52/82
4.2. Giới thiệu mô hình vi mô-vĩ mô
Giới thiệu mô hình EGC
Ma trận hạch toán xã hội (MCS) được sử dụng trong mô hình này đã được xây dựng từ
ma trận hạch toán xã hội được CIEM xây dựng cho năm 2000 (Jensen, 2004) và từ các
dữ liệu của cuộc điều tra VHLSS 2004. Trong nghiên cứu này, mức độ phân tách của
ma trận là như sau
21
:
- 31 hoạt động / 31 hàng hoá (Phụ lục B) ;
- 14 yếu tố sản xuất trong đó có 12 loại lao động (nông thôn/đô thị, nam giới/nữ
giới, 3 mức tay nghề) ;
- 4 nhóm tài khoản (1 hộ gia đình, 1 doanh nghiệp, Nhà nước, phần còn lại của
thế giới) ;
- một tài khoản Tiết kiệm-Đầu tư.
Nghiên cứu ma trận hạch toán xã hội của CIEM cho thấy tiểu ma trận về thanh toán giá
trị gia tăng cho các yếu t
ố sản xuất - đặc biệt là thanh toán cho các loại lao động - thể
hiện tính đều đặn nhân tạo (cấu trúc tương tự của các dòng giá trị gia tăng đến từ 31
hoạt động và rót vào các loại lao động khác nhau), điều này giả thiết tất cả các dòng đều
đã được định cỡ từ một cấu trúc « trung bình » khi xây dựng ma trận hạch toán xã hội.
Tính đều đặn này, ngoài khía cạnh không thực tế của nó, còn đặt ra m
ột số vấn đề
khác, vì mọi cú sốc dẫn đến việc tái phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành đều
làm tăng mức thù lao tương ứng của các yếu tố sản xuất, và từ đó dẫn đến việc đánh
giá thấp những tác động của cú sốc đó đối với tình hình phân phối thu nhập.
53/82
Việc đưa hàm nhu cầu xuất khẩu vào mô hình cho phép tính đến thực tế là tỷ trọng xuất
khẩu của Việt Nam trong thương mại thế giới bị ảnh hưởng bởi nhiều loại hàng rào, đặc
biệt là các hàng rào phi thuế quan (hạn ngạch) trong ngành dệt. Việc Việt Nam gia nhập
WTO sẽ giúp dỡ bỏ các hàng rào này và làm tăng nhu cầu xuất khẩu (xem Phần 2). Mô
phỏng tác động này có thể thực hiện được nhờ vi
ệc vận dụng các thông số của hàm
nhu cầu xuất khẩu. Hàm cầu xuất khẩu được lập cho mỗi sản phẩm C :
C
C
C
CC
PED
pwe
qedQED
η
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜
⎜
⎝
⎛
= .
0
Việc đưa vào đường cong lương (loại đường cong Philip) cho phép đưa ra một cách
biểu diễn trung gian về thị trường lao động. Nói một cách cụ thể hơn, cân bằng cung-
cầu được thực hiện nhờ điều chỉnh cả mức lương và cung lao động. Đường cong lương
được viết như sau : ()
(
)
(
)
FFFFF
WGAUAAWF log3log21log
+
+=
Trong đó
F
WF là tỷ lệ lương của yếu tố F
F
A1 ,
F
A2 và
F
A3 là các tham số của đường cong
F
U là mức thất nghiệp của yếu tố F
F
chỉ có 9 000 hộ gia đình này được đưa vào mô hình.
