Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Lê Thanh Giang

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS. LÊ XUÂN HỒNG

THPT : Trung học phổ thông
SL : Số lượng
TL : Tỉ lệ
CBG : Chưa bao giờ
HK : Hiếm khi
TT : Thỉnh thoảng
TX : Thường xuyên
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, cách mạng khoa học
công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao đã thúc quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới,
quốc tế hóa nền sản xuất và đời sống xã hội. Cạnh tranh kinh tế, thương mại và khoa học công nghệ diễn ra gay
gắt. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, yếu tố con người trở nên có vai trò quyết định đối với sự
phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng trở thành lợi thế không nhỏ
trong sự phát triển của đất nước. Bởi vậy, bước vào thể kỷ XXI việc ưu tiên phát triển sự nghiệp giáo dục để
đào tạo nguồn nhân lực đã trở thành nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của nhiều quốc gia. Giáo dục trở thành nhân
tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển cũng như
các nước đang phát triển đều coi giáo dục là nhân tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi
quốc gia. Năm 1992 UNESCO đã chỉ rõ
: “ không có sự tiến bộ và thành đạt nào mà có thể tách khỏi sự tiến bộ
và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục”[63].
Trên cơ sở nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng
việc phát triển giáo dục và đào tạo. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định: “con người
và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần
tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục v
à đào tạo”[22]. Đây là yêu cầu cấp bách đối với toàn xã hội.
Trong đó ngành giáo dục giữ vai trò quan trọng nhất. Để làm được điều này vấn đề cấp thiết đặt ra cho giáo dục
là phải: “tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học”[22].
Thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo

4.Giả thuyết nghiên cứu
Nếu hiệu trưởng các trường THPT xây dựng được hệ thống các biện pháp quản lý việc sử dụng TBDH
của giáo viên có cơ sở khoa học, thì việc sử dụng TBDH của giáo viên trong dạy học sẽ tốt hơn, góp phần nâng
cao hiệu quả của hoạt động dạy và học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý việc sử dụng TBDH của giáo viên.
- Khảo sát thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở một số trường THPT tỉnh Cà Mau.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của giáo viên.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các văn bản, tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Chúng tôi tiến hành xây dựng phiếu hỏi dựa trên cơ sở lí
luận, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài để khảo sát thực trạng quản lý việc sử dụng TBDH tại các
trường THPT trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo
có nhiều kinh nghiệm.
- Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ GV để thu thập thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp toán thống kê: Xử lí kết quả điều tra bằng phương pháp tính phần trăm(%) và tính giá
trị trung bình nhằm phân tích, đánh giá thực trạng làm cơ sở để đề ra giải pháp thích hợp.
7. Phạm vi nghiên cứu
Tỉnh Cà Mau có 26 trường THPT, người nghiên cứu chọn 6 trường, đại diện hai khu vực là khu vực
thành thị và khu vực nông thôn để nghiên cứu cụ thể là các trường như sau:
- THPT U Minh.
- THPT Khánh Lâm.
- THPT Trần Văn Thời.
- THPT Thới Bình.
- THPT Cái Nước.
- THPT Đầm Dơi.

sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của cơ sở vật chất TBDH ở trường phổ thông. Các tác giả trong công
trình nghiên cứu trên đã nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là
mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng
nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao
với yêu cầu sử dụng TBDH. Người GV không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà
còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào,
liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lí HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử
dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực
sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS” [17, tr.29].
Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” [28] do Bùi Minh Hiền chủ biên, ở chương 10 đã đề cập đến các vấn đề
lí luận về vai trò của TBDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm TBDH mà
người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc và giải pháp quản lý TBDH ở nhà trường THPT trong
giai đoạn hiện nay.
Bài viết: “Nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trường THCS”[66] tác giả Trần Đức Vượng thuộc Viện
Chiến lược và Chương trình giáo dục. Qua khảo sát việc sử dụng TBDH ở nhiều địa phương tác giả đã rút ra
một số nguyên nhân dẫn đến sử dụng không hiệu quả TBDH như: “ Trình độ sử dụng TBDH của giáo viên còn
thấp, đội ngũ quản lý giáo dục ở một vài địa phương chưa thật sự chú trọng chỉ đạo việc sử dụng có hiệu quả
TBDH …”[66, tr.39]. Đồng thời tác giả cũng đã đề ra một số các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH.
Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu về lí luận và thực tiễn, đồng thời đề
ra các giải pháp về quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học, quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật
chất – kỹ thuật trường học hoặc đi sâu vào nghiên cứu sử dụng một loại phương tiện cụ thể để giảng dạy một
môn học cụ thể, vẫn chưa có nghiên cứu nào về vấn đề quản lý việc sử dụng TBDH của giáo viên trường
THPT tỉnh Cà Mau.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu
1.2.1. Quản lý
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Nói
về sự quản lý Các Mác đã viết: “Tất cả hoạt động lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân. Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[ 28- 12]
Theo Trần Kiểm: “ Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết

thống giáo dục quốc dân.
Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm l
àm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của
Đảng thực hiện được các tiêu chí của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình
dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất.”[45].
Từ những khái niệm trên ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động có tổ chức,
có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động
giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định. 1.2.3. Quản lý trường học
Quản lý trường học hay quản lý nhà trường là quản lý giáo dục trong một trường học cụ thể “là hệ thống
những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài
nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”[36, tr.37].
1.2.4. Quản lý quá trình dạy học
Là tác động có mục đích của người quản lý lên quá trình dạy học nhằm thực hiện tốt các khâu: Nhận thức,
rèn luyện kỹ năng, thúc đẩy nâng cao chất lượng hiệu quả quá trình dạy học.
1.2.5. Thiết bị dạy học
Trong công tác dạy và học ngoài thầy trò, chương trình sách giáo khoa trường lớp … thường phải sử
dụng đến TBDH. TBDH là một bộ phận cơ sở vật chất trường học trực tiếp có mặt trong các giờ học được thầy
trò cùng sử dụng.
Có nhiều quan niệm khác nhau về TBDH:
Theo Lotx Kinbơ thì: “TBDH là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết giúp cho GV và HS tổ chức
và tiến hành hợp lí có hiệu quả quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học, cấp học”[ 17, tr.11].
Theo Vũ Trọng Rỹ “TBDH là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người
GV sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS. Còn đối với HS thì đó là nguồn
tri thức, là phương tiện giúp HS lĩnh hội các khái niệm, định luật …hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo, đảm
bảo việc giáo dục, phục vụ mục đích dạy học và giáo dục”.[51, tr.259]

tiêu, nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Vị trí của trường trung học: Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc
dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng.
Mục tiêu của giáo dục THPT là nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục
trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng
nghiệp, có điều khiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của Chương trình giáo dục phổ thông.
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên.
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang TBDH theo quy định Nhà nước.
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, HS tham gia các hoạt động xã hội.
- Huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với gia đình HS, tổ chức
cá nhân trong hoạt động giáo dục.
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền
kiểm định chất lượng giáo dục.
- Thực hiện nhiệm vụ quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Vai trò của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học
- Mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, quy trình đào tạo là các
yếu tố quy định thiết bị dạy học về các mặt: Trang bị ,sử dụng, bảo quản.
- Thiết bị dạy học là cầu nối để người học, người dạy cùng hành động tương hợp với
nhau, sử dụng phương pháp đào tạo chiếm lĩnh được nội dung và mục tiêu đào tạo, nó góp phần
quyết định chất lượng đào tạo, nó hỗ trợ đắc lực ch
o thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
TBDH là một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện nội dung giáo dưỡng, giáo dục và
phát triển học sinh trong quá trình dạy học. Đối với các môn học ở trường phổ thông, TBDH giữ vai trò đặc biệt
quan trọng và được thể hiện trên những nội dung cụ thể sau đây:

