ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ CÔNG BA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH
LỊCH SỬ TÂN TRÀO, TỈNH TUYÊN QUANG, ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ
PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ CÔNG BA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH
LỊCH SỬ TÂN TRÀO, TỈNH TUYÊN QUANG, ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ
PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Ngành: Sinh thái học
Mã số: 9420120
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, góp ý về
chuyên môn của GS.TSKH. Trần Đình Lý, PGS.TS Hoàng Chung, PGS.TS Nguyễn
Văn Sinh, PGS.TS Lưu Đàm Cư, PGS.TS Nguyễn Thế Hưng, PGS.TS Sỹ Danh
Thường, PGS.TS Hoàng Văn Ngọc, TS. Đỗ Hữu Thư, TS. Ma Thị Ngọc Mai, TS.
Lương Thị Thúy Vân, TS. Đinh Thị Phượng cùng các chuyên gia trong lĩnh vực
Sinh thái học, Động vật học, Lâm học, Thực vật học. Tôi thực sự biết ơn những sự
chỉ bảo quý báu đó.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Sinh học
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên. Cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã
giúp đỡ tôi xác định các loài thực vật ở khu vực nghiên cứu. Tôi xin cảm ơn Ban
lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân viên Khu di tích lịch sử Tân Trào, Chi cục kiểm
lâm tỉnh Tuyên Quang. Tôi cũng xin cảm ơn cán bộ, chuyên viên UBND các cấp và
nhân dân địa phương đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, cũng như điều tra
ngoài thực địa.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tân Trào; cán bộ, giảng viên
Phòng Đào tạo, Khoa Khoa học Cơ bản đã giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian để tôi
tập trung học tập và hoàn thành luận án.
Cũng nhân dịp này cho tôi được tỏ lòng biết ơn đến gia đình và người thân
đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019
Tác giả luận án
Đỗ Công Ba
4
4
10.
IUCN
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
KDTLS
KVNC
ODB
OTC
PCCCR
PTBV
PTNT
QCVN
SĐVN
TĐT
TTV
UBND
6
Ý nghĩa
Biến đổi khí hậu
Bộ Tài nguyên Môi trường
Bảo tồn thiên nhiên
Canh tác nương rẫy
Đa dạng sinh học
Danh lục đỏ cây thuốc
Di tích
Dự trữ sinh quyển
Hệ sinh thái
Intermatonal Union for Conservation of Nature and NatureRescources
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
7
7
DANH MỤC CÁC HÌNH
8
8
trải rộng trên diện tích 48.035,27 ha (chiếm 8,12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh)
9
9
thuộc địa bàn của 11 xã của 2 huyện Sơn Dương và Yên Sơn, cách Thành phố
Tuyên Quang 45 km về phía Đông Nam. Đây là vùng đồi núi thấp, có độ cao từ 95
- 814m so với mực nước biển. Tân Trào là Khu di tích lịch sử của cách mạng Việt
Nam thời kỳ Cách mạng tháng Tám, vì vậy ngày 10 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 548/QĐ-TTg công nhận Khu di tích lịch sử
Tân Trào là Khu di tích Quốc gia đặc biệt. Từ khi được công nhận là Khu di tích
Quốc gia đặc biệt tới nay, chính quyền địa phương đã có nhiều cố gắng trong công
tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị đặc biệt của Khu di tích. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu đánh giá tính phong phú, đa dạng và vai trò của thảm thực vật đối với
sinh kế của người dân, bảo vệ môi trường và tạo nên cảnh quan của Khu di tích
còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng tới việc quy hoạch,
quản lý, bảo tồn cảnh quan và đa dạng sinh học. Cùng với đó là sức ép dân số
ngày càng gia tăng, các hoạt động khai thác gỗ, củi, dược liệu, phá rừng làm
nương rẫy, săn bắt động vật trái phép… vẫn đang là thách thức lớn, bởi sinh kế
của người dân địa phương phần lớn dựa và sản xuất nông, lâm nghiệp với nguồn
thu nhập thấp, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số sống đan xen trong Khu di
tích. Vì vậy, đây là những nguyên nhân quan trọng làm suy giảm tính đa dạng sinh
học nói chung và đa dạng thực vật nói riêng tại Khu di tích lịch sử Tân Trào trong
những năm qua.