Mô hình. Nghiên cứu tác động của cú sốc có liên quan đối với tình hình phân phối thu
nhập dựa trên sự so sánh giữa sự phân phối chỉ số hài lòng tại năm gốc (trước cú số
c)
và sự phân phối chính chỉ số này sau cú sốc. Chỉ số hài lòng được sử dụng ở đây là thu
nhập theo đầu người. Mô hình mô phỏng vi mô xuất phát từ sự phân phối quan sát
được trong các dữ liệu VHLSS 2004 và mô phỏng một sự phân phối mới xuất phát từ
việc cập nhật các loại thu nhập của các hộ gia đình dựa trên cơ sở những biến động tạo
ra từ mô hình EGC. Sự cập nh
ật này dựa trên mô hình thu nhập sau:
Hoặc hhincpc0 thu nhập theo đầu người tại năm gốc được xác định như là tổng của của
các loại thu nhập chia cho quy mô của hộ gia đình:
hhincpc0 = (hhwageinc0 + hhselfinc0 + hhnlabinc0)/hhsize
hoặc hhwageinc0 là thu nhập từ các hoạt động có lương tại năm gốc
hhselfinc0 là thu nhập từ các hoạt động độc lập tại năm gốc
hhnlabinc0 là những khoản thu nhập ngoài hoạt động tại năm gốc
hhsize là quy mô của hộ gia đình
Cụ thể hơn, ba loại thu nhập này được thể hiện như sau
hhwageinc0 = Σ
f
wt0(f) ở đó f = 1 đến 12
hhselfinc0 = Σ
a
revb0(a) ở đó a=1 đến 31
lượng lao động. Quy tắc phân bổ mức tăng thời gian lao động được trình bày trong Phụ
lục C.
Mô hình EGC và mô hình mô phỏng vi mô được sử dụng kết tiếp nhau:
- tr
ước tiên, cú sốc có liên quan được mô phỏng với mô hình EGC ;
- đối với mỗi mô phỏng, mô hình này sản sinh ra một véctơ biến động một số
biến nhất định ;
- các véctơ này tạo thành các cú sốc được đưa vào các mô phỏng của mô hình
mô phỏng vi mô.
Tất cả các biến này cũng như sự đối chiếu giữa các biến vĩ mô và vi mô được trình bày
trong Phụ lục D.
4.3. Phân tích các mô phỏng
Trong phần nhỏ thứ ba, chúng tôi trình bày các kịch bản mô phỏng dựa trên mô hình mô
phỏng vi mô (Bảng 15) và các kết quả chính của mô phỏng, cả trên quan điểm kinh tế vi
mô cũng như kinh tế vĩ mô (Bảng 16 đến 21).
Các kịch bản mô phỏng dựa trên mô hình
Trong khuôn khổ mô hình được sử dụng cho nghiên cứu, chúng tôi phân tích ba loại cú
sốc kinh tế được coi là những cú sốc chính có thể xay ra sau khi gia nhập WTO:
- giảm thuế nhập khẩu; việc giảm thuế tương ứng với những cam kết của Việt
Nam về cắt giảm bảo hộ hải quan (thuế quan hoặc phi thuế quan) ;
- tăng nhu cầu xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam ; do các thành viên WTO cắt
gi
22
.
Về cơ sở kinh tế vĩ mô, các quy tắc được sử dụng trong tất cả các kịch bản là các quy
tắc sau :
- cân bằng tiết kiệm-đầu tư được thực hiện thông qua điều chỉnh đầu tư;
- cân bằng ngân sách được thực hiện thông qua điều chỉnh tiết kiệm của Chính
phủ;
- cân bằng cán cân vãng lai được thực hiện thông qua điều chỉnh tỷ giá thực t
ế.
Mỗi mô phỏng được xem xét dưới hai giả thiết cơ sở của thị trường lao động: đủ việc
làm (điều chỉnh thông qua lương) ; thiếu việc làm với tính cứng nhắc của tiền lương
(điều chỉnh thông qua lương và cung lao động), phản ánh rõ hơn phương thực vận hành
của thị trường lao động ở Việt Nam.
Tất cả các mô phỏng đều được th
ực hiện cho thời hạn 5 năm kể từ năm 2004, được coi
là năm cơ sở. Tất cả các kịch bản mô phỏng được giới thiệu trong Bảng 15 và các tham
số của các kịch bản này được trình bày tại Phụ lục E.
