KHÓA HỌP LẦN THỨ BẨY
KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
Điều kiện gia nhập WTO của Việt Nam và
tác động của việc gia nhập này đối với
tình hình phân phối thu nhập
Nhóm nghiên cứu DIAL
1
1.4. Sự kiện gia nhập WTO cần được xem xét trong một bối cảnh tổng thể.......................... 16
2. Phân tích các điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
................................................................................................................................................... 17
2.1. Một thị trường ngày càng mở cửa cho hàng nhập khẩu.................................................... 17
2.2. Các biện pháp khác ngoài thuế quan.................................................................................... 20
2.3. Xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu nhưng hàng hóa Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn trong
việc tiếp cận các thị trường lớn...................................................................................................... 22
2.4. Hiệp định gia nhập WTO bao trùm tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế.............. 25
3. Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO: Điểm qua kết quả của các công
trình nghiên cứu................................................................................................................... 26
3.1. Tác động của việc gia nhập WTO đối với vấn đề tăng trưởng, đói nghèo và bất bình
đẳng ................................................................................................................................................... 27
3.2. Tác động của việc gia nhập WTO : Trường hợp của Việt Nam........................................ 34
3.3. Nhược điểm của các nghiên cứu về tác động của việc gia nhập WTO đối với Việt Nam
............................................................................................................................................................ 41
4. Phân tích tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO đối với tình hình phân
phối thu nhập : các mô phỏng từ mô hình vi mô-vĩ mô ............................................ 42
4.1. Cấu trúc và những biến chuyển của thị trường lao động Việt Nam 1997-2004 ............. 42
4.2. Giới thiệu mô hình vi mô-vĩ mô .............................................................................................. 52
Bảng 2 : Xuất khẩu sản phẩm may mặc của một số nước vào thị
trường EU, Mỹ và Nhật Bản
Bảng 3 : Cơ cấu địa lý của trao đổi ngoại thương
Bảng 4 : Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài vào
kim ngạch xuất khẩu
Bảng 5 : Phân bố các dự án FDI (trừ dầu khí) giữa cáctỉnh của
Việt Nam
Bảng 6 : Cam kết của Việt Nam về thuế quan trong khuôn khổ
WTO
Bảng 7 : Dự báo dựa trên 23 kịch bản sử dụng mô hình EGC về
tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 7 : Tỷ lệ lao động làm công ăn lương phân bố theo vùng
1997-2004
Bảng 8 : Tỷ lệ lao động làm công ăn lương theo loại dân
cư1997-2004
Bảng 9 : Tỷ lệ lao động làm công ăn lương phân bố theo ngành
Bảng 1 : Tỷ lệ lao động có việc làm theo trình độ tay nghề, năm
2004
Bảng 11 : Biến đổi về mức lương theo loại lao động 1997-2004
Bảng 12 : Biến đổi về mức lương theo vùng 1997-2004
Bảng 13 : Tỷ lệ thu nhập từ lương trong chi tiêu của các hộ gia
đình 1997-2004
thể Danh mục các Phụ lục
Phụ lục A : Các cam kết chính của Việt Nam trong khuôn khổ WTO
Phụ lục B : Phân tách MCS 2000 thành 31 ngành
Phụ lục C : Quy tắc phân bổ các biến động về thời gian lao động
Phụ lục D :
Phụ lục E :
Các biến liên hệ vĩ mô-vi mô
Tham số của các kịch bản 5/82
Tóm tắt
Tháng 1/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Sự kiện này diễn ra sau 20 năm Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới,
đánh dấu bước chuyển đổi sang « nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa » và bước khởi đầu cho một quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh và tích cực hội
nhập vào nền kinh tế thế giớ
i.
