1
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Xuân Thủy
Sinh ngày: 26/08/1991
Học viên lớp CH21B Tài chính – Ngân hàng
Niên khóa 2015 – 2017; Trường Đại học Thương Mại
Tôi xin cam đoan:
1. Luận văn Thạc sĩ kinh tế: “Quản lý tài chính ngân sách xã, phường trên
địa bàn thị xã Chí Linh, Tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Văn Trang;
2. Các số liệu mà tôi sử dụng trong luận văn là trung thực, những kết quả
trong luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
3. Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Xuân Thủy
2
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Viết đầy đủ
6
KHNS
Kế hoạch ngân sách
7
NĐ
Nghị định
8
NSĐP
Ngân sách địa phương
9
NSNN
Ngân sách nhà nước
10
NSX
Ngân sách xã, phường
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với Chương
trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới hiện nay, yêu cầu tìm ra
những giải pháp quản lý ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách xã nói
riêng góp phần tạo nguồn lực cho chính quyền cấp xã thực hiện nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Ngân sách nhà nước được ổn định từ 3 đến 5 năm theo quy định của
Luật Ngân sách nhà nước năm 2002. Năm 2016 là năm cuối cùng kéo dài của
thời kỳ ổn định ngân sách giai đoạn 2011-2015. Do vậy, đề tài “Quản lý tài
chính ngân sách xã, phường trên địa bàn thị xã Chí Linh” tập trung nghiên
cứu trong giai đoạn cuối cùng của thời kỳ ổn định ngân sách cũ và chuyển
giao sang thời kỳ ổn định ngân sách mới, qua đó giúp đánh giá một cách tổng
quát và khách quan nhất về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước, những
thành quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong quản lý ngân sách nhà
nước trên địa bàn các xã, phường thị xã Chí Linh.
liệu thống kê cho thấy cần phải đưa ra những phương hướng, đề xuất giải
pháp cho quản lý ngân sách xã.
Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Vân (2014), “Giải pháp tăng
cường quản lý ngân sách xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây – Thành phố Hà
Nội” - Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính đã đi sâu nghiên cứu vấn
đề quản lý ngân sách xã trên địa bàn thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội giai
đoạn (2009-2013). Tác giả đã trình bày và làm rõ cơ sở lý luận chung về ngân
sách xã và quản lý ngân sách xã, trong đó đã đi sâu làm rõ các khái niệm về
ngân sách xã, đặc điểm ngân sách xã. Qua đó cho thấy được vai trò, vị trí
quan trọng của ngân sách xã trong hệ thống ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó,
bằng những nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa
bàn thị xã Sơn Tây, tác giả đã khái quát được ưu, nhược điểm trong quản lý
ngân sách xã trên địa bàn và nêu ra được các nguyên nhân dẫn tới hạn chế còn
tồn đọng. Tác giả đã định hướng, đề xuất một số giải pháp quản lý ngân sách
xã cụ thể liên quan tới từng hạn chế và nguyên nhân còn tồn tại của địa
phương.
6
Do vậy đề tài “Quản lý tài chính ngân sách xã, phường trên địa bàn thị
xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương” sẽ đi sâu phân tích tình hình quản lý ngân sách
xã, phường trên địa bàn để tìm ra những hạn chế còn tồn đọng cũng như đưa
ra các giải pháp cần thiết để giải quyết trong thời kỳ ổn định ngân sách tiếp
theo.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách xã,
phường trên địa bàn thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về ngân sách cấp xã và quản lý ngân sách xã,
sách trên địa bàn địa phương quản lý và định hướng các giải pháp, kiến nghị.
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua các nguồn số liệu từ
UBND thị xã Chí Linh như Chi cục Thống kê, Phòng Tài chính - Kế hoạch thị
xã, và từ các công trình nghiên cứu, bài viết, báo cáo và các đề tài nghiên cứu
khoa học có liên quan của các tổ chức cá nhân trên tạp chí, sách báo và trên
mạng Internet.
Phương pháp xử lý số liệu:
Những dữ liệu sơ cấp, thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm
các sách, báo, tạp chí, các văn kiện, nghị quyết, các công trình đã được xuất
bản, các số liệu về tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu, số liệu thống kê,
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội. Những số liệu này được thu thập bằng cách
sao chép, đọc, trích dẫn như trích dẫn tài liệu tham khảo.
