Tóm tắt cơ bản về cam kết gia nhập WTO của Việt Nam
(Website Chính phủ) - Như Website Chính phủ đã đưa tin, ngày
7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại toàn cầu (WTO), kết thúc chặng đường 11 năm với hơn
200 cuộc đàm phán song phương và đa phương đầy khó khăn, phức tạp.
Để trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đồng ý tuân thủ
toàn bộ các hiệp định và các quy định mang tính ràng buộc của WTO từ
thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, do Việt Nam đang phát triển ở trình độ
thấp, lại đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nên Việt Nam yêu cầu và
được WTO chấp nhận lộ trình thực hiện một số cam kết có liên quan đến
thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinh doanh...
Về cam kết đa phương
Kết quả mà Việt Nam đàm phán được là trong
khoảng thời gian 12 năm (không muộn hơn
31/12/2018) WTO chấp nhận coi Việt Nam là
nền kinh tế phi thị trường. Tuy nhiên, trước thời
điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với
đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt
động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ "phi
thị trường" đối với Việt Nam. Chế độ "phi thị trường" này chỉ có ý nghĩa
trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các thành viên WTO không có
quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu của Việt
Nam, dù Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường.
Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt
may đối với Việt Nam khi Việt Nam vào WTO. Riêng trường hợp Việt
Nam vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì
sẽ được xem xét, xử lý theo quy định của WTO.
Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại
trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội
địa hóa. Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất
Hướng sửa đổi là: đối với rượu trên 20 độ cồn, Việt Nam hoặc sẽ áp dụng
một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm; đối với bia, Việt
Nam sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm.
Về doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp thương mại Nhà nước, cam kết
của Việt Nam trong lĩnh vực này là Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp
hay gián tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên,
Nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt
động của doanh nghiệp như các cổ đông khác. Việt Nam cũng đồng ý
không coi mua sắm của doanh nghiệp Nhà nước là mua sắm Chính phủ.
Tỷ lệ cổ phần thông qua quyết định tại doanh nghiệp: Điều 52 và 104 của
Luật doanh nghiệp quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến
hoạt động của công ty TNHH và công ty cổ phần chỉ được phép thông
qua khi có số phiếu đại diện ít nhất làng 65% hoặc 75% vốn góp chấp
thuận. Quy định này có thể vô hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn
trong liên doanh. Do vậy, Việt Nam đã xử lý theo hướng cho phép các
bên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong điều lệ công
ty.
Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu, Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu
xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007. Tuy nhiên, Việt
Nam bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử
dụng và đưa ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt. Với thuốc lá điếu và xì gà,
Việt Nam đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập. Tuy
nhiên, sẽ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn
bộ thuốc lá điếu và xì gà. Mức thuế nhập khẩu mà Việt Nam đàm phán
được cho hai mặt hàng này là rất cao. Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép
nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm nhưng bảo lưu
quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và nhiều biện pháp quản lý kỹ thuật
chặt chẽ khác.
Về yêu cầu minh bạch hóa, Việt Nam cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ
công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban
theo ngành của WTO (giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp). Đây là hiệp
định tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham
gia một số ngành. Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia là sản
phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế.
Việt Nam cũng tham gia một số phần với thời gian thực hiện sau từ 3 – 5
năm đối với các ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng với đường,
trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế
trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN (nguyên tắc tối huệ quốc
của WTO), cụ thể trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40-50%, thuốc
lá lá 30%, muối ăn 30%. Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều.
Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ
Về diện cam kết, trong Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA), Việt
Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành). Trong thỏa
thuận gia nhập WTO, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo
phân ngành khoảng 110. Về mức độ cam kết, thỏa thuận WTO đi xa hơn
BTA nhưng không nhiều. Với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có
những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch... Việt Nam giữ
được mức độ cam kết gần như BTA. Riêng viễn thông, ngân hàng và
chứng khoán, để kết thúc đàm phán, Việt Nam có một số bước tiến nhưng
nhìn chung không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định
hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này.