hướng : thứ nhất là sử d
ụng mô hình cân đối tổng thể kết hợp với một mô hình mô
phỏng vi mô để đánh giá sâu hơn tác động đối với các hộ gia đình ; thứ hai là không chỉ
giới hạn nghiên cứu các tác động của việc tự do hóa thuế quan mà còn đánh giá cả tác
động của việc tiếp cận các thị trường quốc tế dễ dàng hơn và gia tăng đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
6/82
1. Sự kiện gia nhập WTO là kết quả của một quá trình Việt Nam nỗ lực cải
cách kinh tế và tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Trong 2 thập kỷ qua, Việt Nam đã tiến hành một chương trình cải cách sâu rộng, tạo ra sự
chuyển biến mạnh mẽ trong phương thức vận hành của nền kinh tế và là cơ sở để dẫn đến
sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO vào đầu năm 2007 (Chaponnière, Cling và
Bin, 2007). Những cải cách này có 3 hệ quả chủ yếu xét trên bình diện kinh tế-xã hội, mà
chúng tôi sẽ giới thiệu vắn tắt trong phầ
n này : tăng trưởng kinh tế nhanh dẫn đến tỷ lệ đói
nghèo giảm mạnh nhưng làm gia tăng bất bình đẳng ; hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới trong khuôn khổ chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu ; gia tăng đầu tư trực tiếp
nước ngoài, đặc biệt là kể từ sau khi gia nhập WTO.
1.1. Tăng trưởng kinh tế nhanh, tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh
Sau nhiều năm chiến tranh, khủng hoảng kinh tế và thiếu hụt, việc thực hiện chính sách Đổi
Mới vào năm 1986 đã đánh dấu bước khởi đầu của một giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ
của nền kinh tế Việt Nam, một trong những nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng nhanh nhất trên
thế giới cùng với Trung Quốc. Sự tăng trưởng này
: Chaponnière, Cling va Bin (2007)
Liên tục ký kết các Hiệp định thương mại
Từ khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam năm 1993, Việt Nam đã dần nối lại quan hệ
với cộng đồng quốc tế (nối lại viện trợ quốc tế) và ký nhiều hiệp định thương mại với nước
ngoài góp phần đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế được khởi
động cùng với chính sách Đổ
i mới:
- Sau khi gia nhập ASEAN
2
(1997), thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có nguồn gốc từ
các nước ASEAN đã được cắt giảm dần đến mức dưới 5 % kể từ năm 2006 trong
khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do Đông Á (Asian Free Trade Area - AFTA) ; các
nước thành viên khác của ASEAN cũng cắt giảm thuế quan đối với hàng xuất khẩu
của Việt Nam, do đó, hàng hóa Việt Nam được tạo điều kiện tốt hơn trong vi
ệc tiếp
cận thị trường các nước này; việc ký kết Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN-Trung
Quốc (ASEAN-China Free Trade Agreement - ACFTA) vào năm 1994 đã dẫn đến
việc cắt giảm thuế quan bổ sung áp dụng đối với Trung Quốc (trước đó đã từng
được áp dụng đối với một số mặt hàng nông sản) ;
- Năm 2000, Việt Nam ký Hiệp định thương mại song phương vớ
i Mỹ (United States
Bilateral Trade Agreement - USBTA) ; Hiệp định này đã mở cửa thị trường Mỹ cho
hàng hóa Việt Nam (tuy nhiên, vẫn áp dụng hạn ngạch) ; hàng xuất khẩu của Việt
Nam vào thị trường Mỹ được áp dụng quy chế «tối huệ quốc » từ năm 2002 trong
khuôn khổ áp dụng Hiệp định này ; mức thuế quan trung bình áp dụng cho hàng
xuất khẩu của Việt Nam đã giảm từ 40% xuống còn 3-4% ; đổi lại, Việ
Tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh
Tỷ lệ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Việt Nam đã góp phần làm giảm tỷ lệ đói nghèo từ
những năm 1990 (Biểu đồ 2). Tỷ lệ đói nghèo về tiền tệ đã giảm 3 lần kể từ năm 1993 (từ
58,1% xuống 19,5%, năm 2004 ; VASS, 2006).
Đồng thời, tình trạng bất bình đẳng cũng có chiều hướng gia tăng, mặc dù ở mức thấp hơn
Trung Quốc. Chỉ số Gini ở cấp độ quốc gia đã tăng từ 0,34 lên 0,37 trong giai đoạn 1993-
2004. Trên thực tế, hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận về đánh giá tính trạng gia tăng
bất bình đẳng ở Việt Nam trong thập kỷ qua. Mặc dù chỉ số Gini chỉ tăng ở mức hạn chế,
nhưng các chỉ số khác cho thấy có sự gia tăng sức ép về tình trạng bất bình đẳ
ng ở Việt
Nam. Mức chênh lệch giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất đã tăng từ 4,97 lên 6,27
trong cùng thời kỳ, phản ánh sự xuất hiện của một tầng lớp trung lưu cao cấp tập trung ở
các đô thị lớn. Các nghiên cứu phân tích chỉ số về kinh tế, xã hội và y tế (tỷ lệ suy dinh
dưỡng ở trẻ em) đều cho thấy có sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng (Moser, 2005 ; Trần,
2003). Mộ
t trong những mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích sâu sắc vấn đề bất bình
bình trong mối liên hệ với chính sách thương mại.