22
Trên thực tế, sự gia tăng đầu tư nước ngoài không chỉ tập trung trong lĩnh vực công nghiệp và có cả dịch
vụ (văn phòng, khách sạn, du lịch ). Tuy nhiên, do không có các số liệu về tỷ lệ góp vốn nước ngoài trong
các ngành này, cho nên khó đánh giá được mức gia tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ; do đó, chúng tôi
tạm thời chỉ tính đến tác động của sự gia tăng vốn đầu tư trực tiế
p nước ngoài trong ngành công nghiệp.
57/82
quan sát được tác động tái phân bổ các yếu tố sản xuất) và tác động là tích cự
c trong
kịch bản theo giả thiết không sử dụng hết các yếu tố sản xuất (Bảng 16).
Tuy nhiên, các dòng trao đổi thương mại tăng rất mạnh cùng với việc tăng kim ngạch
nhập khẩu khoảng 3,6 % (tương ứng là 3,8%) và tăng kim ngạch xuất khẩu khoảng
1,5% (tương ứng là 1,9%) đối với kịch bản 1 (tương ứng là 2). Sự gia tăng các dòng
trao đổi thương mại này diễn ra cùng với xu hướ
ng tăng giá của tiền đồng Việt Nam gắn
với tăng nhu cầu xuất khẩu.
Tác động kinh tế vĩ mô bổ sung gắn với tăng lượng vốn trong các ngành công nghiệp
(kịch bản 3 và 4) dẫn đến những hệ quả tương đối rõ nét hơn: GDP thực tế tăng 2,2%
(tương ứng 3,3%), trong khi kim ngạch nhập khẩu tăng 6,3% (tương ứng 7,1%) và kim
ngạch xuất khẩu tăng 5,8% (tương ứ
ng 7,0%) trong kịch bản 3 (tương ứng kịch bản 4).
Bảng 16 : Các kết quả mô phỏng – Các tập hợp kinh tế vĩ mô
Cơ sở Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
GDP thực tế 44 164,7
0.0
0,4 2,2 3,3
Xuất khẩu 24 189,5
1.5
1,9 5,8 7,0
Nhập khẩu 25 365,9
3.6
3,8 6,3 7,1
Tỷ giá 100,0
đặc biệt). Trong khi đó, hiện tượng phân bổ lại các yếu tố gây ra bởi cú sốc giảm thuế
hải quan và tă
ng nhu cầu xuất khẩu chỉ xảy ra trong các ngành, lĩnh vực có tỷ lệ đánh
thuế tương đối cao. Ngoài ra, các cú sốc này có tác động tích cực đối với thu nhập của
các thiết chế, góp phần làm tăng nhẹ nguồn thu từ thuế trực thu.
Bảng 17 : Các kết quả mô phỏng – Thu nhập của Nhà nước Cơ sở
Cấu
trúc
Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bả
n 3 Kịch bản 4
Những chuyển giao của phần
còn lại của thế giới
202,8 2,2%
-1,7 -1,5 -2,4 -1,8
Thuế trực thu 2 794,3 30,8%
2,4 3,1 -1,2 1,1
Thuế đối với các yếu tố 1 122,5 12,4%
1,6 2,3 -0,3 1,9
Thuế nhập khẩu 1 359,5 15,0%
-4,7 -4,3 -3,4 -2,0
Thuế giá trị gia tăng 1 506,7 16,6%
3,3 3,6 1,3 2,2
Thuế đối với hoạt động sản xuất 1 701,5 18,7%
0,8 1,2 4,1 5,5
Trong kịch bản thứ nhất, lượng lao động (và lượng vốn) là cố định trong nền kinh tế,
nhưng thay đổi tuỳ theo từng lĩnh vực. Cú s
ốc về cầu ở cấp độ ngành dẫn đến việc
phân bổ lại yếu tố lao động từ các ngành khác tập trung vào ngành dệt, và do đó các
ngành khác kia có hàm lượng giá trị gia tăng giảm đi (biết rằng lượng vốn là cố định
trong từng ngành cũng như trên bình diện tổng thể). Xét giá trị tương đối, các ngành bị
ảnh hưởng nhiều nhất là ngành luyện kim và ngành sản xuất phân bón. Xét giá trị tuyệt
đối, các ngành b
ị ảnh hưởng nhiều nhất là ngành dầu khí, các ngành dịch vụ khác,
