luận văn kinh tế luật pháp luật điều chỉnh việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán - Pdf 59

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Thương mại, được sự chỉ bảo tận tình
của các Thầy Cô, em đã có những kiến thức, bài học quý báu. Đó thật sự là một món
quà vô giá. Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô, đặc biệt là các Thầy giáo, Cô
giáo khoa Kinh tế - Luật trường Đại học Thương mại đã dạy dỗ, tạo điều kiện thuận
lợi cho em thực hiện Khóa luận trong suốt thời gian qua.
Em xin cảm ơn Th.S Đỗ Hồng Quyên đã tận tâm, nhiệt tình giúp đỡ trong quá
tình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Đồng thời, em cũng xin gửi lời
cảm ơn tới các anh, các chị cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần xây dựng Fadin
Việt Nam đã tạo điều kiện cho em có khoảng thời gian quý báu học tập và nghiên cứu
tại quý công ty.
Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề pháp lý liên quan, nhưng
do trình độ lý luận, kiến thức bản thân còn có phần hạn chế nên bài khóa luận không
tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự phản hồi, góp ý của Thầy, Cô
giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Kiều Oanh

1


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
LTM: Luật thương mại
HĐ MBHH: Hợp đồng mua bán hàng hóa
CTCP: Công ty cổ phần
CTTNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn

2


Vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa được nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu, dưới những góc độ khác nhau. Trên thực tế đã có nhiều
luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ,… nghiên cứu các đề tài liên quan đến hợp đồng như
đề tài:
- Luận văn Thạc sỹ (2014) “Một số giải pháp hạn chế rủi ro cho các doanh
nghiệp Việt Nam trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”
của tác giả Chu Ngọc Anh, lớp cao học quản trị kinh doanh, trường Đại học Ngoại
Thương Hà Nội do TS.Tăng Văn Nghĩa hướng dẫn. Nội dung của bài tiểu luận này tác
giả mong muốn phần nào giúp các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu tránh được những
rủi ro trong quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đảm bảo
được mục đích kinh doanh và lợi nhuận.

4


-

- Luận văn Thạc sỹ (2009) “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đàm phán, kí
kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty cổ phần vật tư bưu điện” của
tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh. Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu các
hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty sau đó phân tích quá trình đàm phán, kí
kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị của công ty để tìm ra những mặt phù hợp
và mặt chưa phù hợp của công ty.
- Khóa luận tốt nghiệp (2006) “Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa tại công ty TNHH Nhất Nước” của tác giả Mai Thị Thương, lớp luật kinh doanh
K48 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tác giả trong tiểu luận này tập trung nghiên
cứu một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại
công ty. Từ đó, tìm ra những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm góp
phần vào việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời đưa ra
một số đề xuất giúp công ty nâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết và thực hiện

Như vậy có thể nói, liên quan đến vấn đề hợp đồng mua bán hàng hoá, hiện nay
có khá nhiều các công trình nghiên cứu có giá trị được tiến hành. Tuy nhiên, các lĩnh
vực nghiên cứu các công trình hầu như chỉ là một mặt của hợp đồng mua bán hàng hóa
chứ chưa có cái nhìn tổng quát về hợp đồng mua bán hàng hóa. Hay nói một cách
khác, lĩnh vực nghiên cứu này vẫn còn tồn tại một số vấn đề đang còn tranh luận cần
tiếp tục làm rõ trong điều kiện hiện hành ở Việt Nam.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Xuất phát từ thực tiễn, em nhận thấy pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
nói chung cũng như trong Luật thương mại nói riêng còn nhiều vấn đề cần tìm hiểu và
làm rõ. Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần xây dựng FADIN Việt Nam, em
thấy pháp luật hợp đồng là rất quan trọng đối với công ty, tuy nhiên do hạn chế về tổ
chức quản lý của công ty nên công ty không có bộ phận pháp chế, còn chưa chú trọng
chuyên sâu tìm hiểu về vấn đề này.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu pháp luật về hợp đồng, nhưng nhu cầu
việc tiếp tục nhận thức các quy định của pháp luật hiện hành về pháp luật mua bán
hàng hóa còn nhiều. Tất cả những thành công của các công trình nghiên cứu nêu trên
đều là cơ sở cho em thực hiện nghiên cứu, nhằm hướng tới nhận thức thêm, nhận thức
sâu hơn, nhận thức đầy đủ hơn một số khía cạnh pháp luật hợp đồng, cụ thể là pháp
luật về hợp đồng mua bán hàng hóa. Bởi vậy, em đã chọn đề tài “Pháp luật điều chỉnh
việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cho mình.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề liên quan đến việc kí kết và
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần xây
dựng FADIN Việt Nam.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát
thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
tại doanh nghiệp, để có thể:
-Tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của Luật