Sử dụng báo cáo tổng hợp quyết toán thu, chi ngân sách hàng năm do
Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã tổng hợp; báo cáo thu - chi ngân sách của
KBNN và của các xã, phường.
Kết quả phỏng vấn được được xử lý bằng phương pháp phân tích định
lượng.
6. Kết cấu luận văn thạc sỹ
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục và
phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân sách cấp xã và công tác quản lý ngân
sách xã, phường.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính ngân sách xã,
phường trên địa bàn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
8
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính ngân sách xã,
phường trên địa bàn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Như vậy, ngân sách cấp xã là một bộ phận của NSNN, là ngân sách cấp
cơ sở, cấp ngân sách cuối cùng trong hệ thống NSNN. Chính quyền cấp xã
thể hiện rõ nhất các quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, là nơi trực tiếp tổ
10
chức triển khai, chỉ đạo thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách, luật
pháp của Đảng và Nhà nước. Hay nói cách khác về bản chất của ngân sách
nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế
khác, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của nhà
nước chính quyền cấp xã nhằm phục vụ cho các chức năng, nhiệm vụ của
chính quyền nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ đã được phân công, phân
cấp quản lý.
Sơ đồ 1.1Mô hình phân cấp ngân sách
1.1.2. Vai trò của ngân sách cấp xã
Vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước
theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà
nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội.
Ngân sách cấp xã chính là một cấp của ngân sách nhà nước do đó NSX cũng
có vai trò của một ngân sách nhà nước là tham gia điều tiết về kinh tế, xã hội,
thị trường nhưng trên bình diện của chính quyền xã. Vai trò này thể hiện rõ
nhất thông qua nội dung của NSX.
Ngân sách cấp xã là công cụ tham gia điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã
hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều
chỉnh đời sống xã hội. Huy động các nguồn tài chính của ngân sách để đảm
bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
1.1.4. Nội dung ngân sách cấp xã
12
Nội dung ngân sách bao gồm nguồn thu và nhiệm vụ chi được phân cấp
từ ngân sách trung ương đến ngân sách địa phương. Thực chất của sự phân
cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp xã là giải quyết mối quan hệ
giữa ngân sách cấp xã với ngân sách cấp trên từ việc quản lý sử dụng ngân
sách Nhà nước. Một trong những yêu cầu của việc phân cấp nguồn thu, nhiệm
vụ chi ngân sách là phải nhận định rõ ràng, cụ thể, phải phù hợp với chức
năng của từng cấp. Do vậy việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân
sách cấp xã phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội, quốc phòng, an
ninh của nhà nước và chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cấp xã. Tuy
nhiên trong mỗi thời kỳ nguồn thu, nhiệm vụ chi cũng có sự điều chỉnh, bổ
sung cho phù hợp với thực tế. Theo Luật ngân sách năm 2002 đã được Quốc
hội thông qua thì cơ cấu nguồn thu cho cấp xã ở địa phương khác nhau do Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định. Tuy nhiên, cơ cấu đó phải phù hợp với
những hướng dẫn tại Thông tư 60/2003 TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài
Chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác ở xã,
phường, thị trấn.
1.1.4.1 Nguồn thu của ngân sách xã, phường.
Thông qua hoạt động thu ngân sách mà các nguồn thu được tập trung
hình thành nên quỹ ngân sách, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của chính quyền xã,
phường. Thông qua hoạt động thu, chính quyền cấp xã đã thực hiện việc kiểm
tra, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động
khác trên địa bàn xã, đảm bảo cho các hoạt động này tuân thủ theo đúng quy
định của pháp luật. Thông qua hoạt động thu ngân sách, chính quyền cấp xã
gián tiếp thực hiện những chính sách điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, hướng dẫn
sản xuất tiêu dùng từ công cụ thuế của Nhà nước.
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
- Thu tiền sử dụng đất.
- Lệ phí trước bạ nhà, đất.
- Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Đối với các khoản thu trên ngân sách xã, phường được hưởng tối thiểu
70%. Căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của xã, Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh có thể quyết định tỷ lệ ngân sách xã, phường được hưởng cao hơn, tối đa
là 100%.
Tỷ lệ phần trăm các khoản trên cho ngân sách xã do Ủy ban nhân dân
tỉnh quy định và ổn định 5 năm, phù hợp với tình hình ngân sách địa phương.
Để giảm bớt khối lượng nghiệp vụ, khuyến khích tăng thu có thể giao chung
14
cho các xã, phường cùng một tỷ lệ.