ngành bất động sản, ngân hàng và viễn thông. Các kết quả này cũng còn nguyên giá trị
dưới giả thiết không sử dụng hết yếu tố lao động (kịch bản 2) mặc dù là với tỷ lệ thấp
hơn. 60/82
Bảng 18 : Kết quả mô phỏng – Giá trị gia tăng theo từng ngành
Ngành, lĩnh vực Cơ sở Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Nhóm ngành 1
10 749 -1,4 -0,7 -1,0 0,3
Trong đó
Gạo 3 400 -1,9 -1,0
-0,6 1,0
Cà-phê 409 -5,1 -4,3 -7,2 -5,8
Mía đường 206 0,5 1,3 7,1 8,6
Nhóm ngành 2
15 375 0,9 2,1 8,0 10,2
Trong đó
Xi măng 298 4,4 5,9
trao đổi so với mức giá của sản phẩm trao đổi. Các cơ chế này là lý do giải thích cho sự
suy giảm về giá trị gia tăng trong các ngành nông nghiệp trong 2 kịch bản đầu. Ngược
lại, các sản phẩm không trao đổi, đặc biệt là thương mại và xây dựng lại được hưởng
lợi từ sự lên giá của Đồng Việt Nam .
Trong 2 kịch b
ản cuối (3 và 4), sự gia tăng lượng vốn trong các ngành sản xuất bù đắp
lại một phần tác động tiêu cực của việc Đồng Việt Nam lên giá trong hầu hết các ngành
khác. Sự gia tăng lượng vốn trong các ngành sản xuất có tác động tích cực đối với tất
cả các ngành khác, đặc biệt là các ngành cung cấp sản phẩm trung gian cho các ngành
sản xuất (xi măng, hóa chất ). Trong tất cả các kịch bản, nhóm ngành 2 (công nghiệp)
là nhóm được hưởng l
ợi chính từ việc gia nhập WTO, sau đó đến nhóm ngành thứ 3
(dịch vụ), với mức hưởng lợi không đáng kể.
Những sự tái phân bổ lại giữa các ngành này diễn ra cùng với sự biến động về giá của
các yếu tố, đặc biệt là tỷ lệ tiền lương của các loại lao động. Các số liệu trong Bảng 19
cho thấy các cú sốc được mô phỏng tạo một sức ép rấ
t lớn đến việc tăng lương, kế cả
dưới giả thiết không sử dụng hết yếu tố lao động. Trong trường hợp này, sức ép lên thị
trường lao động được giải quyết bằng việc tăng tỷ lệ tiền lương và tăng lượng lao động.
61/82
Bảng 19 : Các kết quả mô phỏng – Tỷ lệ tiền lương và nhu cầu đối với từng loại lao
động
Tỷ lệ biến động (%)
Tỷ lệ tiền lương Cơ sở
1,3 0,8 2,2 1,8
Nhu cầu lao động Cơ sở Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Không có tay nghề 14 982
0,3 1,9
Có tay nghề một phần 2 194
0,6 2,0
Nam giới
Có tay nghề cao 465
0,4 0,4
Không có tay nghề 17 235
0,5 2,1
Có tay nghề một phần 1 781
0,9 2,5
Nông thôn
Nữ giới
Có tay nghề cao 292
0,3 0,9
Không có tay nghề 2 783
0,9 2,4
Có tay nghề một phần 958
0,4 1,6
Nam giới
Có tay nghề cao 407
0,4 1,2
Không có tay nghề 3 226
1,2 3,2
Có tay nghề một phần 899
1,5 2,6
Đô thị
Nữ giới
Những biến động về giá và lượng sau đó sẽ được truyền vào mô hình mô phỏng vi mô
phù hợp với các quy tắc giới thiệu trong phần trước. Thu nhập của các hộ gia đình được
tạo thành từ một tập hợp các loại thu nhập khác nhau với mức biến động khác nhau tùy
theo từng ngành (đối với thu nhập từ các hoạt động độc lập) hoặc yếu tố (đối với thu
nhậ
p từ các hoạt động làm công ăn lương). Tác động của các cú sốc được mô phỏng
đối với ba loại thu nhập được trình bày trong Bảng 20.