Biểu đồ 2 : Tình hình đói nghèo và bất bình đẳng (1993-2004)
58,1
37,4
28,9
19,5
37
35
35
34
9/82
Trên phạm vi vùng miền, tình trạng nghèo đói biến đổi khác nhau tùy theo từng vùng (Bảng
4). Khu vực TP HCM (Đông Nam Bộ) và Đồng Bằng sông Hồng, tình trạng nghèo về tiền tệ
và lương thực hầu như đã được giải quyết (trong các báo cáo quốc tế, tình trạng này
thường được gọi bằng cụm từ « rất nghèo »). Trái lại, trong một số vùng miền khác, tình
trạng nghèo đói giảm không đáng kể, đặc biệt là vùng Tây Bắc n
ơi có tỷ lệ nghèo đói chung
và tỉ lệ nghèo đói về lương thực vẫn còn ở mức cao. Bảng 1 : Tình hình đói nghèo theo từng vùng (%)
199
3 199 2002 2004
Tỷ lệ đói nghèo chung 58,1 37,4 28,9 19,5
Đông Bắc 86,1 62,0 38,4 29,4
Tây Bắc 81,0 73,4 68.0 58,6
Đồng bằng sông Hồng 62,7 29,3 22.4 12,1
Duyên hải Bắc Trung bộ 74,5 48,1 43.9 31,9
Duyên hải NamTrung bộ 47,2 34,5 25.2 19,0
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
Đồng bằng sông Mêkong
70,0
37,0
47,1
52,4
12,2
5,2
Nguồn : Tổng cục thống kê ; tính toán của các tác giả.
10/82
Phân tích kết quả trong Bảng :
- Nghèo đói chung : Năm 2004, một người được coi là nghèo (« nghèo nói chung ») nếu
mức chi tiêu hàng năm thấp hơn 11USD/tháng (173 000 đồng). Đây được coi là ngưỡng
nghèo về tiền tệ.
- Nghèo về lương thực : Ngưỡng nghèo về lương thực được xác định dựa trên một
khoản tiền đủ để mua lương thực đảm bảo cung cấp 2.100 calo/ngày. Ngưỡng nghèo
này là 10 USD/tháng (160 000 đồng), năm 2004. Ngưỡng nghèo đói chung bao gồm
ngưỡ
ng nghèo về lương thực cộng thêm những vật dụng thiết yếu ngoài lương thực.
1.2. Chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu
Từ khi thực hiện chính sách Đổi Mới và tiếp bước các con rồng Đông Á, Việt Nam, đã theo
đuổi một chính sách thương mại kết hợp giữa chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu có
trợ cấp (thành lập các khu chế xuất) và chiến lược thay thế hàng nhập khẩu. Việt Nam đã
tập trung đầu tư phát triển ngành công nghiệp ôtô (xe máy), trở thành nước xuất khẩu gạo
đứ
ng thứ hai trên thế giới, xuất khẩu cà phê Robusta đứng đầu thế giới….
Kim ngạch xuất khẩu tăng rất nhanh
Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức 20%/năm từ giữa những năm
1980, cao hơn Trung Quốc (15%/năm). Hàng hóa Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao
11/82
Cơ cấu hàng xuất khẩu cũng có những thay đổi quan trọng trong những năm vừa qua. Từ
năm 2002, các sản phẩm đã qua chế tạo chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu
(Biểu đồ 4). Đó chủ yếu là hàng dệt may và linh kiện điện tử.
Một số nước khác đã đạt tỷ lệ 50% hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩ
u gồm
Philipin (năm 1984), Trung Quốc (năm 1986), Thái Lan và Malayxia (năm 1989) và
Inđônêxia (năm 1995). Việc Việt Nam xuất khẩu dầu thô (chiếm khoảng 20% tổng kim
ngạch xuất khẩu) làm giảm tỷ lệ hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy
nhiên, tỷ trọng dầu thô trong tổng kim ngạch xuất khẩu có xu hướng giảm xuống trong
những năm tới khi Việt Nam xây dựng các nhà máy lọc dầu .để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
trong nước.
