Bài giảng: điều tra sự chết do quá trình điều trị - Pdf 59

ĐIỀU TRA SỰ CHẾT DO QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRỊ
Phạm vi của chương:
• Xác định.
• Điều tra.
• Phân loại và khám nghiệm tử thi do - hoặc có quan hệ tới điều trị.
• Chẩn đoán và qui trình điều trị.
1. Mục tiêu của điều tra:
Việc hỗ trợ cho điều tra trong việc trả lời câu hỏi “quá trình chẩn đoán hoặc nguyên
do điều trị hoặc yếu tố góp phần nên cái chết của bệnh nhân ?” Từ khi tiến hành
thường bị nghi ngờ trong phạm vi rộng của hành động có ái tính với hoạt động thần
kinh như người kiểm tra về y học.
2. Phân loại quá trình điều trị có thể đã liên quan tới cái chết:
Bộ khung hữu dụng cho việc xem xét sự liên quan tới chẩn đoán hoặc điều
trị theo mô hình sau:
- Chụp mạch vành, não, động mạch chủ.
- Tiêm thuốc màu và thực nghiệm những nghiên cứu. Thí dụ: Chụp tĩnh
mạch đài bể thận, làm tuỷ đồ, chụp CT Scanner.
- Trích thủ tổ chức. Thí dụ: gan, thận, phổi, tuỵ, sau phúc mạc.
- Quá trình nội soi.
3. Quá trình điều trị:
- Ngoại khoa: những phức tạp trong quá trình điều trị như: Cắt bỏ túi mật,
nong cổ tử cung, niệu đạo, nạo (thai), cắt bỏ tử cung, làm hậu môn nhân tạo, cắt bỏ
phổi, phẫu thuật phồng động mạch chủ, cắt cụt chi, nối mạch máu, bắc cầu động
mạch vành.
- Tắc nghẽn – thí dụ: Tắc mạch phổi phức tạp sau phẫu thuật ngoại khoa, tắc
mạch ối trong sản khoa.
- Gây mê, tê toàn thể hoặc từng vùng (bao gồm tuỷ sống, ngoài màng cứng),
sốt cao.
- Quá trình điều trị: bao gồm truyền máu, uống thuốc, tạo hình mạch máu,
huyết khối mạch vành, huyết khối độ 4.
- Sốc điện.

cái chết, họ có thể báo cáo nhanh chóng toàn bộ những cái chết đó có thể liên quan
tới việc chẩn đoán hoặc điều trị hoặc kiểm tra điều trị.
Chắc chắn thẩm phán như Maryland (địa phương) yêu cầu giải thích về cái
chết của bệnh nhân trong khi bệnh nhân được gây mê mà đã được gây mê mà đã
được giám định y pháp xác định. Mặt khác không phải là đặc biệt về sự tiêm chích
của họ của nhiều trường hợp, nhưng trong thực tế, toàn bộ yêu cầu của toà án bao
gồm thể loại báo cáo về những cái chết bị nghi ngờ hoặc bản chất còn tiềm ẩn.
Trang 2
Việc giám định phải sử dụng bằng moi cố gắng và cơ hội chắc chắn rằng
những nhân viên y tế và những thực hiên bằng kiến thức rộng về luật pháp cho việc
báo cáo về những trường hợp chết và cần phải có sự phối hợp.
Sự phối hợp như vậy sẽ dễ dàng trong việc điều tra và đảm bảo chắc chắn
rằng hồ sơ của bệnh nhân được sẵn sàng sử dụng để nghiên cứu. Người điều tra trở
lại sẽ chụp toàn bộ hoặc phần phù hợp của hồ sơ. Sự chụp này sẽ được giữ cùng với
hình thái bí mật trong công việc điều tra.
Những nhân viên y tế sẽ được chỉ dẫn chuyển toàn bộ thiết bị và dụng cụ
điều trị tại nơi điều trị mà bệnh nhân bị chết phù hợp với việc điều tra.
Việc giữ gìn hiện trường khi bệnh nhân còn sống phù hợp với việc xác định
cơ chế của cái chết. Thí dụ: bệnh nhân nữ còn trẻ bị chết, người đã phải chịu đựng
một sự lựa chọn về quá trình điều trị phụ khoa, việc điều tra kể cả phòng mổ để xác
định rằng dây nối oxy đã bị hỏng và hậu quả cô ta bị ngừng tim và chết.
7. Điều tra một trường hợp :
Tái dựng hiện trường:
Khi có thể, cái chết của nạn nhân sẽ được kiểm tra “tại hiện trường” nơi
bệnh nhân bị chết, như vậy có điều kiện khoanh vùng tức thì vùng cần xác định và
tài liệu. Tuy nhên trong nhiều trường hợp cố gắng tối đa để cứu sống bệnh nhân sẽ
làm thay đổi hiện trường. Điều này không thể ngăn cản được điều tra để thu thập
toàn bộ những thông tin có thể sử dụng được và cho phép có độ tin cậy để tái dựng
lại hiện trường nạn nhân đã bị chết.
8. Những lời khai của nhân chứng:

nghiệm, những chế độ về dinh dưỡng, quản lý thuốc hoặc những tổ chức xã hội
hoặc những hiệp hội quốc gia của thanh tra y tế. vv… Nếu đội ngũ cán bộ có chất
lượng về nghiệp vụ là vị trí của địa phương kiểm tra về trang thiết bị và sai sót của
nó, điều này phải thực hiện tức thì. Nếu không có những người như vậy, cần có sự
điều động từ nơi khác đến để bổ sung.
11. Khám nghiệm:
Khám nghiệm y pháp sẽ phục vụ cho tài liệu để chứng minh công tác điều
trị, bao gồm những ống nghiệm, sonde, những vết trích rạch như là hậu quả không
bình thường của quá trình điều trị. Những tài liệu đó cùng với những thay đổi về
giải phẫu bệnh, độc chất và những kết quả vi thể, sẽ cho phép để củng cố hoặc biện
luận của chẩn đoán, cũng như việc xác định những yếu tố, bao gồm những yếu tố
khác dẫn tới tử vong. Việc khám nghiệm phải toàn diện và đặc biệt những công bố
về các câu hỏi tăng lên bởi những khía cạnh trong quá trình điều trị. Việc kiểm tra
tổ chức não sẽ là tài liệu để chứng minh sự nguy hiểm của thiếu oxy não, đó là hậu
quả của sự tắc nghẽn được thông khí hoặc một vài điều khiện tự nhiên khác do
ngừng tim.
Cẩn thận các lớp cấu trúc ở vùng cổ, hệ mạch ở phía sâu là cần thiết để đánh
giá về sự xuất hiện hoặc thiếu của chấn thương trong đường dẫn khí có thể đã xảy
ra trong khi đặt nội khí quản để gây mê cho bệnh nhân hoặc từ nguyên nhân bên
ngoài như khi nằm trên giường lò xo.
Trang 4
Nếu những mạch lớn bị dãn và thoát mạch trong những trường hợp chẩn
đoán hoặc quá trình điều trị cần thận trọng kiểm tra hiện tượng tắc mạch khí xuât
hiện (trước khi khám nghiệm cần chụp X-quang ngực trái (kể cả phải) và cần kiểm
tra màng ngoài tim xem có tắc mạch khí không? Điều này yêu cầu cho phép đo
được lượng khí xuất hiện bằng dung cụ riêng.
Nếu chứng minh sự tác hại đặc biệt của các phủ tạng thì cần phải xác định
bằng việc khám nghiệm, chẳng hạn như những chấn thương thì cần phải chụp ảnh
cho tài liệu. Tiêu chuẩn cho những mẫu xét nghiệm phủ tạng như những mảnh nhỏ
tổ chức của những chấn thương, sẽ được kiểm tra bằng vi thể. Đánh giá sự hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status