Tất cả các loại thu nhập đều tăng, trừ thu nhập ngoài hoạt động, vì nó phụ thuộc một
phần vào lượng chuyển giao cố định từ bên ngoài và giá trị của đồng Việt Nam giảm.
Thu nhập ở đô thị từ các hoạt động làm công và hoạt
động độc lập có mức tăng cao
nhất : Trong kịch bản cuối cùng, mức tăng này là 17,7% đối với thu nhập từ lương và
12,5% đối với thu nhập từ các hoạt động độc lập.
Bảng 20 : Các kết quả kinh tế vi mô – Thu nhập của các hộ gia đình
Tỷ lệ biến động (%)
Thu nhập từ các hoạt động
làm công ăn lương
Cơ sở
Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Đô thị
17 737,6 2,5 4,9 6,2 13,8
Nông thôn
5 336,7 0,8 2,2 5,5 9,9
Cả nước
8 623,7 1,3 3,0 5,7 11,1
Thu nhập từ các hoạt động độc lập
lần. Mức chênh lệch này thể hiện những hệ quả tác động khác nhau giữa các ngành,
lĩnh vực: các ngành công nghiệp chủ yếu tập trung ở đô thị là những ngành được
hưởng lợi nhiều nhất từ việc gia nhập WTO (cùng với ngành dịch vụ, trong m
ột chừng 63/82
mực nhất định), trong khi đó tác động đối với ngành nông nghiệp, hoạt động chủ yếu ở
nông thôn, nhìn chung ở mức độ thấp hơn.
Thu nhập theo đầu người tăng lên sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ nghèo đói. Về vấn đề
này, mô hình mô phỏng vi mô được xây dựng dựa trên các dữ liệu từ cuộc điều tra
VHLSS và các dữ liệu này cho phép thực hiện phân tích cho từng vùng (Bảng 21)
24
. Tỷ
lệ nghèo đói giảm mạnh nhất trong các khu vực đô thị. Kết quả này được giải thích một
phần bởi xu thế tăng lương ở đô thị (xem phần trên) và bởi vì tỷ lệ nghèo đói ở đô thị
thấp hơn. Do vậy, chỉ cần tăng 1% thu nhập trung bình theo đầu người cũng đủ để làm
cho tỷ lệ nghèo đói giảm mạnh : trong kịch b
ản 2, tăng 1% thu nhập bình quân đầu
người sẽ làm giảm tỷ lệ nghèo đói xuống 3,6% ở đô thị và chỉ có 1,9% ở nông thôn.
Bảng 21 : Các kết quả kinh tế vi mô - Tỷ lệ nghèo đói
Tỷ lệ biến động (%)
Cơ sở
Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Đô thị
Đồng bằng sông Hồng
4,7 -2,7 -8,8 -11,7 -36,2
10,0 0,3 0,3 -14,0 -18,5
Đồng bằng sông Mêkông
16,6 -2,6 -2,7 -15,6 -18,7
Trung bình nông thôn
24,6 -0,6 -1,3 -7,5 -10,3
Cả nước Cơ sở Kịch bản 1 Kịch bản 2 Kịch bản 3 Kịch bản 4
Đồng bằng sông Hồng
14,7 -0,1 -2,5 -8,4 -10,7
Đông Bắc
28,4 0,5 -0,3 -5,2 -8,8
Tây Bắc
48,9 1,2 0,1 -2,6 -5,1
Duyên hải Bắc Trung Bộ
34,8 -2,3 -2,0 -4,7 -9,8
Duyên hải Nam Trung Bộ
19,6 -0,2 -3,4 -6,9 -10,5
Tây Nguyên
27,3 0,0 0,6 -7,4 -11,2
Đông Nam Bộ
5,1 0,3 -0,8 -15,0 -17,7
Đồng bằng sông Mêkông
15,0 -2,6 -3,5 -14,0 -21,4
Trung bình nông thôn
19,5 -0,8 -1,7 -7,5 -11,8
24
Cũng cần nhắc lại rằng mô hình EGC không mô tả sự vận hành của các thị trường ở phạm vi cả nước.