Nội dung cam kết của một số lĩnh vực chủ chốt như sau:
Đối với cam kết chung cho các ngành dịch vụ, về cơ bản như BTA. Trước
hết, công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình
thức chi nhánh, trừ phi điều đó được Việt Nam cho phép trong từng
ngành cụ thể (những ngành như vậy không nhiều). Ngoài ra, công ty
nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam
nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam.
Việt Nam cũng cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ
đầu tư nước ngoài (mở điểm bán lẻ thứ hai trở đi phải được Việt Nam cho
phép theo từng trường hợp cụ thể).
Đối với dịch vụ bảo hiểm, về tổng thể, mức độ cam kết ngang với BTA.
Tuy nhiên, Việt Nam đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập chi nhánh bảo hiểm
phi nhân thọ sau 5 năm kể từ khi gia nhập.
Về dịch vụ ngân hàng, Việt Nam đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập ngân hàng
con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 1/4/2007. Ngoài ra,
tương tự như BTA, ngân hàng nước ngoài được thành lập chi nhánh tại
Việt Nam nhưng chi nhánh đó sẽ không được phép mở chi nhánh phụ và
vẫn phải chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ thể
nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ
được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam (không quá
30%. Đây là hạn chế đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành ngân hàng.
Về dịch vụ chứng khoán, Hoà Kỳ được phép thành lập công ty chứng
khoán 100% vốn nước ngoài và chi nhánh sau 5 năm kể từ khi Việt Nam
gia nhập WTO.
Đối với các cam kết khác với các ngành còn lại như du lịch, giáo dục,
pháp lý, kế toán, xây dựng, vận tải..., mức độ cam kết về cơ bản không
khác so với BTA. Ngoài ra, Việt Nam cũng không mở cửa dịch vụ in ấn -
xuất bản.
Diễn giải mức thuế bình quân cam kết
Bình quân chung và
theo ngành
Thuế
suất
MFN
hiện
hành
(%)
Thuế
(%)
Mức cắt giảm
thuế tại Vòng
Uruguay
Nước
phát
triển
Nước
đang
phát
triển
Nông sản 23,5 25,2 21,0 10,6 16,7
giảm
40%
giảm
30%
Hàng công nghiệp 16,6 16,1 12,6 23,9 9,6
giảm
37%
giảm
24%
Chung toàn biểu 17,4 17,2 13,4 23,0 10,1
Nguồn: Bộ Tài chính
Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong vòng đàm phán gia
nhập WTO đối với một số nhóm hàng quan trọng
TT Ngành hàng/ Mức thuế suất
Thuế
suất
MFN
Cam kết với WTO
0,7 6,5 6,4 2 năm
- Giấy (thuế suất bình quân) 22,3 29,7 15,1 5 năm
- Tivi 50 40 25 5 năm
- Điều hòa 50 40 25 3 năm
- Máy giặt 40 38 25 4 năm
- Dệt may (thuế suất bình quân) 37,3 13,7 13,7
ngay khi
gia nhập
(thực tế đã
thực hiện
theo hiệp
định dệt
may với
EU, Hoa
Kỳ)
- Giày dép 50 40 30 5 năm
- Xe ôtô con
+ Xe từ 2.500 cc trở lên, chạy xăng 90 90 52 12 năm
+ Xe từ 2.500 cc trở lên, loại 2 cầu 90 90 47 10 năm
+ Xe dưới 2.500 cc, và loại khác 90 100 70 7 năm
- Xe tải
+ Loại không quá 5 tấn 100 80 50 10 năm
+ Loại thuế suất khác hiện hành
80%
80 100 70 7 năm
+ Loại thuế suất khác hiện hành
60%
60 60 50 5 năm
Việt Nam sẽ có cơ hội tăng cường vị thế quốc tế và bảo vệ quyền
lợi của mình trong việc tham gia xây dựng những quy định, luật lệ
của WTO công bằng và phù hợp với các nước đang phát triển,
đấu tranh chống sự áp đặt những ngoại lệ không thuộc phạm vi
thương mại về xã hội, lao động, môi trường....