Biểu đồ 4 : Tỷ lệ sản phẩm đã qua chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu (%)
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Chỉ giới hạn ở ba thị trường lớn trên thế giới là Liên minh châu Âu, Mỹ và Nhật bản. 12/82
Bảng 2 : Xuất khẩu hàng may mặc của một số nước châu Á
vào thị trường EU, Mỹ và Nhật Bản (triệu USD và %) Nguồn
: Chaponnière, Cling, Bin (2007) theo CEPII/Chelem.
2001 2002 2003 2004 2005 2006 Var.
2006/01
(%)
Thị phần
(2006)
1. Trung Quố
Tổng 28069 29098 35254 41869 55315 62476 +122.6
EU 7486 8810 11578 14322 21092 23934 +219.7 31.4%
Mỹ 6416 7070 8667 10685 16774 19865 +209.6 27.1%
Nhật Bản 14167 13218 15009 16862 17448 18678 +131.8 83.4%
2. Bănglađét
Tổng 4471 4359 5302 6518 6686 8636 +93.2
EU 2527 2583 3515 4621 4400 5811 +130.0 7.6%
Mỹ 1929 1757 1759 1871 2268 2808 +45.6 3.8%
Nhật Bản 15 18 28 26 18 18 +20.0 0.0%
3. Ấn Độ
Tổng 3862 4208 4839 5443 7233 8229 +113.1
lĩnh vực xuất khẩu hay nhập khẩu. Trong cả hai lĩnh vực này, châu Á đều chiếm vị trí quan
trọng trong quan hệ ngoại thương của Việt Nam.
Mỹ (với tỷ lệ trao đổi hai chiều ngày càng gia tăng) và Liên minh châu Âu chiếm 1/3 kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam (Bảng 3). Hàng xuất khẩu vào các thị trường này chủ
yếu là
hàng tiêu dùng (dệt may). Ngược lại, các nước này chiếm vị trí khiêm tốn trong kim ngạch
nhập khẩu của Việt Nam.
Bảng 3 : Kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều với các nước và khu vực (2005)
Xuất khẩu Nhập khẩu
Nước/
Khu vực
Giá trị
(Tỷ USD)
Tỷ lệ
(%)
Nước/
Khu vực
Giá trị
(Tỷ lệ USD)
Tỷ lệ
(%)
1. Mỹ 5,9 18,2 1. ASEAN 9,3 25,2
2. ASEAN 5,7 17,6 - Xingapo 4,5 12,2
- Xingapo 1,6 4,9 - Thái Lan 2,4 6,5
- Malaixia 1,2 3,7 2. Trung Quốc 5,9 16,0
3. EU 5,5 17,0 3. Đài Loan 4,3 11,7
- Đức 1,4 4,3 4. Nhật Ban 4,1 11,1
ư thực hiện từ năm 1988.
Biểu đồ 5 : Mức đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng năm
(2000-2007) - Tỷ USD
7,8
13
4,7
2
2,2
2
2,6
1,6
2,6
5
2,4
2,5
2,7
2,9
3,3
4,1
0
2
4
6
8
10
12
14
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007*
Enregistré Réalisé
* : 8 tháng đầu năm
Hầu hết các dự án đầu tư nước ngoài đều tập trung ở hai vùng kinh tế
trọng điểm của cả nước Đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung tại một số địa phương (Bảng 5). TP Hồ Chí Minh và
các vùng phụ cận thu hút gần 2/3 lượng đầu tư nước ngoài. Khu vực đồng bằng sông Hồng
(Hà Nội và các vùng phụ cận) thu hút được khoảng hơn 1/4. Tổng cộng, hai vùng kinh tế
trọng điểm này thu hút khoảng 90% lượng đầu tư nước ngoài trong khi đó dân số chỉ chiếm
41% dân số cả nướ
c. Sự tập trung vốn đầu tư nước ngoài này là nguồn gốc gây ra nhiều
mất cân đối và tạo ra tình trạng di dân từ nông thôn ra các thành phố lớn.