Nói cách khác, mô hình được xây dựng dựa trên giả thiết hội nhập hoàn hảo các thị trường hàng hóa và
yếu tố sản xuất ; những biến động về giá và lượng không khác biệt nhau giữa các vùng. Tuy nhiên, những
biến động này có mức độ khác nhau về khả năng cung ứng các yếu tố sản xuấ
0,5% 0,2% 0,7% -0,2%
Đô thị
38,0 38,0 37,8 38,1 37,6
0,0% -0,5% 0,3% -1,1%
Nông thôn
35,4 35,5 35,4 35,5 35,2
0,3% 0,0% 0,3% -0,6%
Ghi chú : Hệ số Gini được tính toán dựa trên thu nhập theo đầu người và do đó cao hơn
so với các hệ số vẫn thường được sử dụng trong các nghiên cứu về phân phối thu nhập
ở Việt Nam . Các hệ số này được tính toán dựa trên mức tiêu dùng theo đầu người , do
đó thấp hơn hệ số Gini vì có tính đến hiện tượng làm tròn số tiêu dùng.
Sự biến đổi về tình trạng bất bình đẳng trên phạm vi toàn quốc là kết qu
ả của sự biến
đổi bất bình đẳng trong khu vực đô thị và nông thôn và giữa các vùng với nhau. Nghiên
cứu sự biến đổi tình trạng bất bình đẳng trong khu vực đô thị và nông thôn cho thấy bất
bình đẳng tăng rất ít, thậm chí còn có xu hướng giảm. Như vậy, hiện tượng bất bình
đẳng gia tăng trên phạm vi toàn quốc chủ yếu là hệ quả của sự gia tăng bất bình đẳng
giữa các vùng, g
ắn với hiện tượng tăng mạnh thu nhập ở đô thị (xem Bảng 20). Trong
kịch bản 4, bất bình đẳng giữa đô thị-nông thôn được bù đắp bởi sự suy giảm bất bình
đẳng bên trong khu vực đô thị.
Sự gia tăng bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị bắt nguồn từ một cơ chế tương
đối đơn giản : Các số liệu trong Bảng 21 cho thấy thu nhập t
ừ lao động (và, trong
trường hợp của kịch bản 2 và 4, từ cầu lao động) tăng ở thành thị manh hơn so với
nông thôn. Điều này đúng với tất cả các loại lao động. Mức độ tác động khác nhau này
nền kinh tế thế giới.
Lịch sử phát triển kinh tế thời gian qua cho thấy những Hiệ
p định thương mại mà Việt
Nam đã ký kết (ASEAN, USBTA ) đã có những tác động quan trọng đối với sự tăng
trưởng của Việt Nam. Như đã nêu trong báo cáo của Abott, Bentzen và Tarp (2007),
những nghiên cứu cho giai đoạn tương lai (ex ante) có xu hướng đánh giá thấp tác
động của các chính sách này.