Giáo dục nhân cách HS: sử dụng TBDH giúp bồi dưỡng cho HS khả năng quan sát, tính cần c
ù, trung
thực, tác phong làm việc nghiêm túc, ngăn nắp, khoa học.
Hợp lí hoá quá trình hoạt động của GV và HS: Sử dụng THDH sẽ làm gia tăng cường độ lao động
của HS, tạo điều kiện nâng cao nhịp độ nghiên cứu tài liệu giáo khoa. Sử dụng tốt TBDH giúp GV và HS mất
ít thời gian và công sức vào tổ chức phụ trong lớp, dành thời gian cho việc thực hiện có hiệu quả cao giờ lên
lớp.
Thiết bị dạy học vật chất hóa phương pháp đào tạo, làm tăng năng suất lao động
của giáo viên và học sinh: Thiết bị dạy học là công cụ lao động của giáo viên và học sinh, vật
chất hóa phương pháp đào tạo. Góp phần tích cực vào giải phóng sức lao động của thầy trò tạo
điều kiện cho hoạt động dạy học diễn ra hợp lý, đúng quy luật.
Thiết bị dạy học tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hóa mục tiêu đào tạo, góp phần
làm cho quá trình đào tạo có chất lượng hiệu quả: Là nguồn thông tin thể hiện nội dung dạy
học gây cảm xúc và tạo biểu tượng về đối tượng học tập:
Yêu cầu cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo chỉ có thể thực hiện được khi có thiết bị dạy
học đủ mạnh t
heo sự tiến bộ của nội dung đào tạo và phương pháp đào tạo.
Không có sự tương hợp nhau về nội dung phương pháp đào tạo với thiết bị dạy học thì
sớm muộn việc thực hiện mục tiêu đào tạo sẽ bị kìm hãm, quá trình đào tạo sẽ bị phá vỡ sự cân
đối toàn vẹn và nền giáo dục sẽ bị suy thoái.
Tóm lại : TBDH đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng quá trình dạy- học. Bởi
vì nó là một thành tố của quá trình dạy – học và có quan hệ tương hỗ với tất cả các thành tố khác của quá trình
dạy học. Do đó quản lý để nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH là một trong những yếu tố để góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục.
1.3.3. Phân loại thiết bị dạy học
TBDH rất phong phú, đa dạng và thay đổi theo thời gian cùng với sự pháp triển của khoa học – kỹ thuật.
Vì vậy vấn đề phân loại TBDH là một vấn đề phức tạp. Có nhiều cách phân loại khác nhau, mỗi cách đều dựa
trên một tiêu chí nào đó, phục vụ một mục đích sư phạm nhất định. Chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm
phân loại TBDH tương đối phổ biến sau:
Phân loại theo cách thức tiếp cận thông tin gồm có:

thác các nguồn vốn để từng bước hiện đại hóa TBDH.
- Nguyên tắc tuân thủ chu trình quản lý
Tất cả những người tham gia QLTBDH đều phải tuân thủ tác động từ khâu trang bị, sử dụng, bảo quản. Ở
mỗi khâu này nó đều gắn với việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo điều hành và kiểm tra giám sát, điều
chỉnh phân tích tổng kết, rút kinh nghiệm.
1.3.6. Cơ sở của việc sử dụng và quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học
1.3.6.1. Cở sở của khoa học giáo dục
Quá trình dạy học bao gồm các thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức dạy
học, hoạt động thầy trò và kết quả. Các thành tố này hoạt động trong môi trường tương tác với nhau, đảm bảo
cho quá trình diễn ra hài hoà, cân đối và toàn vẹn.
Ba nhân tố mục đích nội dung và phương pháp liên kết chặt chẽ với nhau, qui định và hỗ trợ nhau.
Chúng có quan hệ với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, trạng thái tiến bộ về văn hoá, khoa học của đất nước,
chúng tạo ra cái lõi của quá trình dạy học. Mối quan hệ này thể hiện qua sơ đồ sau: Hình 1.1 Mối quan hệ giữa mục đích, nội dung và phương pháp
Ba nhân tố lực lượng đào tạo (Giáo viên) đối tượng đào tạo (HS) và TBDH là các lực lượng vật chất, để
thực hiện hoá được mục tiêu đào tạo, tái tạo, sáng tạo nội dung đào tạo và phương pháp đào tạo. TBDH là cầu
nối để GV, HS cùng hành động tương hợp với nhau chiếm lĩnh nội dung đào tạo, thực hiện mục tiêu đào tạo, sử
dụng phương pháp đào tạo. M


quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự
nhận thức chân lí, của sự nhận thức khách quan.”[44, tr. 198].
Thiết bị dạy học được sử dụng hợp lí trong quá trình dạy học của giáo v
iên sẽ tác động lên các giác quan
của học sinh, giúp cho các quá trình nhận thức của học sinh hoạt động tích cực, học sinh lĩnh hội kiến thức và
rèn luyện những kĩ năng thuận lợi hơn, dễ dàng hơn và có hiệu quả hơn.
Như vậy, xét trên quan điểm duy vật biện chứng, TBDH là một trong những cơ sở chủ yếu giúp cho HS
nhận thức được thế giới khách quan, lĩnh hội tri thức khoa học, phát triển tư duy.
GV HS

TBDH
MTT

GV HS
NDT PPT

TBDH
1.3.6.3. Cơ sở tâm lí học của nhận thức
Quá trình nhận thức trãi qua hai giai đoạn.
Nhận thức cảm tính bao gồm các quá trình cảm giác, tri giác và biểu tượng, đây là quá trình phản ảnh
những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của các sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con
người. Giai đoạn nhận thức này có vai trò thiết lập mối quan hệ tâm lí của cơ thể với môi trường, định hướng và
điều chỉnh hoạt động của con người với môi trường.
Nhận thức lí tính, là quá trình phản ánh trọn vẹn và sâu sắc về bản chất, các mối liên hệ có tính quy

- Ở Ấn Độ, tổng kết quá trình dạy học người ta cũng nói:
TÔI NGHE – TÔI QUÊN
TÔI NHÌN – TÔI NHỚ
TÔI LÀM – TÔI HIỂU
Qua các kết quả trên cho thấy càng nhiều giác quan tham gia vào quá trình nhận thức học tập của HS thì
quá trình tiếp thu kiến thức càng hiệu quả, sâu sắc và nhanh chóng, khả năng ghi nhớ, vận dụng vào thực tiễn
càng phát triển.
Muốn huy động được nhiều giác quan vào quá trình nhận thức của HS thì quá trình dạy học cần phải sử
dụng TBDH một cách hợp lí, đúng mục đích, đúng mức độ và cường độ, đồng thời cũng phải bảo đảm các yêu
cầu của TBDH.
1.3.6.5. Cơ sở pháp lí của việc sử dụng và quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học
Dựa trên Luật Giáo dục quy định. Dựa trên Điều lệ trường trung học và các văn bản
hướng dẫn chỉ đạo của các cấp, các ngành về công tác thiết bị trường học, mọi công tác quản lý
sử dụng thiết bị dạy học phải tuân theo quy định của Nhà nước.
Thiết bị dạy học được mua sắm, trang bị từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau. Song dù từ
nguồn nào đi nữa đó cũng là tài sản chung của nhà trường, của Nhà nước cho nên nó phải được
quản lý chặt chẽ. Quản lý sử dụng phải tuân thủ các nguyên tắc tổng quát đặt ra, xem
xét từ các
yêu cầu về tính khoa học, tính sư phạm, tính mục đích, tính thẫm mỹ, về đặc trưng của ngành,
bộ môn và yêu cầu về kinh tế.
1.3.7. Những yêu cầu về thiết bị dạy học trong việc nâng cao chất lượng dạy học
Khi đầu tư trang bị, yêu cầu thiết bị dạy học đảm bảo 4 tính sau:
- Tính sư phạm: Yêu cầu thiết bị dạy học phải đảm bảo tính sư phạm tức là thiết bị dạy học tác động đến
tư tưởng, tình cảm, niềm tin của HS trong quá trình dạy học.
- Tính kinh tế: thiết bị dạy học được trang bị phải phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi nhà trường, phù
hợp với nguồn vốn ở mỗi thời điểm cụ thể.
- Tính kỹ thuật: thiết bị dạy học phải đảm bảo tính khoa học, tính hiện đại phù hợp với sự tiến bộ khoa
học kỹ th
uật hiện nay và nhiều khi còn mang tính đón đầu công nghệ mới. thiết bị dạy học phải dễ sử dụng,
tránh sự lạc hậu quá nhanh.

