1
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
LÊ CẢNH CƯỜNG
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DA THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
2
2
HÀ NỘI, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
LÊ CẢNH CƯỜNG
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DA THÁI BÌNH
CHUYÊN NGÀNH : KINH DOANH THƯƠNG MẠI
MÃ SỐ
: 60 34 01 21
Tác giả bài luận văn xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với Phó Giáo sư Tiến sỹ
Doãn Kế Bôn, Trưởng khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường Đại học
Thương Mại, tuy bận rộn với công tác chuyên môn và công tác quản lý nhưng đã
dành nhiều thời gian và các kiến thức chuyên môn quý báu của thầy hướng dẫn cho
tác giả một cách tận tình và chu đáo.
Tác giả luận văn cũng xin bảy tỏ sự cám ơn chân thành đối với các thầy cô
giáo trong Khoa Sau Đại học, các thầy cô trong Trường đã tận tình chia sẻ kiến thức
và kinh nghiệm cũng như đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giá xin chân thành cảm ơn đến bạn Hoàng Tùng Anh, nhân viên kinh
doanh của Công ty giày da Thái Bình, vì đã giúp đỡ nhiệt tình chia sẻ thông tin hữu
ích; xin cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ,
động viên khích lệ cả về tinh thần lẫn vật chất để tác giả hoàn thành công việc học
tập và nghiên cứu.
5
MỤC LỤC
Chữ viết tắt
CTCP
KNXK
NXB
TBS
EC
EU
FOB
UAE
Từ tiếng Anh
mặt hàng giày dép lớn nhất thế giới. Sản phẩm xuất khẩu giày dép cho đến nay đã
có mặt trên 40 thị trường trên thế giới và ngành giày da vẫn duy trì vị trí là ngành
công nghiệp mũi nhọn, quan trọng trong việc xuất khẩu góp phần tạo thêm nhiều
việc làm, tăng thu nhập cho xã hội. Tuy nhiên, mặc dù sản lượng xuất khẩu của Việt
Nam tăng nhanh về số lượng nhưng giá trị gia tăng thu về vẫn còn khá khiêm tốn,
nguyên nhân là do công nghệ hỗ trợ cho ngành da giày chưa phát triển, chỉ đáp ứng
30-40% nhu cầu nguyên phụ liệu. Một nguyên nhân quan trọng khác đó là phần lớn
các doanh nghiệp còn có quy mô nhỏ dẫn đến khó khăn trong khả năng tiếp cận,
thâm nhập thị trường, đàm phán, quảng bá thương hiệu còn hạn chế. Do vậy, để xâm
nhập và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng tại các thị trường nước ngoài, các doanh
nghiệp trong nước cần nắm bắt thu thập đầy đủ thông tin, lựa chọn đối tác tin cậy và
thực hiện tốt các yêu cầu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Để đạt được thành
công đó, các doanh nghiệp da giày trong nước cần chú trọng đến những chiến lược
phát triển thị trường, làm sao để có các bước đi phù hợp vào thị trường xuất khẩu
hiện tại và thị trường xuất khẩu mới trên thế giới.
Công ty giày da Thái Bình là một trong những đơn vị đi đầu trong ngành sản
xuất da giày tại thị trường Việt Nam. Công ty hiện đang sở hữu hệ thống nhiều nhà
máy rộng khắp cả nước với năng lực sản xuất quy mô lớn. Công ty là đối tác của
nhiều thương hiệu lớn trên thế giới như: Skechers, Decathlon và Wolverin. Sự thành
công của Công ty giày da Thái Bình đã góp phần đưa nền công nghiệp giày Việt
Nam từng bước tiến xa hơn trên sân chơi toàn cầu. Thị trường lớn hiện tại của Công
ty là Mỹ, Pháp, Đức, các nước EU, và công ty đang lên kế hoạch xây dựng chiến
lược xuất khẩu nhằm vào các thị trường mới. Tuy nhiên, tình hình phát triển hiện tại
của Công ty vẫn đang tồn tại một số hạn chế như khả năng đáp ứng nhu cầu về sản
8
phẩm, giá cả, thị trường tiêu thụ vẫn còn thấp, khó khăn tìm kiếm khách hàng mới;
Cụ thể, chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty vẫn đang vướng mắc
lược, các phương thức cạnh tranh đối với thị trường ngoài nước, các phương thức
thâm nhập thị trường quốc tế như thị trường châu Âu, Châu Á.