Trong trường hợp của WTO, những cam kết của Việt Nam có phạm vi rất rộng, chứ
không chỉ dừng lại ở một thỏ
a thuận cắt giảm thuế quan đơn thuần. Những cam kết này
liên quan đến tất cả các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế, điều này làm cho việc mô
hình hóa tác động khó khăn hơn. Vì vậy, phần lớn các nghiên cứu thực hiện trước đây
đều giới hạn ở việc đánh giá tác động về mặt thuế quan, dựa trên những giả thiết tạm
thời trong bối cảnh quá trình đ
àm phán gia nhập chưa kết thúc.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng đi xa hơn một bước trong ba lĩnh vực:
- thứ nhất, nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên (cùng với CEPII/ISD,
2007) tính đến các nội dung cụ thể của Hiệp định WTO liên quan đến các cam
kết tự do hóa thương mại của Việt Nam và cả các cam kết của các thành viên
WTO đối với Việt Nam;
- thứ hai, tính thiết thực của các kết quả nghiên c
ứu của chúng tôi xuất phát từ
việc chúng tôi không chỉ đánh giá tác động của việc cắt giảm bảo hộ hải quan
(trên thực tế, tác động này chỉ ở mức độ khiêm tốn) mà cả tác động của việc
tăng nhu cầu trên thị trường nước ngoài đối với hàng hóa Việt Nam (tiếp cận thị
tôi) cho thấy sự cần thiết phải áp dụ
ng các giải pháp hỗ trợ quá trình gia nhập WTO và
nắm bắt các cơ hội do WTO mang lại. Về khía cạnh này, cần tập trung vào 3 vấn đề
quan trọng:
- xu hướng di cư trong nước sẽ có tác động mang tính quyết định đối với sự điều
chỉnh tiền lương ; dĩ nhiên, chính sách di dân mà Việt Nam áp dụng cần phải tính
đến những khía cạnh xã hội khác (giảm di dân từ nông thôn ra các thành phố lớn
nhằm kiểm soát sự
phát triển quá mạnh của đô thị) ; nhưng xu thế tăng di dân
trong nước là khó tránh khỏi trước nhu cầu phân bổ lại một cách hài hòa (không
gây sức ép tiền lương quá lớn) việc làm giữa các ngành, lĩnh vực. Đơn giản hóa
thủ tục đăng ký hộ khẩu là việc làm cần thiết;
- cần thiết có các chính sách phát triển vùng nhằm giảm cách biệt giữa các vùng
và giữa nông thôn và thành thị ; tình trạng tập trung vốn đầu tư
trực tiếp nước
ngoài vào hai thành phố lớn (Hà Nội và TP HCM, là những nơi đã có nhiều việc
làm) sẽ chỉ làm tăng thêm sự cách biệt này (chung tôi đã không đưa được vấn
đề này vào mô hình của chúng tôi); Nhà nước cần phải có biện pháp để tái phân
phối lại những lợi ích thu được từ WTO giành cho những vùng nghèo nhất (ví dụ
vùng Tây Bắc) là những vùng sẽ không được hưởng lợi (thậm chí còn bị thiệt
hại) từ việ
c gia nhập WTO;
- cuối cùng, các chính sách hỗ trợ lao động mất việc làm cũng cần phải được đẩy
mạnh và mở rộng, vì sau khi gia nhập WTO, những sự phân bổ lại lao động giữa
các ngành, lĩnh vực sẽ có xu hướng tăng lên, và ngay trong nội bộ mỗi ngành
cũng sẽ có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp, lượng việc
làm trong các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ giảm đi (điề
mối liên hệ với các tác động có thể có của WTO – dịch vụ, cạnh tranh ), kinh tế vi mô
và kết hợp vĩ mô-vi mô (đưa vào các hàm hành vi ứng xử cá nhân, các mô hình vi mô-vĩ
mô tổng hợp ). 68/82
Tài liệu tham khảo
Abbott P., Bentzen J. et Tarp F. (2007), « Vietnam’s WTO accession: Lessons from Past
Trade Agreements », Mimeo, Central Institute of Economic Management (CIEM),
Hanoi, Vietnam.
Annabi N., Cissé F., Cockburn J. et Decaluwé B. (2005), « Trade Liberalisation, Growth
and Poverty in Senegal : a Dynamic Microsimulation CGE Model Analysis »,
CIRPEE Working Paper N°05-12.
Asian Development Bank et alii (2006), Vietnam Development Report 2006; Business,
Joint Donor Report to the Vietnam Consultative Group Meeting, Hanoi, December.
Asian Development Bank et alii (2005), Vietnam Development Report 2005; Business,
Joint Donor Report to the Vietnam Consultative Group Meeting, Hanoi, December.
Athukorala P. (2007), “Trade Policy Reforms and the Structure of Protection in Vietnam”,
World Economy, forthcoming.
Bannister G. et Thugge K. (2001), « International Trade and Poverty Alleviation », IMF
Worlking Paper N°01/54.
Banque mondiale (2005), Global Economic Prospects and the Developing Countries
2005, Washington, D.C., Banque mondiale.