để đi sâu vào vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
+ Thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổng
quan quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng
hóa nói riêng như Luật thương mại 2005 hay Bộ luật dân sự 2015, các văn bản quy
phạm pháp luật có liên quan về hợp đồng mua bán hàng hóa. Từ đó đưa ra một số nội
dung pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Chương 1 về: Một số khái niệm cơ
bản liên quan đến việc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
+ Thu thập số liệu có liên quan đến ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa tại công ty cổ phần xây dựng FADIN Việt Nam. Để làm rõ thực trạng áp dụng
Luật thương mại 2005 trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
tại công ty. Chương 3 của đề tài đã thu thập các tài liệu của công ty cổ phần xây dựng
FADIN Việt Nam như: Điều lệ, các quy chế, quy trình, báo cáo tài chính, các hợp đồng
mua bán hàng hóa của công ty.

7


-

Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, em phân tích đánh giá nội dung các
quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa được thực hiện trong Chương 1
và thực trạng áp dụng chúng trong giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
tại Công ty cổ phần xây dựng FADIN Việt Nam.
Từ những kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn,
tìm ra được bản chất, quy luật vận động của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
nói chung cũng như Luật thương mại nói riêng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu như đã nêu ở trên, đề tài ngoài lời cảm ơn,
danh mục từ viết tắt, lời mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung thì

Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 quy định “ Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Khái niệm này đưa ra
những đặc điểm cơ bản của hợp đồng: bản chất pháp lý của hợp đồng, mục đích của sự
thỏa thuận và chủ thể của hợp đồng. Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận của ít
nhất hai bên tham gia giao kết hợp đồng. Như vậy, hợp đồng dân sự là giao dịch dân
sự, trong đó các bên có sự thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau nhằm xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự cho nhau. Tuy nhiên, một giao dịch dân sự có
thể không phải là hợp đồng. Mọi hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận, tuy nhiên không
phải là bất kỳ sự thỏa thuận nào cũng là hợp đồng. Chỉ những thỏa thuận được xác lập,
thực hiện trên cơ sở sự ưng thuận đích thực, thống nhất ý chí của các bên, phù hợp với
ý chí của các bên mới là hợp đồng. Mục đích của hợp đồng là nhằm phát sinh, thay
đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật. Sự thỏa thuận
giữa các chủ thể là điều kiện cần nhưng chưa đủ nếu không có mục đích làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng dân sự là hành vi mang tính
ý chí của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định cho nên hợp đồng dân sự là hành
vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch
Như vậy, hợp đồng dân sự là một loại quan hệ pháp luật dân sự, hình thành trên
sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ đó nhằm thỏa mãn nhu
cầu của nhau.
9


1.1.2. Hợp đồng mua bán hàng hóa.
Theo nghĩa rộng, hàng hóa được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được
tạo ra nhằm mục đích trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Vì nhu cầu của
con người vô cùng đa dạng và thay đổi liên tục nên hàng hóa cũng theo đó mà phong
phú và biến thiên theo. Dựa vào đặc trưng từng loại mà hàng hóa được phân thành bất
động sản (bao gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài
sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản gắn liền với đất đai) và động
sản (là những tài sản không phải là bất động sản) hay phân thành tài sản hữu hình và


biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại.
Các hợp đồng được giao kết không nhằm mục đích lợi nhuận là hợp đồng mua bán có
tính chất dân sự.
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng được giao kết bởi các thương
nhân, là sự thỏa thuận giữa các bên để xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ
của các bên, và giao kết nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.3. Kí kết hợp đồng.
Kí kết hợp đồng là hành vi ràng buộc các bên, buộc các bên phải thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình khi tham gia hợp đồng, là hành vi được thực hiện giữa bên mua
và bên bán, thường xảy ra sau khi giao kết hợp đồng. Giao kết hợp đồng là giai đoạn
mà các bên bày tỏ ý chí với nhau về những nội dung, điều kiện để đi đến thỏa thuận ký
kết một hợp đồng, thống nhất xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
qua lại giữa các bên. Khi hai bên có thỏa thuận hợp tác trong một khoảng thời gian nếu
2 bên thấy không có bất lợi gì sẽ tiến hành ký hợp đồng có thời hạn hoặc không thời
hạn. Việc ký kết hợp đồng được xem là hành vi nhằm hợp đồng hoá giai đoạn đàm
phán, giao kết. Các bên sẽ ký kết với nhau những điều khoản đã thương lượng, ghi
nhận những cam kết đã thoả thuận. Thông qua ký kết HĐLĐ mà các chủ thể hợp đồng
tham gia vào quan hệ lao động đã được xác lập.
1.1.4. Thực hiện hợp đồng.
Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định phù hợp với
pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu thì hợp
đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Nghĩa là từ thời điểm đó, các bên trong hợp
đồng bắt đầu có quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau. Theo nội dung của hợp đồng,
các bên lần lượt tiến hành các hành vi mang tính nghĩa vụ đúng với tính chất đối
tượng, thời hạn, phương thức, địa điểm mà nội dung của hợp đồng đã xác định.
Vì vậy, thực hiện hợp đồng là việc các bên tiến hành các hành vi mà mỗi một bên
tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng những quyền dân sự tương ứng của
bên kia. Khi thực hiện hợp đồng, các bên phải tuân thủ các nguyên tắc mà pháp luật
quy định, đồng thời, các bên tham gia hợp đồng phải thực hiện đúng, đầy đủ các điều

Tự nguyện giao kết hợp đồng là các bên hoàn toàn thể hiện ý chí của mình, mong
muốn ký kết hợp đồng sau khi thống nhất thông qua các điều khoản đã thỏa thuận vì
lợi ích của đôi bên, không đe dọa, cưỡng ép bên kia giao kết hợp đồng mà không theo
ý chí của họ.
Theo nguyên tắc này, các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng
phải bảo đảm nội dung của các quan hệ đó, thể hiện được sự tương xứng về quyền và
nghĩa vụ trong hợp đồng, bảo đảm lợi ích cho các bên. Trong nền kinh tế thị trường,
các cá nhân, tổ chức dù thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý khi kí kết
hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Khi hợp đồng đã được xác lập thì phải
bảo đảm quyền và nghĩa vụ tương xứng giữa các chủ thể, có thực hiện đúng, đầy đủ
nghĩa vụ thì mới được hưởng quyền, nếu vi phạm phải bị xử lý.
Sự bình đẳng được đề cập ở đây là sự bình đẳng về mặt pháp lý, sự bình đẳng
trước pháp luật chứ không phải là sự bình đẳng về mặt kinh tế giữa các chủ thể. Dựa
trên cơ sở tự nguyện cùng nhau giao kết hợp đồng, nhưng nếu giữa các bên không có
thiện chí, thiếu sự hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thì việc xác
lập hợp đồng này cũng không mang lại lợi ích tối đa cho các bên trong quan hệ hợp
12


đồng. Thêm vào đó, trong giao kết hợp đồng các bên phải thể hiện sự trung thực, ngay
thẳng thì mới có thể trở thành đối tác lâu dài của nhau trong các quan hệ thương mại,
đặc biệt là trong quan hệ mua bán hàng hóa.
. Việc tuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng nhằm
đảm bảo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng có thể mang lại lợi ích cho các bên
đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật bảo vệ.
1.3. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Những thỏa thuận trong hợp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên.
Các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng. Bởi hợp đồng có
tính chất là “luật nội bộ” đối với các bên. Để đảm bảo việc thực hiện lợi ích nghĩa vụ
cho các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật bảo vệ, pháp

công dân với nhà nước, qua đó quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được bảo vệ,
không làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người khác. Trong mua bán hàng hóa,
nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ, bên bán có nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu của
bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ ba; Hàng hóa đó
phải hợp pháp; việc chuyển giao hàng hóa là hợp pháp (Điều 45 LTM 2005). Nguyên
tắc trở nên có ý nghĩa khi các bên thỏa thuận không đầy đủ các nội dung trong hợp
đồng, đang thực hiện thì phát sinh những vấn đề mới mà các bên không thể lường
trước được.

