kết hôn sớm

84,0

80,7

86,7

83,8


thấy vẫn còn một tỉ lệ nhỏ sinh viên chưa nhận thức được hậu quả của việc QHTD trước hôn nhân.
* Hiểu biết về các biện pháp tránh thai và hậu quả của nạo phá thai
Kết quả nghiên cứu hiểu biết của sinh viên về các biện pháp tránh thai (BPTT) được thể hiện
trong Hình 1.
Có 92,0% sinh viên cho rằng nên sử dụng BPTT khi QHTD, 6,2% các em không đưa ra được
quan điểm nên lựa chọn “Không biết” và 1,8% cho rằng không nên sử dụng BPTT khi QHTD.
Biện pháp tránh thai sinh viên biết đến và nghĩ nên sử dụng nhiều nhất là bao cao su (93,6%).
Kết quả này cao hơn với nghiên cứu của Phạm Thị Hương Trà Linh trên đối tượng sinh viên
Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ là 80% [5] và sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
130


Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên Trường Cao đẳng Asean…

(80,2%) [6]. Điều này có lẽ do bao cao su là BPTT được tuyên truyền, quảng cáo nhiều, dễ sử
dụng và có hiệu quả tránh thai cũng như phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục cao.
Về nạo, phá thai, có 88,2 % sinh viên hiểu đúng về nạo, phá thai không phải là BPTT. Còn
khi được hỏi về “Hậu quả của nạo phá thai”, hầu hết các em đều nhận thức rõ được các tác hại của
nạo, phá thai. Hậu quả mà các em biết đến nhiều nhất là vô sinh (96,9%).
Tuy nhiên, vẫn còn 8% sinh viên không biết hoặc cho rằng không nên sử dụng BPTT khi
QHTD; 7,3% không biết bất kì một BPTT nào; và 11,8% sinh viên không biết hoặc hiểu không
đúng về nạo, phá thai.

Hình 1. Tỉ lệ hiểu biết của sinh viên về các BPTT
* Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục
Điều tra hiểu biết của sinh viên về bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) cho thấy
bệnh mà sinh viên biết nhiều nhất là bệnh giang mai (91,3%), tiếp đến là bệnh lậu (90,9%), bệnh
nấm cơ quan sinh sinh dục (84,2%). Tỉ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng
Hạnh và cộng sự (bệnh giang mai 89,9%; bệnh lậu 88,3%) [7] và nghiên cứu ở sinh viên Cao đẳng
Sư phạm Thái Bình (bệnh giang mai 75,3%, bệnh lậu 71,3%) [6]. Tuy nhiên, còn một tỉ lệ lớn

* Ý kiến về tích hợp kiến thức sức khỏe sinh sản trong chương trình giáo dục đại học
Hầu hết sinh viên (96,8%) đều cho rằng nên đưa kiến thức SKSS vào chương trình giáo dục
cao đẳng, đại học. Kết quả điều tra về vấn đề tích hợp kiến thức SKSS trong chương trình giáo
dục đại học (GDĐH) được thể hiện trong Hình 2.

Hình 2. Tỉ lệ lựa chọn phương pháp thu nhận kiến thức về sức khỏe sinh sản
Phương pháp thu nhận kiến thức về sức khỏe sinh sản mà sinh viên mong muốn nhất là qua
“Người dạy thuyết trình” (82,7%), và phương pháp mà sinh viên ít mong muốn nhất là
“Người học tự tìm hiểu và trình bày”(46,7%).
Đa số các em đều mong muốn được học về tất cả các kiến thức liên quan đến SKSS. Trong
đó, nội dung SKSS mà sinh viên mong muốn được học nhiều nhất là “Chăm sóc sức khỏe bà mẹ
và trẻ em” (91,6%). Kết quả này khác so với nghiên cứu của chúng tôi trên đối tượng sinh viên
Cao đẳng Sư phạm Thái Bình (nội dung mà các em mong muốn được học nhiều nhất là SKSS vị
thành niên (86,0%) [8]. Sự khác biệt này có lẽ do trong nghiên cứu này có nhiều sinh viên đã có
gia đình vì vậy nhu cầu học các kiến thức về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em sẽ thiết thực hơn
với các em. Ngoài ra, có 76,9 % mong muốn được học về “Giới, đồng giới, bình đẳng giới và bạo
lực giới”; 74,7% cho rằng nên học về “Vô sinh”. Điều này cho thấy bình đẳng giới và vô sinh
cũng là những vấn đề đang được xã hội hiện nay quan tâm. Nội dung về SKSS mong muốn được
học, giữa các khối có sự sai khác ý nghĩa (P < 0,05), sinh viên khối I có nhu cầu học tất cả các nội
dung về SKSS cao hơn khối II và III.
2.2.4. Kết quả can thiệp nhằm nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho sinh viên
Kết quả đánh giá bài kiểm tra kiến thức SKSS của nhóm đối chứng (ĐC) và thực nghiệm
(TN) được thể hiện trong Bảng 3.
Bảng 3 cho thấy nhận thức về SKSS của sinh viên ở nhóm ĐC rất hạn chế, tỉ lệ sinh viên
nhận thức về SKSS ở mức trung bình và yếu lớn (94,0%), tỉ lệ khá (6,0%) và không có sinh viên
nào đạt giỏi. Đối với nhóm TN, sau khi được học 4 tiết về các nội dung liên quan đến SKSS, nhận
thức của các em đã được nâng lên một cách rõ rệt, 100% sinh viên đạt loại khá, giỏi (giỏi 42,0%,
khá 58,0%). Đồng thời, điểm trung bình nhận thức của nhóm TN (24,92 điểm) cao hơn hẳn so với
nhóm ĐC (14,00 điểm) và sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P < 0,001). So sánh với kết quả
132