- Nhóm các vật liệu nghe nhìn: Các tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu, bảng ghi hình, ghi
âm, phim giáo khoa, phim đèn chiếu, bảng trong, đĩa mềm máy tính...
- Nhóm các thiết bị kĩ thuật: thiết bị ch
iếu động, chiếu tĩnh, thiết bị âm thanh, Hệ thống
máy tính kết hợp với máy chiếu
- Nhóm các phương tiện hỗ trợ: Các bộ gá lắp, hệ điều khiển...
1.4.2. Những yêu cần về quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông
Chức năng QL Công tác QL Sử dụng TBDH
Lập kế hoạch
Lập kế hoạch sử dụng
Tổ chức
Tổ chức sử dụng
Chỉ đạo
Chỉ đạo sử dụng
Kiểm tra
Kiểm tra sử dụng
Lập kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học
Khảo sát hiện trạng thiết bị dạy học, những thông số cơ bản về số lượng, chất lượng, tình
hình sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học.
Đánh giá mức độ trang bị thiết bị dạy học so với yêu cầu dạy và học của nhà trường đồng
thời xác định hiệu quả khai thác các thiết bị dạy học hiện có.
Xây dựng kế hoạch tăng cường trang bị và nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo quản, mua
sắm, sửa chữa, tự làm, sưu tầm thiết bị dạy học.
Tổ chức và chỉ đạo công tác thiết bị dạy học: Đây là khâu có tính chất quyết định trong
việc thực hiện kế hoạch đề ra trong đó đặc biệt là phân cấp quản lí t
rong nội bộ nhà trường và
từng thành viên liên quan.
Kiểm tra và đánh giá: Là một khâu trong công tác quản lí thiết bị dạy học với 3 yêu cầu:
đánh giá, phát hiện và điều chỉnh.
Kiểm tra việc mua sắm thiết bị dạy học theo kế hoạch về số lượng, chất lượng, chủng loại