Trong giải quyết tranh chấp với các cường quốc thương mại, Việt
Nam sẽ được bảo vệ tốt hơn nhờ hệ thống giải quyết tranh chấp
công bằng và hiệu quả của WTO.
Việc gia nhập WTO sẽ góp phần xoá bỏ những tàn tích của thời kỳ
chiến tranh lạnh thể hiện bằng các biện pháp phân biệt đối xử,
những quy định gắn với cái gọi là "các vấn đề chính trị, nhân
quyền..." trong luật pháp một số nước thành viên WTO.
2. Giải quyết vấn đề thị trường tòan cầu cho hàng hóa và dịch
vụ của Việt Nam
Với việc thành lập WTO, các nước đã cam kết giảm thuế quan đối
với hàng nông sản - 36%, hàng công nghiệp - 33%, dệt may -
32%. Nhờ vậy, kim ngạch mậu dịch toàn cầu đã tăng khoảng 200
tỷ USD/năm. Trong khuôn khổ WTO, từ 1 tháng Giêng năm 2005
sẽ bỏ tòan bộ hạn ngạch đối với nhập khẩu hàng dệt may từ các
nước thành viên WTO. Theo thỏa thuận khung ngày 1 tháng 8
năm 2004, các thành viên WTO đã nhất trí về nguyên tắc tự do
hóa hơn nữa thương mại làm cơ sở để tiếp tục vòng đàm phán
Doha. Đặc biệt đối với nông nghiệp đã cam kết tiến tới xóa bỏ các
khỏan trợ cấp trong nước, trong đó xóa bỏ 20% trợ cấp trong
nước ngay khi kết thúc vòng Doha; nhất trí xóa bỏ mọi hình thức
tư trong nước cũng như ra nước ngòai.
4. Tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần
đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh
năng động, sáng tạo
Gia nhập WTO sẽ là một bước tiến lớn trong quá trình hội nhập
của nước ta vào nền kinh tế thế giới. Đây sẽ là cơ hội để tiếp cận
những thành quả khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới cũng
như những kinh nghiệm quản lý hiện đại. Nguồn nhân lực của đất
nước cũng sẽ có điều kiện được nâng cao trình độ, kỷ luật, hiệu
quả và năng suất...
THÁCH THỨC
1. Nghiên cứu để nắm vững quy định của WTO:
WTO có 16 hiệp định chính và các quy định với tổng số tài liệu dài
30.000 trang. Để có thể hiểu thấu đáo và thực hiện đúng các quy
định của WTO đồng thời vận dụng có lợi nhất cho Việt Nam, việc
nghiên cứu để nắm vững các quy định của WTO là thách thức đầu
tiên và có vai trò hết sức quyết định, đòi hỏi sự nỗ lực không chỉ
của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn của các doanh nghiệp.
Các Hiệp định chính của WTO là:
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994
Hiệp định về Nông nghiệp
Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động - thực
vật
Hiệp định về Thương mại hàng Dệt và May mặc (kết thúc vào 1
tháng 1 năm 2005)
Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại
Hiệp định về biện pháp đầu tư liên quan đến Thương mại
cắt giảm thuế quan và các rào cản phi quan thuế, áp dụng chế độ
đãi ngộ quốc gia đối với các doanh nghiệp nước ngòai trên thị
trường Việt Nam... nên việc đứng vững được trên thị trường nội
địa sẽ là một thách thức rất lớn khi gia nhập WTO. Do các doanh
nghiệp Việt Nam phần lớn đều có quy mô nhỏ, vốn ít, khả năng
cạnh tranh không cao và hiện vẫn còn có tư tưởng trông chờ vào
sự bảo hộ của nhà nước nên sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc
thích ứng với sự cạnh tranh gia tăng và quyết liệt của các công ty
nước ngoài trên thị trường nội địa cũng như trong việc tranh thủ
các cơ hội mới để đẩy mạnh xuất khẩu.
4. Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập còn
yếu:
Tuy đã được tăng cường nhiều trong thời gian qua nhưng nhìn
chung vẫn chưa đáp được nhu cầu cả về số lượng và chất lượng.
CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI LÀM GÌ TRONG TIẾN TRÌNH
HNKTQT