Từ những yêu cầu cấp bách trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu
tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, đề
xuất giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý phục vụ cho phát triển bền vững”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
vật trong việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, sinh kế của người dân và những yếu tố
tác động ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh
Tuyên Quang.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp
bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý thảm thực vật và hệ thực vật tại Khu di tích lịch sử
Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững cả về kinh tế,
xã hội và môi trường.
5. Những điểm mới của luận án
- Lần đầu tiên sử dụng khung phân loại của UNESCO (1973) để phân loại
và mô tả đặc điểm hình thái, cấu trúc của các kiểu thảm thực vật tại Khu di tích
lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang.
11
11
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tính
đa dạng của hệ thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, gồm
726 loài, 462 chi, 137 họ, thuộc 6 ngành bậc cao có mạch.
- Luận án làm sáng tỏ vai trò của thảm thực vật, hệ thực vật trong việc bảo vệ
cảnh quan, môi trường, sinh kế của người dân và những yếu tố tác động ảnh hưởng
đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang.
12
12
Trái đất, ở một vùng địa lý, một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định.
13
13
1.1.1.3. Đa dạng hệ sinh thái
Trong tự nhiên tồn tại những quần xã sinh vật bao gồm các loài sinh vật sinh
sống trong một không gian nhất định ở một thời điểm nhất định, có mối quan hệ với
nhau và với các nhân tố của môi trường tạo thành một thể thống nhất, tương đối ổn
định. Những quần xã sinh vật như thế gọi là hệ sinh thái và ở đó vòng tuần hoàn vật
chất, dòng năng lượng và dòng thông tin được thực hiện.
Ða dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở
cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó [87].
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [83], nhiều nhà khoa học trong và ngoài
nước đều công nhận trên thế giới có nhiều hệ sinh thái khác nhau, gồm: (1) Rừng
mưa nhiệt đới; (2) Rừng mưa á nhiệt đới - ôn đới; (3) Rừng lá kim ôn đới ; (4) Rừng
khô nhiệt đới ; (5) Rừng lá rộng ôn đới ; (6) Thảm thực vật Địa Trung Hải ; (7) Sa
mạc và bán sa mạc ẩm ; (8) Đồng rêu và sa mạc; (9) Sa mạc, bán sa mạc lạnh ; (10)
Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; (11) Đồng cỏ ôn đới; (12) Thảm thực vật vùng núi;
(13) Thảm thực vật vùng đảo; (14) Thảm thực vật ao hồ.
1.1.2. Khái niệm phát triển bền vững
1.1.2.1. Khái niệm
Trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” với nội dung: “Sự phát triển
của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng
những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”,
thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1980 [16].
Khái niệm trên được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế, trong
báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) ghi rõ: “Phát triển
bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không
hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được
sống trong môi trường trong sạch.
Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát
triển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển
sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững [34].
1.1.2.3. Các nguyên tắc của phát triển bền vững
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “Hãy cứu lấy
Trái đất - chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, năm 1991 đã nêu ra 9 nguyên
tắc của một xã hội bền vững. Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng
trong thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế, văn hóa. Thực
15
15
tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát thực tế
hơn. Hệ thống 7 nguyên tắc mới do Luc Hens (1995) xây dựng về phát triển bền
vững bao gồm: (1) Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân; (2) Nguyên tắc phòng
ngừa; (3) Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ; (4) Nguyên tắc bình đẳng trong nội
bộ thế hệ; (5) Nguyên tắc phân quyền, ủy quyền; (6) Nguyên tắc người gây ô nhiễm
phải trả tiền; (7) Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (dẫn theo Nguyễn Đình
Hòe, 2009 [37]).