Văn Thị Minh Huyền (2004), Chiến lược Marketing xuất khẩu hàng hóa Việt
Nam vào thị trường Hoa Kỳ cũng đã đưa ra các lý luận chung về marketing xuất
khẩu, các chiến lược marketing để xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường
nước ngoài đặc biệt là thị trường Mỹ. Tuy nhiên luận văn này vẫn mang tầm vĩ mô,
chưa bám sát hay phân tích tình hình hiện tại của một sản phẩm hoặc một Công ty.
2.2. Tình hình nghiên cứu đề tài thế giới
Fred R David (2000), Khái luận về quản trị chiến lược, NXB Thống Kê, Hà
Nội là một cuốn sách trình bày những kiến thức cơ bản về quản trị chiến lược. Cuốn
sách trình bày một cách hệ thống những khái niệm chung cho đến phân tích từng
vấn đề cụ thể về chiến lược. Cuốn sách cũng phân tích rõ giai đoạn hoạch định
chiến lược gồm ba hoạt động cơ bản là tiến hành nghiên cứu, hòa hợp trực giác và
phân tích, đưa ra quyết định.
Gray D.Smith (2003), Chiến lược và sách lược kinh doanh, NXB Thống kê
đã đưa ra nhưng kiến thức cơ bản và cần thiết từ khái niệm chiến lược, sách lược
kinh doanh đến phân tích môi trường ngành cụ thể. Cuốn sách này chỉ ra cách thức
hoạch định chiến lược kinh doanh áp dụng cho các tập đoàn kinh tế lớn và ở cấp
doanh nghiệp thành viên, tổ chức nhằm kiểm tra việc thực hiện sách lược kinh
doanh đó.
Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về chiến lược
phát triển thị trường xuất khẩu giày da Việt nam sang các thị trường trên thế giới.
Đề tài có những điểm mới cụ thể:
-
Phân tích, hoạch định cách chiến lược xuất khẩu, các chiến lược phát triển sản phẩm
khách nhau để áp dụng trong việc xuất khẩu các mặt hàng giày da tới các thị trường
-
5. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập dữ liệu
- Thu thập các dữ liệu đã có sẵn nhằm xác định tình hình hoạt động hoàn thiện
chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty trong 3 năm vừa qua và định
hướng chiến lược đến năm 2025.
- Các số liệu báo cáo của Công ty về kết quả doanh thu lợi nhuận trong kinh
doanh, tình hình nghiên cứu, phát triển thị trường.
Ngoài ra, một số nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập:
11
- Giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Các bài báo cáo hay luận văn của các sinh viên các khóa trước trong trường.
- Các báo cáo của Chính phủ, các Bộ ngành, số liệu của cơ quan thống kê,
Công ty tài chính...
- Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí chuyên ngành và các văn bản
pháp luật có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp xử lý dữ liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu để có
những thông tin chính xác về tình hình phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty.
- Phương pháp so sánh: dùng để so sánh các số liệu tài chính liên quan đến
hoạt động chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty. Sử dụng các bảng
biểu, đồ thị thông qua phần mềm Excel để so sánh sự tăng giảm và biến đổi của các
chỉ tiêu.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 3 chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của
doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty
• Khái niệm thị trường xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu với tư cách là một bộ phận của thị trường được nhìn
nhận như sau:
Thị trường xuất khẩu tập hợp các khách hàng có nhu cầu trên thị trường chứa
sản phẩm hoặc lĩnh vực hoạt động thương mại mà doanh nghiệp có mối quan hệ với
các nhân tố của môi trường kinh doanh và điều kiện cạnh tranh quốc tế (PGS.TS,
13
Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng, 2002). Quan điểm này tác giả hướng đến
mục đích của khách hàng khi thâm nhập vào thị trường xuất khẩu mà không chú
trọng đến quốc tịch của họ.
Đối với định nghĩa trong sách Marketing quốc tế (PGS.TS, Nguyễn Thành Độ,
TS Nguyễn Ngọc Huyền, 2015) thì “Thị trường xuất khẩu của một doanh nghiệp
tập hợp các khách hàng nước ngoài tiềm năng của doanh nghiệp đó”. Có thể thấy,
quan điểm này thì thị trường xuất khẩu sẽ bao gồm cả tập hợp các khách hàng hiện
tại và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp và nó phụ thuộc vào sự thay đổi về
số lượng nhu cầu của khách hàng nước ngoài.