Thu bổ sung từ Ngân sách cấp trên
Trong tổ chức hệ thống ngân sách Nhà nước các cấp có mối quan hệ
hữu cơ với nhau và mỗi cấp phải tự cân đối thu chi ngân sách. Tuy nhiên, trong
những hoàn cảnh cụ thể nếu cấp ngân sách (hay một bộ phận cấp ngân sách)
nào không tự cân đối được thì ngân sách cấp trên có trách nhiệm bổ sung vốn
cho cấp ngân sách (hay bộ phận cấp ngân sách đó) để đảm bảo cân đối thu chi
ngay từ khâu xây dựng dự toán. Từ đó hình thành khoản thu bổ sung từ ngân
sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Cơ chế xác định số thu bổ sung từ ngân
sách cấp trên được quy định như sau:
- Thu bổ sung để cân đối ngân sách được xác định trên cơ sở chênh
lệch giữa dự toán chi theo các nhiệm vụ được giao và dự toán thu từ các
nguồn thu được phân cấp (các khoản thu hưởng 100% và các khoản thu phân
chia theo tỷ lệ %). Số bổ sung này được xác định từ năm đầu thời kỳ ổn định
và được giao ổn định từ 3 năm đến 5 năm.
lâm, khuyến ngư, nuôi dưỡng phát triển nguồn thu ngân sách.
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
Chi đầu tư phát triển.
Nhóm chi đầu tư phát triển là tập hợp các nội dung chi có liên quan
đến việc cải tạo, nâng cấp hoặc làm mới các công trình thuộc hệ thống cơ sở
vật chất - kỹ thuật như: đường giao thông, kênh mương tưới tiêu nước, trường
học, trạm xá, hệ thống truyền tải và cung cấp điện năng…. Do vậy, các khoản
chi thể hiện rõ mục đích tích lũy nên cần phải ưu tiên đầu tư vốn nhiều hơn.
Nội dung chi đầu tư phát triển hiện nay của ngân sách cấp xã gồm:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội, không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của tỉnh.
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức cá nhân cho từng dự án
nhất định theo quy định của pháp luật, do Hội đồng nhân dân quyết định đưa
vào ngân sách quản lý.
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
1.2. Quản lý tài chính ngân sách xã, phường
1.2.1 Khái niệm bản chất của quản lý ngân sách xã, phường
Ngân sách xã, phường là một bộ phận của ngân sách nhà nước, là nguồn
tài chính tập trung quan trọng trong hệ thống ngân sách nhà nước. Ngân sách
16
xã, phường là tiềm lực tài chính, là sức mạnh về mặt tài chính của chính
quyền cấp xã. Quản lý và điều hành ngân sách xã có tác dụng chi phối trực
tiếp đến các hoạt động tài chính khác ở cơ sở. Quản lý ngân sách xã, phường
có phạm vi hẹp hơn khái niệm về quản lý ngân sách nhà nước.
Quản lý ngân sách cấp xã là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà
nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật
tầng ; đảm bảo đầy đủ nguồn tài chính để giải quyết những nhiệm vụ trọng
yếu của chính quyền cấp xã trong từng thời kỳ, bảo đảm cân đối tích cực trên
cơ sở trong khả năng nguồn thu phân cấp không được bội chi ngân sách.
1.2.3 Đặc điểm của quản lý ngân sách xã, phường
Quản lý ngân sách mang tính chất thực hiện thường xuyên, liên tục và
toàn diện, từ khâu lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách. Việc lập
dự toán ngân sách phải thể hiện đầy đủ các quan điểm chủ yếu của chính sách
tài chính quốc gia như: cơ cấu động viên các nguồn thu, bố trí các nội dung
chi...Trong khâu chấp hành dự toán ngân sách xã cơ bản phải lập kế hoạch
thu, chi chia ra các tháng, quý để tổ chức thực hiện tốt, đồng thời kiểm soát
chặt chẽ thu, chi ngân sách trong từng tháng, quý. Trong khâu quyết toán phải
kiểm tra chặt chẽ các báo cáo thu chi ngân sách hàng tháng, quý, đặc biệt là
các báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách năm. Như vậy trong một năm ngân
sách phải quản lý tốt đồng thời cả ba khâu, đó là: chấp hành ngân sách của
chu trình hiện tại, quyết toán ngân sách của chu trình trước, và lập dự toán
ngân sách cho chu trình tiếp theo, và cứ lặp đi, lặp lại.