- GV tổ chức cho các cá nhân HS sử dụng.
- GV tổ chức cho nhóm sử dụng.
- GV hướng dẫn cho HS sử dụng để chiếm lĩnh tri thức mới.
Quá trình sử dụng
- GV sử dụng loại TBDH gì, có phù hợp với nội dung bài giảng không.
- Mục đích sử dụng là nhằm làm gì.
- Kỹ thuật sử dụng: Thành thạo, các thao tác với công cụ.
- Phù hợp với không gian, thời gian và cường độ.
- Kết quả của việc sử dụng.
1.4.3.3. Qui trình sử dụng thiết bị dạy học
Giai đoạn chuẩn bị: Đây là giai đoạn quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của quá
trình sử dụng TBDH. Nếu quá trình chuẩn bị càng chu đáo, bài bản bao nhiêu thì quá trình sử dụng càng thuận
lợi và dễ dàng bấy nhiêu. Quá trình chuẩn bị cho việc sử dụng TBDH (cho một tiết dạy, thí nghiệm, thực hành)
bao gồm các bước sau:
Bước 1: lựa chọn TBDH là tìm những TBDH phù hợp nhất với nội dung bài giảng mà trong danh mục
TBDH của nhà trường có. Khi lựa chọn TBDH cần căn cứ vào các yêu cầu sau:
- Căn cứ vào nội dung bài học.
- Căn cứ vào danh mục TBDH hiện có của trường.
- Căn cứ vào kế hoạch sử dụng TBDH của bộ môn.
- Kĩ năng sử dụng TBDH của người sử dụng.
- Điều kiện thực tế của nhà trường.
- Khả năng sáng chế TBDH của GV.
Sau khi lựa chọn tiến hành viết phiếu mượn và mượn TBDH.
Bước 2: Kiểm tra TBDH là xem xét thiết bị có đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học sư phạm, tính
nhân trắc học, tính thẫm mỹ, tính khoa học kỹ thuật, tính an toàn.(TBDH khi đưa vào sử dụng thì đều bảo đảm
các yêu cầu trên, nhưng do trong quá trình sử dụng có những thiết bị hư, hỏng và quá hạn sử dụng nên trước khi
sử dụng thì cần phải kiểm tra trước để xem TBDH có đảm bảo không). Sau khi kiểm tra thiết bị không bảo đảm
thì lựa chọn lại, và tìm TBDH khác thay thế nó.
Bước 3: Dự kiến phương án sử dụng và phương án dự phòng đây cũng chính là kế hoạch bài giảng
(giáo án). Bước này cho biết TBDH được sử dụng ở khâu nào, bước nào, hoạt động nào, bố trí thiết bị như thế

động. Như vậy, hiệu quả nào đó, về nguyên tắc được xác định trên cơ sở hiệu lực, tác dụng tương ứng, hiệu suất
vận hành và kết quả thu được xét cả về số lượng lẫn chất lượng. Khái niệm hiệu quả chỉ được xác định cụ thể
và nhu cầu đánh giá cụ thể, không có hiệu quả chung chung. CHUẨN
BỊ

THỰC
HIỆN

TỔNG
KẾT
RÚT
KINH
NGHIỆM
Lựa chọn TBDH
Kiểm tra

Dự trù phương án sử
dụng
Sử dụng thử
Triển khai thiết bị
Khai thác tính năng của thiết bị
Kết thúc sử dụng
Nội dung
Kỹ năng
Sử dụng
Lựa chọn lại
Chưa đảm bảo

+ Tần suất sử dụng: Là số lần sử dụng TBDH trong một khoảng thời gian (học kỳ, năm học) xét theo
từng loại so với yêu cầu giảng dạy môn học đã qui định trong chương trình và kế hoạch dạy học. Đây là tiêu chí
quan trọng nhất khi đánh giá hiệu quả sử dụng TBDH. Tần suất sử dụng TBDH càng cao thì người sử dụng
(GV, HS, phụ tá thí nghiệm) càng có cơ hội thuần thục hơn và hiệu quả sử dụng TBDH có cơ hội được nâng
cao. Tuy nhiên, không phải cứ sử dụng nhiều lần TBDH là đương nhiên nâng cao hiệu quả sử dụng.
+ Mức độ và thái độ sử dụng: Tiêu chí này xét theo khả năng khai thác thực tế của GV và HS so với
tính năng kỹ thuật và tính năng sư phạm của TBDH. Về thái độ là xem xét GV có tự giác sử dụng TBDH không
hay là bị bắt buộc, hay vì một động cơ nào đó?
HS có hào hứng với các bài có sử dụng TBDH không ? …
+ Tính thạo sử dụng TBDH: Tiêu chí này xét theo kỹ năng sử dụng của GV và HS trong quá trình sử
dụng TBDH gồm: Trình độ sử dụng TBDH có được nâng cao không. Năng lực thực hành, năng lực tư duy có
được phát triển không… Tỉ lệ khắc phục thành công các sự cố xảy ra về kĩ thuật an toàn trong quá trình sử dụng
TBDH. Tỉ lệ những sáng kiến, phát triển các ứng dụng sư phạm mới của thiết bị m
à GV và HS thực hiện.
+ Tính kinh tế của sử dụng TBDH: Là nói đến chất lượng của TBDH và sự bền vững của TBDH
trong sử dụng: Tính năng và chất lượng của TBDH có đúng như Cataloge không; có bảo đảm thời hạn sử dụng
thực tế….
+ Phục vụ đổi mới phương pháp dạy học: Trong quá trình sử dụng TBDH, HS có được hoạt động
nhiều hơn không, có tích cực suy nghĩ và tham gia thảo luận nhiều hơn không. Căn cứ vào mức độ biểu hiện đó
mà chúng ta đánh giá vai trò của TBDH với việc đổi mới phương pháp dạy học.
1.4.3.5. Nội dung công tác kiểm tra việc sử dụng thiết bị dạy học
Chuẩn bị
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra.
- Xây dựng tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá.
- Xây dựng nội dung kiểm tra.
- Xây dựng hình thức và phương pháp kiểm tra.
Thực hiện
- Xác định thời gian.
- Dự kiến đối tượng.
- Xác định hình thức kiểm tra.

