(Luận văn thạc sĩ) Quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ QUANG HUY

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI
DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Trần Đình Hảo

Hà Nội, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu thể hiện trong
luận văn Thạc sĩ Luật học: “Quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác cùng lĩnh vực nghiên cứu. Các thông tin, số liệu trình bày
trong luận văn được chú thích rõ ràng. Luận văn là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy PGS. TS. Trần Đình Hảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
Tác giả luận văn

Ngô Quang Huy


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

DN

:

Doanh nghiệp;

DNNN

:

Doanh nghiệp Nhà nước;

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa;

NSNN

:

Ngân sách Nhà nước;

UBND

:


CNH, HĐH :

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có vai trò quan trọng trong việc xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta.
Trên thực tế, các DNNN nắm giữ lượng vốn lớn, có giá trị tổng tài sản cao,
đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước (NSNN). Khối tài sản nằm
trong các DNNN, doanh nghiệp có vốn nhà nước được ước tính lên tới gần
400 tỷ USD. Hiện nay, việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại các doanh
nghiệp rất phân tán và do nhiều đầu mối đảm nhận, bao gồm Chính phủ, các
Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh
vốn nhà nước (SCIC). Tình trạng các Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
thực hiện đồng thời cả ba chức năng: quản lý nhà nước về kinh tế, chủ quản
cấp trên đối với doanh nghiệp và đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh
nghiệp vẫn còn phổ biến. Cơ chế quan lý này đã và đang làm suy giảm hiệu
quả sử dụng vốn tại các DNNN. Mới đây, Chính phủ mới thành lập cơ quan
chuyên trách là Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đây là cơ
quan thuộc Chính phủ, có vai trò đại diện chủ chủ sở hữu nhà nước đối với
doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước
đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
theo quy định của pháp luật. Uỷ ban này mới đi vào hoạt động từ tháng
9/2018, đến nay vẫn chưa có sự tổng kết đánh giá về kết quả hoạt động.
Nghiên cứu thực tiễn cho thấy, công tác quản lý và sử dụng vốn Nhà
nước tại doanh nghiệp ở nước ta thời gian qua còn nhiều hạn chế, bất cập. Cụ
thể như sau:
Thứ nhất, vi phạm nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong kinh doanh. Hầu

phạm điều lệ doanh nghiệp, quy chế làm việc của Hội đồng quản trị, Ban
giám đốc.
Thứ tư, tình trạng vi phạm nguyên tắc quản lý tài chính tiếp tục tồn tại.
Nhiều DNNN qua thanh tra, kiểm toán có sai sót trong việc hạch toán tài sản,
nguồn vốn, doanh thu, chi phí nên qua kiểm toán phải điều chỉnh tăng, giảm

2


tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí và nghĩa vụ với NSNN. Công tác quản
lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại còn chưa chặt chẽ dẫn đến nợ phải thu
quá hạn, khó đòi lớn, nợ tạm ứng tồn đọng nhiều năm với số tiền lớn chưa
được thu hồi, nợ nội bộ lớn, kéo dài nhưng chưa được giải quyết dứt điểm.
Thực tiễn trên là lý do học viện lựa chọn nội dung “Quản lý và sử
dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để
nghiên cứu. Qua đó, đề xuất một số giải pháp để tiếp tục nâng cao hiệu quả
quản lý và sử dụng vốn nhà nước ở nước ta trong bối cảnh mở cửa thị trường,
tích cực, chủ động hội nhập quốc tế hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại DN là vấn đề thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là trong bối cảnh
nước ta mở cửa, tăng cường hội nhập, xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Về sách chuyên khảo: Tác giả Ngô Quang Minh (Chủ biên)
(2001), inh t nhà nướ

à

t nh


3


- Luận án tiến sĩ: “Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau c phần
hóa doanh nghiệ nhà nước”, tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, năm 2009. Kết
quả nghiên cứu của luận án đã khái hoát được một số vấn đề lý luận về quản
lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa DNNN; đánh giá được
thực trạng quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa DNNN
những năm đầu mở cửa, hội nhập kinh tế ở nước ta. Từ đó, luận án đề xuất
một số giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả vốn nhà nước tại các doanh
nghiệp sau cổ phần hóa DNNN.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2009 - “Chính s h à ơ h
quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệ

iai

ạn

n 2020” do

PGS.TS.Nguyễn Đăng Nam làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã đánh giá khái
quát chính sách và cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp giai
đoạn đến 2020 ở nước ta. Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích và phạm vi nghiên
cứu, đề tài chỉ đề cập chuyên sâu về chính sách quản lý vốn nhà nước tại
doanh nghiệp trên góc độ quản lý nhà nước mà chưa nghiên cứu trên góc độ
quản lý của chủ sở hữu. Đồng thời, các quy định pháp luật hiện hành về quản
lý và sử dụng vốn nhà nước tại DN chưa được đánh giá và phân tích cụ thể.
Tác giả Nguyễn Thị Mỵ (2012), Q ản lý ốn nhà nướ trong các doanh
n hiệ nhà nướ trên ịa bàn thành hố Hải Phòng, Luận án Tiến sĩ Kinh tế,
Hà Nội.