1.1.3. Khái niệm bảo tồn sinh học
1.1.3.1. Khái niệm
Bảo tồn sinh học là một nguyên lý khoa học được xây dựng để bảo vệ các
loài, thiết lập các khu bảo tồn mới và củng cố, nâng cấp các Vườn Quốc gia cũng
là để xác định những loài nào trên Trái đất được bảo tồn cho tương lai. Bảo tồn
sinh học là một khoa học đa ngành, tập hợp được rất nhiều người và nhiều tri
thức thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng
năm 2005), Luật Tài nguyên nước (2012), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi
năm 2004) và Luật Biển Việt Nam (2012).
- Nhận thức và cách tiếp cận trong phát triển bền vững và bảo tồn ĐDSH
Ở Việt Nam, Bộ chỉ tiêu PTBV cho Quốc gia đã được ban hành kèm theo Chiến
lược PTBV của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và cho địa phương. Ngoài ra, Bộ chỉ
tiêu giám sát đánh giá PTBV địa phương giai đoạn 2013-2020 [19] đã nhấn mạnh
tới thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo
hướng cacbon thấp, đồng thời giảm nhẹ tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu
(BĐKH), phòng chống thiên tai. Cụ thể, chỉ tiêu GDP xanh bắt đầu thực hiện từ
2015 với khía cạnh hạch toán những chi phí ô nhiễm và thiệt hại do thiên tai, trong
hệ thống tài khoản Quốc gia và các phương pháp tính toán GDP xanh thống nhất
cho toàn quốc đang trong quá trình áp dụng thử nghiệm [26]. Đối với cấp độ địa
phương, chỉ tiêu PTBV địa phương cũng đang được đề xuất áp dụng, đặc biệt là chỉ
tiêu số 26 về “Số vụ thiên tai và mức độ thiệt hại”, nhằm cung cấp thêm số liệu để
tính toán GDP xanh tại địa phương. Cách tiếp cận DPSIR cũng được áp dụng trong
xây dựng các chỉ số/chỉ tiêu PTBV và bảo tồn ĐDSH, đặc biệt trong xây dựng chỉ
số PTBV giai đoạn 2011-2020 và chỉ số giám sát đánh giá ĐDSH [17]. Ở Việt Nam,
Bộ chỉ thị ĐDSH đã được xây dựng và sử dụng, góp phần vào việc đánh giá và
giám sát ĐDSH [61].
Hiện nay, cách tiếp cận quản lý dựa trên HST đã được áp dụng trong công
tác quản lý bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam, thông qua áp dụng 12 nguyên tắc thực
hiện trong quản lý [72] và đã xây dựng được tài liệu hướng dẫn cho quản lý các
17
17
khu đất ngập nước tại Việt Nam, dựa trên nhiều nghiên cứu trước đó về tiếp cận
HST trong quản lý tài nguyên thiên nhiên [73]. Cách tiếp cận này đã được áp dụng
18
nhà nghiên cứu đã đưa ra những nguyên tắc phân loại và xây dựng hệ thống phân
loại khác nhau. Mặc dù vậy, các hệ thống phân loại thảm thực vật trên thế giới tuân
theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
* Nguyên tắc phân loại lấy thành phần thực vật làm yếu tố chủ đạo:
Người đặt nền móng cho nguyên tắc này là Ragmar, Hult (1881) và được
Schroter và Brockmann - Jerosch (1916) bổ sung hoàn thiện. Về sau được Braun Blanquet (1928) phát triển và đã xây dựng thành hệ thống phân loại thảm thực vật
với đơn vị cơ bản là quần hợp (Association) (dẫn theo Lê Ngọc Công, 2004 [29]).
* Nguyên tắc phân loại lấy đặc điểm ngoại mạo làm yếu tố chủ đạo:
Theo nguyên tắc này thì không căn cứ vào thành phần thực vật, mà chủ yếu căn
cứ vào cấu trúc ngoại mạo của quần xã thực vật để phân loại. Vì vậy, trong một đơn vị
phân loại thảm thực vật có thể có nhiều quần xã thực vật có thành phần thực vật rất xa
nhau về hệ thống sinh, nhưng lại có sự tương đồng về ngoại mạo. Đơn vị phân loại cơ
bản của các hệ thống phân loại theo nguyên tắc này là Quần hệ (Formation), tương ứng
với thuật ngữ Kiểu thảm thực vật, kiểu Quần lạc thực vật [86].