21

42,0

< 0,001b

Khá (20-25 điểm)

3

6,0

29

58,0

< 0,001b

TB (16-19 điểm)

17

34,0

0

0,0

< 0,001b

đổi về thể chất, sinh lí và tâm lí khi bước vào tuổi dậy thì, về các biện pháp tránh thai và các
BLTQĐTD. Đa số sinh viên (73,3%) ủng hộ quan điểm truyền thống cho rằng chỉ nên QHTD sau
khi kết hôn, 92,0% sinh viên cho rằng nên sử dụng BPTT khi QHTD, có 98,9% sinh viên cho rằng
giáo dục SKSS cho vị thành niên, thanh niên hợp lí nhất là nhà trường (88,9%).
Việc giảng dạy lí thuyết những kiến thức liên quan đến SKSS cho sinh viên đã mang lại hiệu
quả cao. Điểm trung bình trung nhận thức của nhóm TN (24,92 điểm) cao hơn so với nhóm ĐC
(14,00 điểm) (P < 0,001).
Tuy nhiên vẫn còn một số sinh viên cho rằng không nên sử dụng BPTT khi QHTD (8%),
7,3% không biết bất kì một BPTT nào và 11,8% sinh viên không biết hoặc hiểu không đúng về
nạo, phá thai. Do vậy cần tăng cường các biện pháp giáo dục về sức khỏe sinh sản để sinh viên
nâng cao hiểu biết cũng như chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3]

Bộ Y tế và Tổng cục Dân số, 2010. Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt
Nam lần thứ 2 (SAVY 2).
Mai Xuân Phương, 2014. Thực trạng chung về mang thai tuổi vị thành niên và các chương
trình/chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. Tạp chí Dân số và Phát triển, (12).
Tôn Thất Chiểu, 2012. Khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về SKSS của vị thành
niên - thanh niên 15 - 24 tuổi vùng ven biển, đầm phá, vạn đò tỉnh Thừa Thiên Huế năm
2010. Tạp chí Y học Thực hành, Số 805.
133


Dương Thị Anh Đào và Nguyễn Thị Quyên

[4]



Duong Thi Anh Dao 1 and Nguyen Thi Quyen2
1

Faculty of Biology, Hanoi National University of Education
2
Medical and Pharmaceutical College ASEAN

This study was conducted on 550 students at the age of 18 - 20 at Asean College, Hung Yen
province, Vietnam with an aim to find actual status of knowledge, attitude on reproductive health
of students and evaluating solutions to raise awareness of reproductive health. Results showed that
students' knowledge about reproductive health was relatively high. Most students supported the
traditional view that sex should be happened only after marriage (73.3%); 92.0% of students
thought they needed to use contraceptives during sex, 96.8% of students thought that reproductive
health education should be taught at college, and most of them wish to learn about reproductive
health. Interventions to raising awareness of students had good results, average points of
awareness of reproductive health in the experimental group (24.92 points) higher than that of the
control group (14.00 points) (P < 0.001). The necessary solutions should be done, such as
strengthening of education about reproductive health and safety sexual knowledge, to enhance
student’s knowledge and protect them and community from sexually transmitted diseases.
Keywords: Students, reproductive health, sexual activity.

134




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status