Loại doanh nghiệp/lĩnh vực Giá trị
(triệu
USD)
Tổng Tổng,
trừ dầu thô
Tỷ lệ tăng
trưởng 2007/06
Doanh nghiệp trong nước 20,086 43.8% 52,4% 24.7%
Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài
25,839 56.2% 47,6% 15.9%
- Dầu thô 7,594 16.5% 19,8% -11.3%
- Các mặt hàng khác 18,245 39.7% 26,8% 32.8%
Tổng kim ngạch xuất khẩu 45,925 100.0% - 19.6%
Tổng kim ngạch xuất khẩu, trừ
Chúng tôi cũng đi sâu nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội trước đây ở trong nước cũng như
trong khu vực (nghèo đói, bất bình đẳng, đầu tư
nước ngoài …), qua đó rút ra những kết
luận có liên quan đến tác động mà việc gia nhập WTO có thể mang lại. Chúng tôi sẽ đi sâu
phân tích các tác động này trong những phần sau.
Xét trên bình diện thay đổi thuế quan, những tác động của việc gia nhập WTO chỉ ở mức
hạn chế, vì quan hệ ngoại thương của Việt Nam được thực hiện chủ yếu với các nước châu
Á, là các đối tác mà Việt Nam đã và đang ký kết Hiệp đị
nh thương mại tự do (ASEAN,
Chine).
Một số tác động của WTO cũng đã được dự kiến trước và được các tác nhân kinh tế năm
bắt ngay từ khi Việt Nam còn đang trong quá trình đàm phán gia nhập, mà một trrong
những minh chứng là sự gia tăng của đầu tư nước ngoài.
17/82
2. Phân tích các điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
WTO
Tháng 1/2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO sau hơn 10 năm đàm
phán (1995). Việc Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ (USBTA - United
States Bilateral Trade Agreement) năm 2001 là yếu tố góp phần thúc đẩy nhanh hơn
quá trình đàm phán này, thúc đẩy Việt Nam tăng cường cải cách thể chế, cải cách chính
sách kinh tế để hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
Gia nhập WTO, Việt Nam đã chấp nhận nhiều cam k
mức thuế quan của mình. Đến trước thời điểm gia nhập WTO, mức thuế quan trung
bình (trung bình số học) đã giảm xuống còn 17,4% so với mức 23,3% 10 năm trước đó.
Tỷ lệ bảo hộ thực tế
4
còn được cắt giảm với nhịp độ nhanh hơn, giảm từ 59,5% năm
1997 xuống 26,2% năm 2001, tức là giảm hơn 2 lần (Athukorala, 2007). Trong các
ngành công nghiệp, tỷ lệ bảo hộ thực tế đã giảm từ 121,5% xuống còn 43,9%. 4
Tỷ lệ bảo hộ thực tế đối với một hàng hóa được tính như sau : Tỷ lệ bảo hộ hải quan tính theo giá của
hàng hóa đó trên thị trường thế giới trừ đi tỷ lệ bảo hộ áp dụng đối với các hàng hóa trung gian được tích
hợp vào hàng hóa đó trong quá trình sản xuất, nhân với giá của các hàng hóa trung gian trên thị trường thế
giới. 18/82
Thuế quan trung bình của Việt Nam nằm ở mức tương đương với Trung Quốc vào thời
điểm trước khi nước này gia nhập WTO, nhưng lại cao hơn rất nhiều so với mức thuế
quan của Inđônêxia, Malayxia và Philipin. Mức thuế quan trung bình của Việt Nam cũng
cao hơn rất nhiều so với mức thuế quan trung bình hiện nay của Trung Quốc (Ngân
hàng Thế giới, 2006).
Việt Nam cũng cam kết tổng hợp
5
các mức thuế quan áp dụng cho phần lớn các sản
phẩm, với các mức thuế từ 0% đến 35% (Bảng 6). Mức thuế quan áp dụng đối với ôtô
và xe máy vẫn duy trì ở mức cao, vì Việt Nam có chính sách bảo hộ ngành công nghiệp
này ở trong nước (ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc lắp ráp
2007
(Khi gia
nhập)
2019
(Mức thuế quan
cuối cùng)
Lịch trình thực
hiện
Trung bình
chung đơn
giản
18,5 17,4 13,6 Cho đến 12 năm
Hàng nông sản
29,4 27,3 21,7 Cho đến 5 năm
Hàng phi nông
sản
17,0 16,0 12,5 Cho đến 12 năm
- Sắt
9,7 17,7 13,0 Cho đến 2 năm
- Dầu lửa
14,6 27,2 27,1 Cho đến 2 năm
- Dệt-may
36,6 13,6 13,5 Ngay từ khi gia nhập
- Da giày
45,0 35,8 27,2 Ngay từ khi gia nhập
- Ô tô
63,6 84,8 58,7 Cho đến 12 năm
- Xe máy
100,0 100,0 74,3 Cho đến 12 năm
- Linh kiện điện
thuế đó là hàng sản xuất ra phải được xuất khẩu trong thời hạn dưới 275 ngày kể từ
ngày nhập khẩu hàng hóa được miễn thuế.