* Nguyên tắc phân loại dựa trên phân bố không gian làm yếu tố chủ đạo:
Điểm xuất phát của nguyên tắc phân loại này là mối quan hệ nhân quả giữa
thảm thực vật và không gian phân bố của chúng. Vì vậy, việc nghiên cứu từng đơn
vị của thảm thực vật và giải thích nguyên nhân phân bố của chúng phải được bắt
đầu từ các đơn vị cơ sở của thảm thực vật (các quần xã, quần hợp thực vật). Các nhà
nghiên cứu cho rằng có 3 nguyên nhân chính chi phối sự phân bố không gian của
thảm thực vật là: (1) Sự phân ly của giới thực vật do các nguyên nhân sinh học
mang tính di truyền có liên quan đến lịch sử Trái đất; (2) Phân bố không gian của
nơi sống và khác biệt giữa các khoảng không gian tiềm năng ở nơi sinh sống của
thảm thực vật do các nhân tố sinh học; (3) Tác động của con người, nhờ các tác
động này mà thảm thực vật địa phương thường mang những nét đặc biệt có liên
quan đến lịch sử của nền văn hóa con người [86].
Schimper đã chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần
hệ vùng núi. Trong quần hệ khí hậu tác giả còn phân biệt các kiểu rừng khác nhau
(rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai). Sau Schimper là hệ thống phân loại
của Rubel, Ilinxki, Burt - Davy, Aubreville...; Trong hệ thống của Aubreville, ông
đã căn cứ vào độ tàn che trên mặt đất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu
quần thể thưa thành rừng thưa và trảng, truông [93].
Ở vùng nhiệt đới gió mùa châu Á có hệ thống của Champion (1936) là hệ
thống nổi bật và tương đối hoàn chỉnh, đã phân chia được 4 đai thảm thực vật lớn
theo nhiệt độ: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao. Cách phân loại này hiện nay
vẫn được sử dụng phổ biến [86].
20
20
Ở vùng Nam Mỹ, Bear (1944) đề nghị một hệ thống phân loại cho những
quần thể thực vật ở vùng này gồm 3 cấp: quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ. Còn
Forber (1958) đưa ra hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đới
dựa trên hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thể là: lớp quần hệ, quần hệ và phân
quần hệ.
Tuy nhiên, nhược điểm của các hệ thống phân loại thảm thực vật nói trên là
không thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố sinh thái với thảm thực vật
hoặc là không làm nổi bật mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố sinh thái với nhau.
Năm 1973, UNESCO [109] đã công bố khung phân loại thảm thực vật trên
Trái đất dựa trên những tiêu chuẩn chung nhất để có thể so sánh được các kết quả
nghiên cứu ở các vùng khác nhau và có thể thể hiện được trên bản đồ có tỷ lệ
1:2.000.000 hay bé hơn. Bảng phân loại này không dựa vào một nguyên tắc hay hệ
thống đã có, mà nó kết hợp các nguyên tắc lại với nhau ở những mức độ khác nhau.
Tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung
của các thông tin về sinh thái, địa lý. Đây là bảng phân loại tuy còn mang tính chất
Thái Văn Trừng (1978) [93] đã dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần
thể thực vật để xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam. Theo đó, ông chia thảm
thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu: (1) Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm
nhiệt đới; (2) Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới; (3) Kiểu rừng kín rụng lá,
hơi ẩm nhiệt đới; (4) Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới; (5) Kiểu rừng thưa
cây lá rộng, hơi khô nhiệt đới; (6) Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới;
(7) Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp; (8) Kiểu trảng cây to,
cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới; (9) Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới; (10) Kiểu
rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp; (11) Kiểu rừng kín hỗn hợp
cây lá rộng lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp; (12) Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn
đới ấm núi vừa; (13) Kiểu quần hệ khô vùng cao; (14) Kiểu quần hệ lạnh vùng
cao. Trong mỗi kiểu thảm thực vật tác giả lại chia thành các kiểu phụ miền (phụ
thuộc vào tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất),
kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người) và trong mỗi kiểu phụ
đó tuỳ theo độ ưu thế của loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp và
quần hợp tự nhiên khác nhau.