Quản lý ngân sách phát huy tính dân chủ, công khai theo phương châm
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Tính dân chủ thể hiện người dân
cũng được tham gia quản lý theo luật. Nhân dân phải được bàn và quyết định
trực tiếp các vấn đề sau: chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng
và các công trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường, trạm xá, các công
trình văn hoá thể thao...). Đồng thời nhân dân phải kiểm tra, giám sát các hoạt
động của HĐND và UBND xã.
Tính công khai thể hiện: mọi hoạt động thu chi ngân sách phải rõ ràng
minh bạch, công khai cho dân biết theo chính sách pháp luật của Nhà nước.
Các nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND xã và của cấp trên liên quan
đến địa phương, dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm, dự toán và quyết
18
thôn, xoá dần khoảng cách thành thị và nông thôn theo đường lối của Đảng.
19
Xây dựng và hoàn thiện một hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp với
điều kiện thực tế của đất nước và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng,
miền tạo điều kiện cho ngân sách ngày càng lớn mạnh đủ để thể hiện vai trò
của mình trong quản lý kinh tế, chính trị xã hội của chính quyền cấp xã.
Nuôi dưỡng, khai thác, tạo lập và phát triển các nguồn thu cho ngân
sách, sử dụng các nguồn vốn ngân sách cấp xã tiết kiệm hiệu quả đảm bảo cơ
cấu chi đầu tư phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn. Đảm
bảo chi thường xuyên duy trì tốt hoạt động của chính quyền xã.
Xây dựng ngân sách nhằm đảm bảo các chính sách xã hội của nhà nước
đối với cấp xã.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo chính sách, kỷ luật tài
chính đảm bảo công bằng xã hội sử dụng hiệu quả tiền vốn của nhà nước, của
nhân dân.
Đảm bảo tính tự chủ, đảm bảo cân đối chung trong hệ thống ngân sách
giảm dần và tiến tới xoá bỏ diện các xã, phường không tự cân đối được ngân
sách. Xây dựng ngân sách cấp xã lành mạnh tự chủ không phụ thuộc vào ngân
sách cấp trên.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chế độ, triển khai áp dụng thống nhất
các quy định về công tác hạch toán kế toán ngân sách. Đảm bảo hệ thống sổ
sách báo cáo kế toán phục vụ tốt yêu cầu quản lý, yêu cầu giám sát, thực hiện
tốt chế độ công khai tài chính ngân sách.
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách đồng bộ đủ mạnh để thực
hiện nhiệm vụ quản lý hướng dẫn, xây dựng ngân sách đáp ứng được yêu cầu
trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.
1.2.5 Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách xã, phường
- Lập và xây dựng phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp xã trình
HĐND cấp huyện phê duyệt trên cơ sở thảo luận và làm việc với UBND xã,
phường về cân đối thu - chi ngân sách, theo khả năng bố trí cân đối chung của
ngân sách địa phương, phân bổ dự toán thu - chi ngân sách sau khi đã được
HĐND xã phê duyệt
- Hướng dẫn kiểm tra việc quản lý tài chính - ngân sách, thực hiện chế
độ kế toán của chính quyền cấp xã. Hướng dẫn các xã, phường trong việc lập,
chấp hành và quyết toán ngân sách xã hàng năm.
- Đôn đốc kiểm tra thường xuyên việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu chi ngân sách và các hoạt động tài chính của chính quyền cấp xã, cân đối thu -
21
chi ngân sách cấp xã theo đúng quy định của pháp luật
- Hướng dẫn các xã, phường lập báo cáo tài chính theo chế độ quy định;
thẩm định quyết toán thu - chi ngân sách hàng năm sau khi hội đồng nhân dân
xã, phường phê chuẩn; tổng hợp báo cáo quyết toán thu - chi ngân sách xã báo
cáo ủy ban nhân dân thị xã và cơ quan tài chính cấp trên.
1.3. Nội dung quản lý tài chính ngân sách xã, phường
1.3.1 Lập dự toán ngân sách
Dự toán ngân sách gồm dự toán thu ngân sách và dự toán chi ngân sách.
Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán ngân sách là nhằm tính toán đúng đắn
ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chỉ
tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch.