20/82
Cơ chế này có mục đích khuyến khích xuất khẩu, nhưng việc quản lý rất phức tạp và
tạo kẽ hở cho nhiều trường hợp vi phạm, lạm dụng (Dimaranan, 2005). Hình thức miễn
thuế này sẽ phải được bãi bỏ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, vì nó được coi là một
hình thức trợ cấp cho xuất khẩu trái với quy định của WTO (xem phần dưới).
Các quy định về tỷ lệ nộ
i địa hóa : trong nhiều lĩnh vực (xe gắn máy, sản phẩm cơ khí,
điện, điện tử, kể cả máy thu hình), có sự tồn tại một hình thức trợ cấp ngầm thể hiện
dưới dạng áp dụng mức thuế quan ưu đãi cho việc nhập khẩu hàng thành phẩm và linh
kiện của các doanh nghiệp thỏa mãn các tiêu chuẩn về nội địa hóa.
Biện pháp này trước đây đ
ã từng được áp dụng ở các nước đang phát triển khác
(trường hợp của Nam Phi đối với ngành ôtô) và đã bị cấm theo các quy định của WTO.
Việt Nam đã bãi bỏ hình thức ưu đãi này từ năm 2003 đối với xe máy và từ đầu năm
2007 đối với ôtô.
Duy trì thuế xuất khẩu
Theo các quy định của WTO, Việt Nam được quyền áp thuế xuất khẩu sản phẩm trong
các lĩnh vực mà Việt Nam không có ưu thế nổi trội trên thị trường thế giới. Việc áp dụng
thuế xuất khẩu này nhằm đảm bảo các mục tiêu mang tính chiến lược, bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm đã qua
chế tạo.
21/82
nghìn lao động (đến nay chưa có con số chính thức về số lao động đang làm việc trong
các khu đặc miễn). Những ưu đãi giành cho doanh nghiệp trong các khu vực này sẽ
không còn được gắn với điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp.
Việt Nam cũng đã phải cam kết ngừng trợ cấp cho xuất khẩu nông sản. Khi gia nhập
WTO vào cuối năm 2003, Campuchia cũ
ng đã phải đưa ra cam kết này. Việc cấm các
biện pháp trợ cấp cho xuất khẩu nông sản rõ ràng đã tạo ra một sự phân biệt đối xử đối
với 2 nước thành viên mới này của WTO bởi vì các nước công nghiệp lớn vẫn tiếp tục
được trợ cấp ồ ạt cho xuất khẩu nông sản của mình.
Cho dù bị cấm các biện pháp trợ cấp cho xuất khẩu, Việt Nam, v
ới tư cách là một nước
đang phát triển, vẫn được tiếp tục trợ cấp cho nông nghiệp với điều kiện mức trợ cấp
thấp hơn 10% chi phí sản xuất sản phẩm. Trên thực tế, chỉ có ngành mía đường sẽ bị
cắt giảm trợ cấp do ảnh hưởng của quy định này (ADB, 2006).
Cải tổ sâu sắc khung pháp luật kinh tế và tư pháp
Trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO những năm qua, Việt Nam đã có những cải tổ
sâu sắc khung pháp luật kinh tế và thủ tục pháp lý của mình. Các quy định pháp luật về
hợp đồng, quyền sở hữu, giải quyết tranh chấp kinh tế đã được đơn giản hóa và hiện
đại hóa đáng kể (ADB, 2006) ; đã ban hành Luật cạnh tranh và Luật phá sản doanh
nghiệp.
Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết không phân biệt đối xử
giữa các doanh nghiệp
Các biện pháp được áp dụng trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài nằm trong
khuôn khổ quy định của Hiệp định TRIMS (Trade-Related Investment Measures).