Tóm lại theo MC Carthy “Thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp là tập hợp
những khách hàng nước ngoài tiềm năng của doanh nghiệp tức là những khách
hàng nước ngoài đang mua hoặc sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp ấy”.
1.1.1.2 Phân loại thị trường xuất khẩu
Có nhiều cách thức phân loại thị trường xuất khẩu hàng hóa, tóm gọn có thể
phân loại thị trường xuất khẩu nổi bật như sau:
Dựa trênvị trí địa lý: Thị trường khu vực (thị trường ASEAN, Trung Đông,
Tây Phi, Nam Á…), thị trường các châu lục như Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Âu,
Châu Á, Châu Úc và Châu Nam cựu, thị trường các quốc gia (Pháp, Hồng Kông,
Mỹ..). Việc phân loại này dựa vào đặc điểm của các thị trường, và việc phân loại
này sẽ liên quan đến việc công ty sẽ phải đề ra chính sách, chiên lược sau này cho
sắc, địa điểm, thời gian,...). Dựa trên số lượng sản phẩm được tiêu thụ sẽ đánh giá
được khả năng phát triển của doanh nghiệp đó. Do vậy, doanh nghiệp xuất khẩu
luôn hướng tới việc thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế và đây sẽ là mục tiêu
kiên quyết để doanh nghiệp thành công với thị trường mới.
- Thị trường xuất khẩu phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Sự giao thương giữa người bán và người mua thể hiện qua giá trị trao đổi bằng
tiền hoặc bằng vàng hoặc bằng những chứng từ hợp đồng có giá trị khác và đích
cuối cùng là tạo ra thu nhập của doanh nghiệp. Vì vậy, ta có thể đánh giá được sự
phát triển của doanh nghiệp khi quan sát tình hình xuất khẩu của họ, tức xem xét
mức độ tham gia thị trường của họ thông qua các con số thời gian, thêm đó có thể
ước chừng được tương lai của doanh nghiệp trong thời gian tới.
- Thị trường xuất khẩu sẽ là cơ sở cho việc sản xuất của doanh nghiệp:
15
Dựa trên sự giao thương hàng hoá và dịch vụ trên thị trường xuất khẩu, nhu
cầu thị trường sẽ là cơ sở cho việc công ty phát triển sản xuất kinh doanh. Trong
điều kiện quan hệ quốc tế ổn định, thuận lợi trong việc giao thương hàng hoá, nhu
cầu khách hàng nhiều sẽ thúc đấy sự sản xuất, từ đó khả năng xuất khẩu của doanh
nghiệp nhiều hơn, và ngược lại, thị trường sẽ loại trừ sự ra nhập khỏi một số doanh
nghiệp kinh doanh nơi mà các sản phẩm của họ không đáp ứng được kì vọng thị
trường. Do đó, thị trường xuất khẩu khuyến khích các doanh nghiệp luôn phải linh
hoạt, bắt kịp với xu hướng thị trường, hướng đến mục đích tạo ra lợi nhuận trong
kinh doanh, và nhất là các mặt hàng không chỉ mới, có chất lượng cao, mà có khả
năng tiêu thụ với khối lượng lớn – dựa trên với nhu cầu thị trường.
- Thị trường xuất khẩu sẽ đánh giá các chương trình kế hoạch kinh doanh
xuất khẩu của doanh nghiệp:
Thị trường cung cấp các thông tin về tổng cung và tổng cầu, quan hệ cung cầu
của từng loại hàng hoá. Thông tin của thị trường đều không phải lúc nào cũng chính
Theo Giáo trình quản trị doanh nghiệp thương mại tập 1 của Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân thì: “Phát triển thị trường là tổng hợp các cách thức và biện pháp
của doanh nghiệp nhằm đưa khối lượng sản phẩm kinh doanh đạt mức tối đa, mở
rộng quy mô kinh doanh, tăng thêm lợi nhuận và nâng cao uy tín của doanh nghiệp
trên thị trường”.
“Phát triển thị trường xuất khẩu là các cách thức và biện pháp của doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu đưa ra nhằm hướng tới thị trường và khách hàng nước
ngoài. Các cách thức và biện pháp đó nhằm mục đích mở rộng thị trường, thu được
lợi nhuận tối đa và nâng cao uy tín của doanh nghiệp ở thị trường ngoài nước”.
