Tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai 3 tháng đầu tại Bệnh viện Hùng Vương - Pdf 59

iểm số từ 0 đến 3, sản phụ chọn 1 câu đúng.
Tổng số điểm sẽ được ghi nhận (từ 0 đến 30
điểm). Những sản phụ nào có số điểm ≥ 15 được
chẩn đoán ban đầu là có trầm cảm trong khi
mang thai.

Nghiên cứu Y học

Nhận xét: Đa số thai kỳ lần này của các sản
phụ là có mong đợi (83,2%).
Đa số lần này các sản phụ có thai tự nhiên
(94,2%). Các bệnh thường gặp nhất trong thai kỳ
bao gồm: Dọa sẩy thai (6,5%), thiếu máu (5,8%),
viêm âm đạo (4,8%), nghén nặng (4%).

Tỷ lệ (%) trầm cảm trong thai kỳ của phụ
nữ mang thai 3 tháng đầu tại bệnh viện
Hùng Vương (n=400)

KẾT QUẢ
Đặc điểm xã hội - kinh tế của đối tượng
nghiên cứu (n=400)
Tần số
(n=400)
Tuổi
18- 35 tuổi
> 35 tuổi
Cấp I
Cấp II
Cấp III
Trung cấp-CĐ-ĐH

9,5
42,8
25,2
22,5
21,8
21,2
7,5
46,8
2,8
90,8
9,2
20,5
79,5

Nhận xét: Đa số những sản phụ mang thai 3
tháng đầu thuộc nhóm phụ nữ trẻ, tuổi trung
bình là 28,06. Các sản phụ thuộc nhóm tuổi 1835 chiếm tỷ lệ cao nhất (88%).
Hầu hết các sản phụ có trình độ học vấn ở
bậc phổ thông (77,5%). Nhóm các sản phụ có
trình độ học vấn sau đại học chiếm tỷ lệ rất
ít (0%).
Hầu hết các sản phụ đều có mối quan hệ hòa
hợp với chồng (93,2%). Tỷ lệ các sản phụ có mâu
thuẫn với gia đình chồng chiếm tỷ lệ rất ít (4%).

Sản Phụ Khoa

Mối liên quan giữa các yếu tố xã hội-kinh
tế với tình trạng TCTTK của đối tượng
nghiên cứu

16
15
8

Không
p
OR
TC
(KTC 95%)
41
0,005
3,59
336
(1,25-9,98)
35
0,370
163
97
82
79
0,318
82
30
186
11
30

OR
TC
TC
(KTC 95%)
Sống chung với chồng 23
373
0,096
Ly thân/ Ly dị/ Không 1
3
chồng
Hòa hợp với chồng
20
353
0,222
Ít hòa hợp
3
21
Không
0
3
Mâu thuẫn với gia đình 6
10
0,001
12,95
chồng
(3,67-45,1)
Không
17
367


TC
19
358
19
358
332
45
86
291

p

OR
(KTC 95%)
0,035
3,97
(1,03-14,1)
0,315
0,902
0,006

3,10
(1,22-7,8)

Nhận xét: phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thai
kỳ có > 2 đứa con có nguy cơ TCTTK cao gấp
3,97 lần so với nhóm có < 2 con. Phụ nữ mang
thai 3 tháng đầu thai kỳ có tiền căn hư thai có
nguy cơ TCTTK cao gấp 3,1 lần so với nhóm
không có tiền căn hư thai.

Có bệnh tim
Không


TC
4
19
12
11
5
18
4
19
2
21
1
22

Không
TC
19
358
77
300
21
356
12
365
17
360

bệnh trong thai kỳ lần này.
Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thai kỳ bị
dọa sẩy thai trong thai kỳ lần này có nguy cơ
TCTTK cao gấp 4,71 lần so với nhóm không bị
dọa sẩy thai.
Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thai kỳ bị
nghén nặng trong thai kỳ lần này có nguy cơ
TCTTK cao gấp 6,4 lần so với nhóm không bị
nghén nặng.

Các yếu tố liên quan đến trầm cảm đối với
phụ nữ mang thai 3 tháng đầu
Yếu tố
p
OR
> 35t
0,020 2,95
KT khó khăn

Tỷ lệ trầm cảm trong 3 tháng đầu thai kỳ
chúng tôi tìm được trên 400 sản phụ đến khám
thai tại bệnh viện Hùng Vương năm 2011 là
5,75% (23/400 sản phụ). Tỷ lệ này được sàng lọc
bước đầu bằng bảng câu hỏi EDS với ngưỡng
điểm là 15 điểm. Đây là điểm cắt có độ nhạy cao
và độ đặc hiệu cao, được khuyến cáo để chẩn
đoán ban đầu trầm cảm trong thai kỳ(12). Nghiên
cứu tại Úc kết luận EDS với đểm cắt 15, có độ
nhạy 100% và độ đặc hiệu 96% trong sàng lọc
TCTTK(3). 23 sản phụ chúng tôi nghi ngờ có trầm
cảm trong thai kỳ đã được chẩn đoán khẳng
định lại dựa trên thang điểm chẩn đoán trầm
cảm DSM-IV bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần.
Tuy nhiên tỷ lệ trầm cảm trong thai kỳ của
phụ nữ mang thai 3 tháng đầu tại bệnh viện
Hùng Vương có thể cao hơn con số chúng tôi
tìm được do đặc điểm của những đối tượng từ
chối trả lời phỏng vấn như đã đề cập phần trên.
Một số lượng phụ nữ có nguy cơ trầm cảm
trong 3 tháng đầu thai kỳ có thể đã bị bỏ sót.
Tỷ lệ chúng tôi tìm được cũng gần bằng với
tỷ lệ trầm cảm ở nhóm sản phụ từ 14-16 tuần
(6,1%) trong một nghiên cứu thực hiện năm 2009
tại Viện Trường ở Lithuania. Đây là một nghiên