1.3.1.1 Yêu cầu trong quá trình lập dự toán ngân sách
Kế hoạch ngân sách nhà nước phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế,
xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội. Kế hoạch ngân sách chỉ mang tính hiện thực khi nó bám sát kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, cũng chính là thực hiện kế hoạch ngân sách nhà
Ba là, lập dự toán ngân sách nhà nước phải dựa trên các chính sách, chế
độ, tiêu chuẩn định mức cụ thể về thu, chi tài chính Nhà nước. Lập dự toán
ngân sách nhà nước là xây dựng các chỉ tiêu thu chi cho năm kế hoạch, các
chỉ tiêu đó chỉ có thể được xây dựng sát, đúng, ngoài dựa vào căn cứ nói trên
phải đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi tài chính
nhà nước thông qua hệ thống pháp luật (đặc biệt là hệ thống các Luật thuế,
pháp lệnh phí lệ phí) và các văn bản pháp lý khác của Nhà nước.
Bốn là, việc lập dự toán trong thời kỳ ổn định ngân sách căn cứ vào tỷ lệ
phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối từ ngân sách
cấp tỉnh đã được giao, đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào
chế độ phân cấp ngân sách và dự toán thu, chi ngân sách cấp huyện do UBND
tỉnh giao.
Năm là, số kiểm tra về dự toán ngân sách xã, phường do phòng Tài chính
cấp huyện thông báo.
Sáu là, tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã, phường đến thời điểm
lập dự toán và ước thực hiện dự toán năm hiện hành để xây dựng dự toán
năm sau.
1.3.2 Chấp hành dự toán ngân sách
23
Chấp hành dự toán ngân sách là quá trình sử dụng tổng hợp các biện
pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong
kế hoạch ngân sách năm trở thành hiện thực. Phân bổ và giao dự toán chi
ngân sách: Sau khi UBND giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I
tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân
sách trực thuộc theo các nguyên tắc được quy định tại Điểm a khoản 1 điều 44
của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ.
Dự toán chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ
ngân sách nhà nước. Định kỳ, cán bộ tài chính cấp xã báo cáo việc sử dụng và
quyết toán biên lai đã được cấp với cơ quan cung cấp biên lai.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền quyết định phải hoàn trả khoản thu
ngân sách xã, Kho bạc Nhà nước xác nhận rõ số tiền đã thu vào ngân sách cấp
xã của các đối tượng nộp trực tiếp hoặc chuyển khoản vào Kho bạc Nhà nước;
đối với đối tượng nộp qua cơ quan thu thì cơ quan thu xác nhận để cán bộ tài
chính cấp xã làm căn cứ hoàn trả.
Đối với các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100% và phân theo tỷ
lệ phần trăm (%). Căn cứ vào dự toán thu theo tháng, quý và các chính sách thu
ngân sách Nhà nước hiện hành, trước khi đến thời điểm huy động cán bộ Tài
chính cấp xã báo cáo Chủ tịch UBND đồng thời thông báo rộng rãi công khai
cho các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp chuẩn bị sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ
nộp của mình. Để tổ chức chấp hành thu sao cho vừa đảm bảo hoàn thành và
hoàn thành vượt mức kế hoạch thu được giao lại vừa thực hiện nghiêm chỉnh
các chính sách thu ngân sách của Nhà nước. Căn cứ vào đặc điểm hình thành
nguồn thu của mỗi khoản thu, cán bộ tài chính lựa chọn thời điểm huy động
cho phù hợp. Tùy theo phạm vi phát sinh của mỗi khoản thu mà tổ chức lực
lượng và địa điểm thu nộp cho phù hợp. Thông qua quá trình động viên tập
trung nguồn thu mà thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát đối với các hoạt động
kinh tế tài chính trên địa bàn nhằm điều chỉnh các hoạt động này theo đúng
chủ trương của Nhà nước. Đồng thời phát hiện và bồi dưỡng những ngành
nghề, những cơ sở có nhiều tiềm năng phát triển để vừa thúc đẩy kinh tế, xã
hội vừa bồi dưỡng nguồn thu cho ngân sách cấp xã.
Đối với các khoản thu phân chia với ngân sách cấp trên, Kho bạc Nhà
nước lập Bảng kê các khoản thu ngân sách có phân chia cho các xã, phường,
gửi cán bộ tài chính. Nguồn thu bổ sung từ ngân sách thị xã cho các xã,
phường đã được thông báo theo dự toán từ đầu năm. Căn cứ vào dự toán được
25
từ hợp lệ.