14


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC
HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1. Pháp luật điều chỉnh việc kí kết hợp đồng.
2.1.1. Hình thức hợp đồng
Hình thức của hợp đồng dân sự là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của những
nội dung của nó dưới một dạng vật chất hữu hình nhất định. Theo đó, những điều
khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một
hình thức nhất định.
Theo Điều 24 Luật thương mại 2005 thì hợp đồng mua bán hàng hóa được thể
hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Có nhiều hình
thức để thiết lập hợp đồng để được pháp luật công nhận và bảo vệ tính hợp pháp của
hợp đồng. Thông thường để thiết lập một hợp đồng mua bán các bên tham gia giao kết
hợp đồng chủ yếu sử dụng hình thức thiết lập bằng văn bản nhằm đảm bảo quyền và
nghĩa vụ của các bên được thực hiện tốt nhất, giảm bớt các rủi ro phát sinh về sau này.
Văn bản hợp đồng là văn bản ghi nhận lại toàn bộ nội dung mà các bên đã thỏa thuận
và đi đến thống nhất. Một hợp đồng về cơ bản gồm các điều khoản hay các mục, theo

Vì vậy mà có những quan hệ hợp đồng mà pháp luật không có yêu cầu phải giao kết
bằng hình thức này nhưng để có căn cứ chắc chắn, các bên nên chọn hình thức văn bản
để giao kết hợp đồng.
2.1.2. Nội dung hợp đồng
Nội dung của hợp đồng bao gồm những điều khoản mà các bên tham gia giao kết
hợp đồng thỏa thuận xác lập nên sau khi đã tự do bàn bạc, thương lượng. Nội dung của
hợp đồng xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, quyết định tính khả thi của hợp
đồng cũng như hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Các bên khi thỏa thuận về nội dung của
hợp đồng phải bảo đảm là những nội dung hợp pháp với các điều khoản rõ ràng, cụ
thể, có tính hiện thực cao.
Luật thương mại 2005 đã không quy định về nội dung của hợp đồng mua bán
hàng hóa. Trên cơ sở xác lập mối quan hệ với Bộ luật dân sự, khi xem xét vấn đề nội
dung của hợp đồng mua bán hàng hóa chúng ta có thể dựa trên các quy định của Bộ
luật dân sự.
Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nội dung của hợp đồng dân sự,
theo đó nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể bao gồm các nội dung chủ
yếu sau:
• Đối tượng của hợp đồng;
Trong mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng là một hàng hóa nhất định, đây
là điều khoản cơ bản của HĐ MBHH, mà khi thiếu nó hợp đồng mua bán hàng hóa
không thể hình thành được do người ta không thể hình dung được các bên tham gia
hợp đồng nhằm mục đích gì, trao đổi gì. Đối tượng của HĐ MBHH được xác định
thông qua tên gọi của hàng hóa, các bên có thể ghi rõ tên hàng bằng tên thông thường,
tên thương mại... để tránh có sự hiểu sai lệch về đối tượng hợp đồng.
• Số lượng, chất lượng;
Điều khoản về số lượng hàng hóa xác định về mặt đối tượng của hợp đồng. Các
bên có thể thỏa thuận và ghi trong hợp đồng về số lượng hàng hóa cụ thể hoặc số
16



đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bên mua có nghĩa vụ và nhận hàng đúng thời gian, địa
điểm và trả tiền cho bên bán. Các bên có thể thỏa thuận với nhau sao cho hợp lý với
tình hình thực tiễn, khả năng thực hiện của mỗi bên. Địa điểm giao hàng có thể do hai
bên thỏa thuận, phù hợp với điều kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên. Khi
thỏa thuận cần thỏa thuận cụ thể địa chỉ giao hàng, đảm bảo nguyên tắc phù hợp với
khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn cho phương tiện.
17


Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những nội dung mà khi các bên giao kết
với nhau đều phải thoả thuận, nếu chưa thoả thuận được thì coi như chưa giao kết hợp
đồng. Khi đã thoả thuận được nội dung chủ yếu thì hợp đồng mua bán hàng hoá coi
như đã có hiệu lực pháp lý. Nội dung khác các bên có thể thoả thuận ghi vào hợp
đồng, khi các bên không ghi vào hợp đồng thì mặc nhiên chấp nhận những quy định
chung của pháp luật về vấn đề đó hoặc chấp nhận những tập quán thói quen trong hoạt
động thương mại.
Tuy vậy, để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực thì mục đích và nội dung
các thỏa thuận trong hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Ví dụ:
hàng hóa mà các bên mua bán không nằm trong danh mục hàng cấm kinh doanh theo
quy định của pháp luật Việt Nam.
2.1.3. Quyền và nghĩa vụ của các bên.
Các bên trong HĐMBHH bao gồm bên bán và bên mua, có thể được giao kết
giữa thương nhân với thương nhân hoặc giữa thương nhân với một bên không phải là
thương nhân. Theo Điều 6 LTM 2005 thì thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được
thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh. Thương nhân được quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các
địa bàn và dưới các hình thức mà pháp luật không cấm. Thương nhân là cá nhân thì cá
nhân đó phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đó là khả năng của cá nhân bằng hành
vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự ( Điều 19 BLDS 2015).
Thương nhân là tổ chức bao gồm các đối tượng như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

nếu các bên không có thỏa thuận khác (Điều 38 LTM 2005).
Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa được quy định tại Điều 42 Luật
thương mại 2005. Trường hợp có thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có
nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua vào thời hạn, tại địa điểm
và bằng hình thức đã thỏa thuận.
Một trong những nghĩa vụ của bên bán là phải kiểm tra hàng hóa trước khi giao
hàng. Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa mà bên
mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hóa không
thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán
biết hoặc không thể không biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho
bên mua (Khoản 5 Điều 44 Luật thương mại 2005).
Bên bán còn có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa. Theo đó bên
bán phải bảo đảm: quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh
chấp bởi bên thứ ba; hàng hóa đó phải hợp pháp; việc chuyển giao hàng hóa là hợp
pháp.
Ngoài ra, bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điều
46 LTM 2005). Trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách
nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn bảo hành đã thỏa thuận và phải
chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 49 LTM
2005).
• Quyền và nghĩa vụ của bên mua.
Bên mua hoặc đại diện của bên mua có quyền tham dự việc kiểm tra chất lượng
hàng hóa trước khi giao hàng nếu các bên có thỏa thuận. Bên mua vắng mặt sau khi
được thông báo mời dự kiểm tra thì người bán có quyền giao hàng theo thỏa thuận.
19


Sau khi hàng được vận chuyển đến nơi giao hàng, bên mua có quyền kiểm tra hàng
trong một thời hạn hợp lý. Tùy theo đặc tính của từng loại hàng mà thời hạn và cách
thức kiểm tra cũng khác nhau (Điều 44 Luật thương mại 2005). Trách nhiệm của bên

toán. Bên mua cũng có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trường hợp:
Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh
toán; bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền
20


tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết; bên mua có
bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì có
quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán khắc phục được sự không phù hợp
đó.
2.2. Pháp luật điều chỉnh việc thực thi hợp đồng.
2.2.1. Thực hiện các cam kết, các điều khoản của hợp đồng.
• Thực hiện điều khoản về đối tượng của hợp đồng.
Là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm. Đối tượng của
HĐ MBHH phải được xác định rõ trong hợp đồng tranh chấp xảy ra những sai sót dẫn
đến tranh chấp giữa các bên. Mặc dù ngay từ đầu xác định giao kết hợp đồng, bên mua
vốn đã biết trước nhu cầu của mình với hàng hóa rồi mới tìm đến các bên đối tác, hoặc
bên bán có những hàng hóa như thế nào khi xác định đề nghị giao kết chào hàng.
• Thực hiện điều khoản về chất lượng, số lượng.
Những quy định về vấn đề này được ghi nhận trong hợp đồng thoả thuận giữa hai
bên. Quy định chất lượng hàng hóa nhằm phân biệt giữa các chủng loại khác nhau,
mẫu mã, tránh việc nhầm lẫn có thể xảy ra. Các bên có thể thỏa thuận về số lượng nhất
định hàng hóa cụ thể mà bên bán phải giao. Và nghĩa vụ của bên bán là phải giao đủ số
lượng như đã thỏa thuận thì có thể dựa vào những điều khoản đã quy định trong hợp
đồng để đảm bảo lợi ích của mình
• Thực hiện điều khoản về thời hạn, địa điểm, phương thức giao nhận hàng hóa.
Đến thời hạn giao hàng thỏa thuận trong hợp đồng, tại nơi giao hàng, bên bán
phải giao hàng cho bên mua đủ số lượng và đảm bảo chất lượng, bên mua có nghĩa vụ
có mặt để nhận hàng. Địa điểm giao hàng có thể là kho của bên mua, cũng có thể là
nơi mà hai bên đã thỏa thuận từ trước.

vào hợp đồng và có xem xét quy định của pháp luật.
o Có thiệt hại xảy ra.
Việc xác định thiệt hại là nhiệm vụ của bên bị vi phạm. Bên bị vi phạm phải có
nhiệm vụ xác định xem bên vi phạm đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ nội dung hợp đồng như thế nào và phải chứng minh là đã có thiệt hại
xảy ra đối với mình. Thiệt hại xảy ra đối với bên bị vi phạm phải là thiệt hại về tài sản
và là thiệt hại có thực, có thể tính toán được. Cụ thể hơn, những thiệt hại có thực tức là
những thiệt hại cho bên bị vi phạm được tính toán dựa trên tổn thất, chi phí, thất thu.
o Lỗi:
Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đã thực hiện đối với hành vi bị coi là trái
pháp luật cũng như đối với hậu quả của hành vi đó. Lỗi có thể là lỗi vô ý hoặc cố ý.
Lỗi trong các quan hệ thương mại cũng giống như lỗi trong các quan hệ pháp luật dân
sự là lỗi suy đoán. Khi một bên vi phạm hợp đồng đã kí kết thì pháp luật suy ra bên vi
phạm là có lỗi, muốn được coi là không có lỗi, không phải chịu trách nhiệm thì bên vi
phạm phải tự chứng minh được là mình không có lỗi.
o Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra:
Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân tất yếu của thiệt hại và thiệt hại phải
là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng. Tức là hành vi vi phạm hợp đồng và
thiệt hại phải có mối quan hệ nhân quả với nhau.
 Chế tài xử lý vi phạm hợp đồng
Theo quy định tại Điều 294 Luật thương mại 2005, bên vi phạm hợp đồng được
22







-

nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định.
Trường hợp bên vi phạm là bên mua thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả
tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong
hợp đồng.
Phạt vi phạm
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt
do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách
nhiệm đã được quy định.
Theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, Mức phạt vi phạm do các bên

23


-

-

thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Các bên có thể thỏa thuận
về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường
thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.Trường hợp
các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu
phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu
phạt vi phạm.
Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi
phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị
tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản
lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Theo quy định tại điều 301 Luật thương mại 2005, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ
hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp

đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện
nghĩa vụ đối ứng. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định
của pháp luật.
Hủy bỏ hợp đồng
Bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng: Hủy bỏ toàn
bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối
với toàn bộ hợp đồng; Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần
nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được giao kết hợp đồng
Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp trách nhiệm bằng
văn bản, dự liệu trước các hậu quả có thể xảy ra, tìm biện pháp xử lý hậu quả trên tinh
thần hợp tác.
Đối với những quan hệ mua bán hàng hoá có thời hạn cố định về giao hàng, nếu
xảy ra trường hợp bất khả kháng các bên đều có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và
không bên nào có quyền đòi bên kia bồi thường. Nếu việc giao hàng được thoả thuận
trong một thời hạn khi các bên không thoả thuận, thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng được tính thêm một thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng
cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả.

CHƯƠNG 3
THỰC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC THI HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG FADIN VIỆT NAM. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status