thực, hiệu quả sử dụng vốn quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, do đó,
bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến vốn và hiệu quả sử dụng
vốn… tác giả đã phân tích, làm rõ các yếu tố ảnh đến hiệu quả sử dụng vốn
tại doanh nghiệp như: cơ cấu vốn, chi phí vốn, thị trường của doanh nghiệp,
nguồn vốn, rủi ro kinh doanh, nhân tố con người, chính sách của Đảng và Nhà
nước….
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương với chuyên đề nghiên
cứu: “Nâng cao hiệu quả i

s t ầ tư ốn nhà nước vào sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệ nhà nước tại Việt Nam”. Chuyên đề làm rõ thực
trạng giám sát vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, từ đó, đề xuất quy trình
giám sát vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
ThS. Chu Quốc Tế với bài viết: “Đ nh i hiệ
nướ tại

ả sử ụn

ốn nhà

anh n hiệ ”. Bài viết đã đánh giá thực trạng sử dụng vốn và

hoạt động của DNNN, tìm ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân. Từ đó,
đề xuất cơ chế chính sách giúp cơ quan quản lý nhà nước các cấp kịp thời
phát hiện các yếu kém trong quá trình hoạt động kinh doanh của DNNN để có
biện pháp chấn chỉnh kịp thời.
Tóm lại, các nghiên cứu về vốn nhà nước và quản lý vốn nhà nước tại
DN đã được nghiên cứu khá nhiều trong thời gian qua. Tuy nhiên, các nghiên
cứu điển hình nêu trên mới chỉ tiếp cận dưới góc độ kinh tế về quản lý vốn,

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan
tới lý luận về quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật về
quản lý vốn góp của nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp ở Việt Nam, thực
trạng pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp
ở Việt Nam hiện nay và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng
cao hiệu quả về quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp ở
Việt Nam. Khái niệm doanh nghiệp được luận văn tiếp cận là doanh nghiệp
nhà nước.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng những quan điểm, phương pháp luận của triết học,
của lý luận chung về nhà nước và pháp luật, để làm cơ sở cho việc xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh

6


nghiệp hiện nay, luận văn thực hiện đa dạng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp lý luận và thực tiễn, phương pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, quy nạp, thống kê. Các phương pháp
này được học viên sử dụng linh hoạt trong quá trình nghiên cứu luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, thể hiện ở các khía cạnh sau
đây:
Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ
thống, chuyên sâu về vấn đề quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh
nghiệp.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần cung cấp những thông tin có giá trị
tham khảo hữu ích cho các cơ sở nghiên cứu; các cơ quan xây dựng và thi
hành pháp luật, các trường đại học, học viện…về vấn đề quản lý và sử dụng
vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay; nêu rõ

doanh nghiệp và vốn do doanh nghiệp đó huy động. Đối với các doanh nghiệp
không phải là DNNN thì phần vốn doanh nghiệp huy động có thể là vốn của
tư nhân hoặc vốn của nhà nước. Đối với các DNNN, để thực hiện hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình cần phải có vốn, vốn này bao gồm vốn chủ sở
hữu của DNNN và vốn do DNNN đó huy động.
Theo quy định hiền hành, khái niệm về vốn nhà nước được thể hiện trong
nhiều văn bản khác nhau. Tại Điều 4 giải thích từ ngữ Luật Đấu thầu năm
2013 quy định: “Vốn Nhà nướ bao ồ
ố gia, trái hi

Chính hủ trái hi

t ợ phát t iển chính thứ
triển h ạt
tín ụn

ốn vay ư

chính

yền ịa hươn ; ốn hỗ

ãi ủa các nhà tài t ợ; ốn từ

n s n hiệ ; ốn tín ụn
Chính hủ bả

ốn ngân sách Nhà nướ ; công trái

ầ tư h t t iển ủa Nhà nướ ; ốn

y t ịnh ể bả



th

Nhà nướ ”.

8

hiện các hứ năn

nhiệ

ụ ủa


Khoản 8 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất
kinh doanh tại doanh nghiệp ghi rõ: “Vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm
vốn từ n ân s h nhà nước, vốn ti p nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước; vốn từ quỹ ầ tư h t t iển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp x p
doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụn
triển của Nhà nước và vốn kh

ượ Nhà nướ

ầ tư h t

ầ tư tại doanh nghiệ ”.