Như vậy, có thể hiểu chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu là việc định
hướng những phương tiện, cách thức hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh xuất
khẩu nhằm hướng tới thị trường và khách hàng nước ngoài nhằm mục đích mở
rộng thị trường, thu được lợi nhuận tối đa và nâng cao uy tín của doanh nghiệp ở
thị trường nước ngoài.
1.1.3. Vai trò của chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu
Ngày nay, có rất nhiều các doanh nghiệp sử dụng chiến lược thị trường thích
hợp mà đạt được nhiều thành công, xây dựng được vị thế của chinh họ trên thương
trường quốc tế. Vai trò của chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu thể hiện ở
những mặt sau
17
- Hỗ trợ cho các nhà kinh doanh tận dụng được tối đa các cơ hội mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ ra nước ngoài, thu hút thêm được các đối tượng
khách hàng mới. Thông qua chiến lược mở rộng thị trường nước ngoài bằng cách
xuất khẩu hàng hóa, doanh nghiệp có thể mở rộng được thị trường tiêu thụ, vì rõ
ràng là thị trường quốc tế sẽ có nhu cầu lớn hơn nhiều so với thị trường trong nước
(thể hiện qua mức sống cao, điều kiện sản xuất hạn chế, nhu cầu tiêu thụ cao...), từ
đó, sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được sản xuất và thu được lợi nhuận.
Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều rộng, xét về khía cạnh
không gian và phạm vi địa lý, chiến lược phát triển hướng đến việc mở rộng và phát
triển thị trường mới theo lãnh thổ, sử dụng các kế hoạch chiến lược khác nhau với
những sản phẩm doanh nghiệp hiện đang sản xuất. Đồng nghĩa với việc tìm kiếm,
mở rộng thị trường, tăng quy mô sản xuất và kinh doanh, tăng số lượng khách hàng
tại các thị trường mới.
Như vậy, việc phát triển các thị trường mới tại các quốc gia, khu vực mới sẽ
làm tăng nhu cầu thị trường, tạo cơ hội cho danh nghiệp xuất khẩu mở rộng được
quy mô xuất khẩu của họ. Sử dụng chiến lược phát triển này khi doanh nghiệp
không thể cạnh tranh trên các thị trường xuất khẩu cũ, có khả năng thị trường đó
xuất hiện những rào cản về chính trị, luật pháp và điều kiện kinh doanh trên thị
trường bị thắt chặt, nhu cầu sủa dụng sản phẩm đã trở nên bão hòa.
1.1.4.2. Chiến lược phát triển thị trường theo chiều sâu
Chiến lược phát triển thị trường theo chiều sâu, xét về khía cạnh không gian
và phạm vi địa lý, chiến lược phát triển tăng sản lượng xuất khẩu hàng hóa vào thị
trường doanh nghiệp đang thâm nhập. Đồng thời xuất khẩu các sản phẩm mới tại thị
trường đang kinh doanh, với mục đích nâng cao hiệu quả của các thị trường hiện tại
của doanh nghiệp. Hiệu quả của thị trường có thể được xem xét dựa trên một số tiêu
chí như uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp, lợi nhuận, các con số tăng doanh thu,
mức độ thỏa mãn và trung thành của khách hàng tại thị trường đó. Để thực hiện
theo hướng này, doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới
tiêu chuẩn và hình ảnh sản phẩm, hoàn thiện hệ thống phân phối, nâng cao chất
lượng dịch vụ để tạo sức hấp dẫn đối với khách hàng trên thị trường có sẵn.
Như vậy phát triển thị trường theo chiều sâu làm cho doanh số bán hàng tăng
lên đồng thời với việc tỷ suất lợi nhuận cũng tăng lên, sản phẩm của doanh nghiệp
19
có tính cạnh tranh cao, thị phần của doanh nghiệp tăng cả về mặt giá trị lẫn tỷ trọng
20
- Mục tiêu phải có tính khả thi: Mục tiêu phải được định lượng như mục tiêu
về lợi nhuận, doanh thu, thị phần, tốc độ phát triển… Nếu mục tiêu đề ra quá cao,
người thực hiện sẽ cảm khó khắn, chán nản, ngược lại mục tiêu quá thấp sẽ không
có tính phát triển cho công ty.