Sản Phụ Khoa

Nghiên cứu Y học


thần(4), phần lớn chúng tôi không tìm thấy mối
liên quan với các yếu tố như nghiên cứu trên.
Đối với yếu tố trình độ học vấn: Chúng tôi
không tìm thấy mối liên quan giữa yếu tố này
với trầm cảm 3 tháng đầu thai kỳ có thể là do
đặc trưng về trình độ học vấn của đối tượng
nghiên cứu như đã bàn luận ở trên: các sản phụ
đến khám thai tại bệnh viện Hùng Vương tập
trung hầu hết ở bậc phổ thông.
Đối với yếu tố tiền căn trầm cảm và có
chứng loạn thần: Trong nghiên cứu của chúng
tôi, tiêu chuẩn loại trừ của đối tượng nghiên cứu
là không có tiền căn bệnh lý tâm thần nhằm tập
trung khảo sát các yếu tố riêng biệt của thai kỳ

255


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012

lần này với bệnh lý TCTTK. Tuy nhiên, chúng
tôi cũng thực sự không an tâm vì trong tất cả các
trường hợp được phỏng vấn, chúng tôi đều
không ghi nhận được trường hợp nào có tiền
căn tương tự. Điều này có thể là do sức khỏe
tâm lý đối với người Việt Nam vẫn chưa được
chú trọng. Sản phụ có thể đã từng có biểu hiện
của các bệnh lý tâm thần trên nhưng có thể

hợp với các yếu tố nguy cơ tìm được trong các
nghiên cứu có liên quan.
Điều trị hiếm muộn cho thai kỳ lần này có
tương quan mạnh với TCTTK (sau yếu tố kinh
tế). Tương quan này có thể được lý giải do
nhiều áp lực khi thực hiện điều trị hiếm muộn:
chi phí tốn kém, thời gian kéo dài, hiệu quả thấp

256

và khao khát mong muốn có con từ bản thân sản
phụ và gia đình. Vì vậy, những sản phụ này bên
cạnh việc điều trị hiếm muộn cũng cần được gia
đình và thầy thuốc quan tâm hơn đến sức khỏe
tinh thần, tình cảm để thai kỳ lần này có được
những kết quả trọn vẹn nhất.
Mâu thuẫn với gia đình chồng cũng góp
phần cho tình trạng TCTTK. Đây có lẽ là một
trong những yếu tố đặc trưng cho phụ nữ châu
Á, các dân tộc chịu ảnh hưởng nền xã hội phong
kiến, người phụ nữ lập gia đình phụ thuộc gia
đình chồng về kinh tế, chỗ ở...
Tuy nhiên, đối với yếu tố tuổi, nghiên cứu
của chúng tôi tìm được có mối tương quan
ngược lại so với tất cả các nghiên cứu mà chúng
tôi tổng quan được. Trong các nghiên cứu khác,
nguy cơ TCTTK sẽ tăng cao trong nhóm phụ nữ
trẻ, riêng trong nghiên cứu của chúng tôi,
TCTTK lại tăng trong nhóm có độ tuổi trung
niên (>35 tuổi). Có thể đây là điểm khác biệt

Mâu thuẫn với gia đình chồng: Nhóm sản
phụ có mâu thuẫn với gia đình chồng tăng nguy
cơ trầm cảm so với nhóm không có mâu thuẫn
với gia đình chồng (OR=1,58).

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.

5.

Alami KM, Kadri N, Berrad S (2006), "Prevalence and
psychosocial correlates of depressed mood during pregnancy
and after childbirth in a Moroccan sample". Arch Womens Ment
Health, 9(6), pp 343-346.
Bennett HA, Einarson A, Koren G (2004), "Prevalence of
depression during pregnancy: sistematic review." Obstet
Gynecol, pp 103:698-709.
Boyce P, Stubbs J, Todd A (1993), "The Edinburgh Postnatal
Depression Scale: validation for an Australian sample". Aust N
Z J Psychiatry, 27(3), 472-476.
Bunevicius R, Kusminskas L, Bunevicius A, Nadisauskiene RJ,
Jureniene K, Pop VJ (2009), "Psychosocial risk factors for
depression during pregnancy". Acta Obstet Gynecol Scand,
88(5), 599-605.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status