thầy và học của trò trong một nhà trường. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đang thực hiện đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học, người cán bộ TBDH phải nắm chắc kiến thức chuyên môn, phương pháp dạy học có sử
dụng các thiết bị giáo dục. Chúng ta chưa bàn đến tâm lí của người làm công tác TBDH hoặc về vị trí của công
việc này mà chỉ nói đến việc nếu quản lý TBDH tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
Có tinh thần, thái độ và trách nhiệm cao và với công việc quản lý nghiệp vụ thiết bị giáo dục của trường
học. Vì vậy, phẩm chất bền bỉ, tỉ mỉ và cần cù làm việc, xây dựng tác phong làm việc khoa học là yếu tố thành
công của người phụ trách phòng TBDH.
Có tinh thần đoàn kết thân ái giữ đúng nguyên tắc xuất nhập các thiết bị thí nghiệm với thái độ ôn hoà
khi chuẩn bị thiết bị giáo dục, đóng một vai trò quan trọng trong việc hoàn thành chất lượng các bài lên lớp.
Cấu trúc phòng thiết bị dạy học.
Để nâng
cao chất lượng sử dụng và khai thác có hiệu quả các TBDH được trang bị, nhà trường phải bố trí,
sắp xếp hợp lý, khoa học các phòng TBDH. Một số yếu tố cơ bản mang tính nguyên tắc tác động đến hiệu quả
hoạt động của phòng TBDH ở trường THPT là:
Phòng TBDH phải được bố trí ở nơi thoáng mát, cao ráo và sáng sủa thuận lợi cho việc di chuyển của giáo
viên và học sinh trong trường.
Bên trong của phòng TBDH phải phân ra nhiều lô hoặc nhiều góc. Mỗi lô dành cho thiết bị của một lớp.
Mỗi lớp lại chia nhiều ngăn chứa thiết bị, mỗi ngăn là một vị trí dành cho thiết bị của một bộ m
ôn. Sắp xếp như
vậy, khi người cán bộ thiết bị hoặc giáo viên cần sử dụng thiết bị của môn nào, của lớp nào có thể nhìn thấy
ngay không phải mất công tìm kiếm ...
Các TBDH được đánh mã số theo sơ đồ. Nghĩa là mỗi thiết bị đã nằm trong phòng TBDH đều có tên, có mã
số và vị trí nhất định. Ngay các dụng cụ hoặc các lọ đựng hoá chất để trong hộp cũng phải có sơ đồ chỉ rõ từng
vị trí của các lọ hoá chất . Như vậy rất thuận lợi cho việc lấy ra sử dụng và khi cất đi đúng vị trí sẽ ngăn nắp
khoa học, rất dễ dàng và thuận lợi cho việc bảo quản...
Thực hiện được yêu cầu trên, phòng TBDH phải tuân theo một số nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy
- Nguyên tắc ưu tiên.
- Nguyên tắc sắp xếp theo từng chuyên môn.
- Nguyên tắc an toàn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status