- Mục tiêu phải thống nhất: phù hợp với định hướng của doanh nghiệp. Yêu
cầu này đòi hỏi các mục tiêu này không làm cản trở việc thực hiện các mục tiêu
khác. Quả thực, các mục tiêu trái ngược sẽ tạo ra các mâu thuẫn bên trong doanh
nghiệp, do vậy để đảm bảo hệ thống mục tiêu, công ty phải phải nhất quán các mục
tiêu và thực hiện tốt các mục tiêu tổng quát của từng thời kỳ chiến lược.
- Mục tiêu phải linh hoạt: môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi nên
đòi hỏi hệ thống mục tiêu phải linh hoạt để có thể điều chỉnh khi môi trường kinh
doanh thay đổi. Tính linh hoạt là cơ sở đảm bảo để tạo ra các mục tiêu chiến lược
thành hiện thực. Đây là đặc trưng quan trọng của chiến lược so với kế hoạch khi xác
định mục tiêu.
1.2.2. Lựa chọn chiến lược phát triển thị trường
Trên cơ sở đưa ra mục tiêu chiến lược, các kết quả nghiên cứu tình hình thị
trường, đối tác và tiềm năng của doanh nghiệp, luận văn xin đi sâu vào ba hướng
xây dựng, lựa chọn chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu: mở rộng thị trường
xuất khẩu theo chiều rộng; mở rộng thị trường xuất khẩu theo chiều sâu, và mở rộng
thị trường xuất khẩu hỗn hợp.
- Chiến lược phát triển thị trường theo chiều rộng: Được sử dụng khi thị
trường hiện tại có thiên hướng bão hòa về sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp
hoặc doanh nghiệp đã có chỗ đứng trong thị trường xuất khẩu đó, nhu cầu muốn mở
rộng sản phẩm các mặt hàng khác. Doanh nghiệp muốn phát triển thị trường xuất
khẩu xét theo phạm vi địa lý cần mở rộng mạng lưới bán hàng của mình đến các
quốc gia, các khu vực mới một cách đa dạng. Mạng lưới bán hàng bao gồm các cửa
hàng, hệ thống đại lý,… được doanh nghiệp bố trí và sắp xếp, kết nối với nhau
trong chuỗi hệ thống nhằm quản lý và buôn bán hàng hóa của doanh nghiệp. Việc
1.2.3.1. Các quyết định về sản phẩm xuất khẩu
Việc phát triển sản phẩm là việc cung cấp thêm ngày càng nhiều dạng sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng thêm nhu cầu, thị hiếu của thị trường, đặc
biệt là các mặt hàng mới có chất lượng cao. Đó chính là các quyết định đem lại hiệu
quả cao, là cách thức thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.
22
Sản phẩm của doanh nghiệp là tập hợp các yếu tố đồng nhất nhằm đáp ứng
nhu cầu của khách hàng bao gồm từ việc chất liệu sản phẩm (hiện vật), cách đóng
gói bao bì, nhãn hiệu, dịch vụ, đến khâu bán hàng tới tay người tiêu dùng. Từ quan
điểm trên, chỉ cần một sự thay đổi trong những yếu tố sẽ giúp sản phẩm thêm công
năng mới tạo sự hiếu kì và cũng có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Một công ty muốn tồn tại lâu dài thì đều phải tiến hành phát triển sản phẩm
mới. Cần phải tìm sản phẩm thay thế để duy trì hay tạo ra mức tiêu thụ trong tương
lai. Hơn nữa, các khách hàng đều mong muốn có sản phẩm mới và đối thủ cạnh
tranh cũng cố gắng hết sức để đáp ứng chúng. Một doanh nghiệp có thể quyết định
phát triển sản phẩm theo các hướng sau:
- Đối với chiến lược phát triển thị trường theo chiều sâu: Thâm nhập sâu vào
thị trường hiện tại. Doanh nghiệp tìm cách tăng mức tiêu thụ những hàng hóa hiện
có của mình trên những thị trường hiện có, bao gồm:
+ Chiến lược thay đổi tính năng của sản phẩm: Theo cách này có thể cải tiến,
tạo ra sản phẩm mới bằng việc thay đổi lại các tính năng của sản phẩm cũ nhằm
đảm bảo các sản phẩm an toàn hơn, tiện lợi hơn.