Từ khi Việt Nam gia nhập WTO đầu năm 2007, các ngân hàng nước ngoài có thể thành
lập chi nhánh 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam. Thực ra, mức độ mở cửa bổ sung
cũng không lớn lắm so với thời điểm trước khi gia nhập WTO, vì trong khuôn khổ Hiệp
định th
ương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Việt Nam cũng đã cho phép các công ty Mỹ thành
lập chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam vào thời điểm năm 2010. Dù thế nào
chăng nữa, biện pháp mở cửa này sẽ buộc Việt Nam phải đẩy nhanh quá trình cải tổ
các ngân hàng quốc doanh của mình.
Trong lĩnh vực viễn thông, theo quy định của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ,
các doanh nghiệp Mỹ được đầu tư vào th
ị trường điện thoại di động và Internet từ cuối
năm 2005 và thị trường điện thoại cố định từ cuối năm 2007. Kể từ nay, tất cả các
doanh nghiệp nước ngoài đều được hưởng quyền này. Tỷ lệ góp vốn tối đa trong các
lĩnh vực này tương ứng là 49% và 45%.
Tiếp tục quá trình cổ phẩn hóa
Chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước (equitization) được khởi động
trong những năm 1990. Nhiều doanh nghiệp Nhà nước lớn đã được cổ phần hóa (Công
ty sữa Việt Nam VINAMILK, Song Hinh-Vinh Son Hydroelectric Plant, Hochiminh City
Insurance). Việt Nam công bố rằng sẽ chỉ giữ lại những doanh nghiệp Nhà nước (Nhà
nước nắm giữ 100% vốn) trong những lĩnh vực chiến lược và một số doanh nghiệp Nhà
nước lớn. Dự kiến trong năm 2007 và 2008 s
ẽ tiến hành cổ phần hóa 600 doanh nghiệp
Nhà nước, trong đó có các doanh nghiệp lớn như Mobiphone, Vinaphone và
VietcomBank (Gide, Loyrette et Nouel, 2007). Sắp tới, Việt Nam cũng sẽ tiến hành cổ
phương, nh
ưng đã xóa bỏ các hạn ngạch này kể từ đầu năm 2007 ;
- Sau khi ký Hiệp định song phương về ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO năm 2004, Liên
minh châu Âu đã xóa bỏ hạn ngạch đối với Việt Nam ngay từ đầu năm 2005, tức là
trước khi Việt Nam gia nhập WTO.
Ngoài ra, với quy mô nền kinh tế nhỏ và tác động đối với thị trường Mỹ không lớn, Việt
Nam không bị áp dụng các biện pháp tự v
ệ và các biện pháp tự vệ khẩn cấp đối với
hàng dệt may giống như các biện pháp Mỹ đang tạm thời được áp dụng đối với Trung
Quốc kể từ khi nước này gia nhập WTO
6
.
Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường Mỹ và châu
Âu
Việt Nam gia nhập WTO theo một quy chế riêng giành cho các nước chưa có nền kinh
tế thị trường (tiếng Anh là « non market economy » hay NME ; Xem Khung 1). Với việc
áp đặt quy chế riêng nay cho Việt Nam trong thời hạn 12 năm (cho đến 2019) (Trung
Quốc cũng bị áp dụng quy chế này khi gia nhập WTO vào năm 2001), WTO đã gây khó
khăn cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế. Theo quy chế riêng
này, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải chịu m
ột phương pháp riêng trong việc
xem xét các trường hợp bán phá giá (chi phí được tính toán dựa trên chi phí của các
nước khác), và phương pháp này giảm nhẹ rất nhiều nghĩa vụ chứng minh (Oxfam,
2004). Như vậy, Việt Nam gia nhập WTO với tư cách là thành viên «hạng hai », giống
như Trung Quốc (Mc Carty và Kalapesi, 2003).
24/82
phương của mình đối với một nước thành viên khác vì những lý do chính trị hay một lý
do khác. Trong trường hợp của Mỹ, lý do đưa ra là quy định cấm cư trú, đi lại đối với
các công dân Mỹ (Luật Jackson Vanik ngăn cản việc bình thường hóa quan hệ thương
mại với các nước thuộc khối XHCN cũ)
8
.