c. Phân chia các hệ sinh thái rừng theo đai cao và điều kiện sinh thái
Trần Ngũ Phương (1970) xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam,
tác giả đã chú ý đến việc nghiên cứu quy luật diễn thế thứ sinh, diễn biến độ phì, các
tính chất vật lý, hóa học và dinh dưỡng đất qua các giai đoạn phát triển của rừng. Bảng
phân loại này gồm các đai rừng và kiểu rừng như sau: (1) Đai rừng nhiệt đới mưa mùa,
gồm: Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn, kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa
22
22
lá rộng thường xanh, kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, kiểu rừng nhiệt đới
lá rộng thung lũng, kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi; (2) Đai rừng á
nhiệt đới mưa mùa, gồm: Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh, kiểu rừng á nhiệt
23
kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới; (3) Rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi; (4)
Rừng lá kim tự nhiên; (5) Rừng thưa cây họ dầu; (6) Rừng ngập mặn; (7) Rừng
tràm; (8) Rừng tre nứa.
Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp có
cơ sở khoa học, được nghiên cứu sâu, phương pháp tiếp cận cũng không quá phức
tạp. Các hệ sinh thái này lại được phân cấp thành các kiểu phụ đủ chi tiết và dễ áp
dụng cho mục tiêu phân vùng sinh thái lâm nghiệp, làm cơ sở xây dựng đường phát
thải tham khảo và hệ thống giám sát, đánh giá khả năng hấp thụ carbon của các kiểu
rừng cơ bản ở Việt Nam.
* Nhận xét:
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về thảm thực vật rất phong phú,
kể cả về số lượng công trình cũng như nguyên tắc và phương thức phân loại
thảm thực vật.
Ở nước ta, cũng có khá nhiều bảng phân loại thảm thực vật với những
nguyên tắc và phương pháp phân loại khác nhau. Mỗi hệ thống phân loại đều có
những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Cho đến nay ở Việt Nam, bảng phân chia
thảm thực vật của Loschau (1960) và của Thái Văn Trừng (1978) được sử dụng khá
phổ biến, với những ưu nhược điểm của mỗi hệ thống phân loại. Nếu như hệ thống
phân loại của Loschau (1960) chỉ nhằm mục đích phục vụ việc phân loại rừng theo
hiện trạng trữ lượng gỗ để kinh doanh rừng, khai thác gỗ, mà không dựa vào cơ sở
sinh thái, phát sinh, phát triển, hoặc cấu trúc tổ thành của các thảm thực vật, thì hệ
thống phân loại của Thái Văn Trừng (1978) lại căn cứ vào quan điểm sinh thái phát
sinh quần thể thực vật. Tác giả đã sắp xếp các kiểu thảm thực vật hiện có ở Việt
Nam vào một khung hợp lý, có trật tự trước sau giữa các nhân tố sinh thái, đồng
thời theo trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu kém nhất. Đây là công trình tổng
quát, đáp ứng được quy hoạch sinh thái. Tuy nhiên, hệ thống phân loại này cũng có
nhược điểm là rất khó áp dụng cho những vùng lãnh thổ có diện tích không lớn
Longchun và cộng sự (1993) nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái sau
nương rãy tại Xishuang Bana, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã ghi nhận: nương rãy
bỏ hóa 3 năm có 21 loài thực vật thuộc 21 chi, 17 họ; bỏ hóa 19 năm thì có 167 loài,
thuộc 134 chi, 60 họ (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000 [2]).
Trong những năm gần đây, một số nước lân cận với Việt Nam đã công bố
những công trình tiêu biểu của nước mình như: Thực vật chí Malaysia (1948-1972),
Thực vật chí Thái Lan (1970-2012), Thực vật chí Đài Loan (1993-2000), Thực vật
chí Trung Quốc (1994-2003), Thực vật chí Hồng Kông (2000-2009)...(dẫn theo
Đặng Quốc Vũ, 2016 [100]).
Ở khu vực ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia), ngoài bộ
25
25