+ Chiến lược cải tiến kiểu dáng và chất lượng sản phẩm cho những thị trường
hiện có. Chiến lược cải tiến chất lượng có mục tiêu là làm tăng độ bền cũng như các
đặc tính khác của sản phẩm đang sản xuất. Chiến lược này có mục tiêu làm thay đổi
hình dáng, hình thức của sản phẩm như thay đổi kết cấu, màu sắc, bao bì… tạo ra sự
khác biệt của sản phẩm.
một thời gian dài. Phương thức xuất khẩu vào thị trường là việc lựa chọn các kênh
phân phối, các trung gian phân phối thích hợp, đồng thời thiết lập và kiểm soát mối
liên hệ và hoạt động của các kênh phân phối đó. Các phương thức xuất khẩu vào thị
trường nước ngoài bao gồm:
- Xuất khẩu trực tiếp:
Hoạt động bán hàng trực tiếp của một doanh nghiệp cho các khách hàng của
mình ở thị trường nước ngoài mà không qua trung gian. Thông thường, các doanh
nghiệp tiến hành xuất khẩu trực tiếp phải nghiên cứu kỹ thị trường và đã có đủ các
thông tin cần thiết để đảm bảo chắc chắn cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu, do
đó phần nào đây là các doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm quốc tế thường trực tiếp
24
bán các sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài. Xuất khẩu trực tiếp có thể
diễn ra theo các hướng như:
-
Mở chi nhánh, đại diện bán hàng của mình ở nước ngoài.
Xuất khẩu từ nước thứ ba.
Xuất khẩu từ công ty liên doanh, liên kết.
Xúc tiếp qua các Hiệp hội xuất khẩu.
Nhìn chung, ưu điểm từ hoạt động xuất khẩu này thu được lợi nhuận thường
cao hơn các hoạt động phương thức xuất khẩu khác do giảm bớt được các khâu
trung gian. Các đơn vị kinh doanh có thẻ chủ động hơn trong việc thương mại hóa,
đưa ra được điều kiện thích nghi, ứng xử linh hoạt với thị trường xuất khẩu, và do
vậy dễ dàng đáp ứng nhu cầu khách hàng, gợi mở và kích thích nhu cầu tiêu dùng.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải nguồn lực lớn, chấp nhận môi trường cạnh tranh,
rủi ro của thị trường quốc tế,
- Xuất khẩu gián tiếp:
để cạnh tranh. Bên cạnh đó, do thiếu am hiểu về phong tục tập quán, luật pháp của
thị trường nước ngoài nên doanh nghiệp xuất khẩu dễ bị mất thị trường.
-
Gia công quốc tế
Là một phương thức hoạt động kinh doanh thương mại trong đó bên nhận gia
công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán nguyên liệu, có thể cả công nghệ từ bên đặt
gia công để chế biến thành sản phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận được
phí gia công. Đây được gọi là hình thức xuất khẩu gắn liền với sản xuất. Có thể nói,
phương thức xuất khẩu này là phổ biến trong buôn bán ngoại thương, được nhiều
nước đặc biệt là các nước đang phát triển áp dụng, do có nguồn nhân lực dồi dào,
giá thành nguyên liệu phụ và nhân công rẻ.
Ưu điểm đối với gia công quốc tế là bên nhận gia công không phải bỏ nhiều
chi phí, vốn đầu tư, và ít chịu rủi ro cho đầu ra sản phẩm. Hơn nữa, các doanh
nghiệp gia công có thêm điều kiện để học hỏi các kinh nghiệp về quản lý, tiếp cận
các máy móc, công nghệ kỹ thuật mới (của bên đặt gia công) và phần nào cũng giải
quyết công việc làm ăn cho người lao động. Tuy nhiên doanh nghiệp nhận gia công
cũng phải chịu một số rủi ro như bị động trong sản xuất, nguy cơ nhận được bãi rác
công nghệ và giá trị gia tăng thấp
Khi lựa chọn các phương thức xuất khẩu kể trên, các doanh nghiệp cần chú ý
đến các yếu tố về văn hóa, môi trường chính trị và pháp luật, quy mô thị trường
xuất khẩu, chi phí sản xuất và vận chuyển cùng với khả năng đáp ứng về tài sản,
nguồn lực và kinh nghiệm quốc tế của doanh nghiệp.