Khung 1
Quy chế « quốc gia nước chưa có nền kinh tế thị trường » (NME)
Theo yêu cầu của Mỹ, Việt Nam bị áp dụng quy chế của một nước chưa có nền kinh tế
thị trường (Non Market Economy) khi gia nhập WTO. Quy chế này cũng đã được áp
dụng đối với Trung Quốc khi nước này gia nhập WTO vào năm 2001 (và vẫn được duy
trì cho đến ngày nay). Ngoài hai nước này ra, chỉ còn một số nước thuộc Liên Xô cũ
(Kirgưxtan, Mônđavi) bị áp dụng quy chế này.
Đối với quốc gia bị áp dụng quy chế « quốc gia chưa có nền kinh tế thị trường », các
quốc gia thành viên khác của WTO có quyền áp dụng các tiêu chí riêng để tính mức chi
phí sản xuất hàng xuất khẩu của quốc gia đó, theo đó thay vì sử dụng tiêu chí chi phí
hiện hành tại quốc gia đó để tính mức chi phí sản xuất hàng xuất khẩu của quốc gia đó,
các quốc gia thành viên của WTO có quyền sử dụng số liệu về chi phí sản xuất của một
hay một nhóm nước « thay thế » mà ở đó các quy tắc vận hành của nền kinh tế thị
trường được áp dụng và tuân thủ một cách thực sự. Như vậy, một quốc gia thành viên
WTO khi muốn áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với một quốc gia « chưa
có nền kinh tế thị trường », thì sẽ dễ dàng hơn trong việc chứng minh sự tồn tại của
hành vi bán phá giá, vì chỉ cần tìm ra một quốc gia « thay thế » phù hợp để tính mức chi
phí sản xuất hàng xuất khẩu của quốc gia sẽ bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá
đó, ngay cả khi hai quốc gia này có trình độ phát triển và các điều kiện sản xuất hàng
hóa rất khác nhau (Nguyễn, Nguyễn và Lê Thanh, 2007).
hàng này ở Braxin. Việc áp dụng các biện pháp này đã làm giảm mạnh lượng xuất khẩu
giày da của Việt Nam.
Tuy nhiên, các nước thành viên WTO (hoặc một số nước thành viên) có thể xem xét
công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường trước thời hạn quy định (2019). Năm
2007, các nước thành viên ASEAN (Việt Nam là thành viên của tổ chức này) đã quyết
định công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường (và qua đó, cam kết
không áp dụng các quy định riêng về chống bán phá giá đối với Việt Nam). Ngoài ra,
một nước đối tác của Việt Nam cũng có thể xem xét áp dụng quy chế « kinh tế thị
trường » đối với một ngành hay lĩnh vực cụ thể của Việt Nam (chứ không phải cho toàn
bộ nền kinh tế).
Khái niệm « quốc gia chưa có nền kinh tế thị trường » là một khái niệm rất mơ hồ, việc
xác định một quốc gia có nền kinh tế thị trường thị trường hay chưa được thực hiện dựa
trên những căn cứ tùy tiện, những căn cứ chứng minh để áp dụng các biện pháp chống
bán phá giá đối với quốc gia này cũng rất võ đoán, tùy tiện. Chính vì vậy, việc Việt Nam
bị áp dụng quy chế « quốc gia chưa có nền kinh tế thị trường » sẽ là một điều bất lợi
tiềm tàng đối với nền kinh tế Việt Nam. Vũ khí này rất dễ bị các đối tác lạm dụng vì
những mục đích khác không thuần túy mang tính kinh tế hay cạnh tranh lành mạnh,
thậm chí vì những mục đích chính trị. Do đó, Việt Nam cần phải loại bỏ nguy cơ tiềm
tàng này trong thời hạn nhanh nhất. Việc Mỹ áp dụng biện pháp này sẽ đặt Việt Nam vào tình thế bấp bênh trong quan hệ
với Mỹ, hàng hóa Việt Nam không được đảm bảo chắc chắn trong việc tiếp cận thị
trường Mỹ (trong khi một trong những mục tiêu của việc gia nhập WTO là được đảm
bảo sự tiếp cận thị trường này), nhất là năm 2007, Mỹ áp dụng cơ chế giám sát chặt
chẽ hàng dệt may nhậ
p khẩu có nguồn gốc từ Việt Nam.