ản ý à sử ụn

ốn nhà nướ tại

anh n hiệ

Theo nghĩa chung nhất, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại DN, chủ
yếu là DNNN là việc đưa vốn nhà nước vào sản xuất, kinh doanh nhằm bảo
đảm hiệu quả, bảo toàn và gia tăng giá trị vốn nhà nước đầu tư vào doanh

9


nghiệp; phòng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn Nhà nước tại doanh
nghiệp. Trên thực tế, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại DN được thực hiện
theo hai hình thức: quản lý và sử dụng vốn trong phạm vi DNNN và quản lý
và sử dụng vốn đầu tư ra ngoài phạm vi DNNN.
Mục đích quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp là để hình
thành và duy trì doanh nghiệp ở những khâu, công đoạn then chốt trong một
số ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc thuộc
diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp; bảo
đảm nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà
nước. Cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước không can
thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt
động quản lý, điều hành của người quản lý doanh nghiệp.
1.2. Nội dung quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Căn cứ vào khái niệm quản lý và sử dụng vốn Nhà nước tại DN đã nêu ở
trên, nội dung quản lý và sử dụng vốn Nhà nước tại DN được thể hiện ở hai
khía cạnh:

xác định chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứ đọng, mất phẩm chất,
nguyên nhân và xử lý trách nhiệm; đồng thời để có căn cứ lập báo cáo tài
chính của DN. DN phải mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải
thu trong và ngoài DN. Định kỳ (tháng, qúy) DN phải đối chiếu, tổng hợp,
phân tích tình hình công nợ phải thu; đặc biệt là các khoản nợ đến hạn, quá
hạn và các khoản nợ khó đòi. Các khoản nợ không thu hồi được, cần xác định
rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý.
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh của mình, các DNNN được quyền
cho thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình, để
nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhưng phải theo dõi, thu hồi tài sản
khi hết hạn cho thuê. Đối với tài sản cho thuê hoạt động, DN vẫn phải trích
khấu hao theo chế độ quy định. DN được đem tài sản thuộc quyền quản lý và
sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức
tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. DN không được

11


đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi mượn, đi thuê, nhận giữ hộ,
nhận cầm cố, nhận thế chấp ... của DN khác nếu không được sự đồng ý của
chủ sở hữu tài sản đó.
Ngoài ra, DNNN được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu
về kỹ thuật để thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu qủa hơn.
Chênh lệch giữa số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán tài sản với giá trị
còn lại trên sổ kế toán và chi phí nhượng bán, thanh lý (nếu có) được hạch
toán vào kết quả kinh doanh của DN. Mọi tổn thất tài sản của DN phải lập
biên bản xác định mức độ, nguyên nhân và trách nhiệm đưa ra biện pháp xử
lý. DN được đánh giá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn khoản chênh lệch
do đánh giá lại tài sản trong các trường hợp sau: Kiểm kê đánh giá lại tài sản
theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện cổ phần

(trước thuế hoặc sau thuế) để bù lỗ các năm trước, được hạch toán một số
thiệt hại (thiên tai, dịch bệnh ...) vào chi phí hoặc kết qủa kinh doanh theo qui
định của Nhà nước.
1.3. Pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp là hệ
thống các văn bản pháp lý điều chỉnh việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước
cũng như chế tài xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động quản lý và sử dụng
vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Ở nước ta, trong những năm qua, hành lang pháp lý về quản lý và sử
dụng nguồn vốn nhà nước tại DN đã cơ bản được hình thành, khắc phục được
một số tồn tại, bất cập trong công tác quản lý, điều hành, sử dụng vốn, tài sản
của DNNN đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Hiện nay, các quy định về quản
lý và sử dụng vốn nhà nước tại DN chủ yếu được điều chỉnh bởi Luật Quản
lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp
năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đầu tư
công năm 2014, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Kế toán năm 2015,
Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí năm 2013 và các văn bản hướng dẫn

13


thi hành…. Qua đó, mục tiêu của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà
nước tại doanh nghiệp là xây dựng DNNN trở thành lực lượng nòng cốt của
kinh tế nhà nước, là lực lượng vật chất quan trọng, là công cụ hỗ trợ để Nhà
nước điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức và
hoạt động của DNNN phải tuân theo những quy luật khách quan của kinh tế
thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước và chịu sự chi phối, giám sát
toàn diện của chủ sở hữu là Nhà nước.
Bên cạnh đó, pháp luật về quản lý và sử dụng vốn Nhà nước tại DN

được nhiều chi phí sản xuất, từ đó hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh
trên thị trường. Nhưng ngược lại, những DNNN có trình độ kỹ thuật thấp, sử
dụng máy móc lạc hậu sẽ làm giảm doanh thu, ảnh hưởng đến tài chính của
doanh nghiệp.
Thứ ba, trình độ đội ngũ cán bộ lao động sản xuất: gồm trình độ quản lý
của đội ngũ lãnh đạo và trình độ tay nghề của người lao động. Nếu người lãnh
đạo có trình độ quản lý tốt thì sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp,
giảm chi phí và tăng hiệu suất lao động; Người lao động lành nghề, có kỹ
năng sử dụng máy móc hiệu quả thì sẽ làm tăng năng suất lao động, tăng
nguồn lợi cho doanh nghiệp.
Thứ tư, chiến lược phát triển, đầu tư của doanh nghiệp: bất cứ một
DNNN nào khi kinh doanh đều đặt ra cho mình kế hoạch để phát triển thông
qua các chiến lược. Để tình hình tài chính của DNNN được phát triển ổn định,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì các chiến lược kinh doanh phải đúng
hướng, phải cân nhắc thiệt hơn vì các chiến lược này có thể làm biến động lớn
lượng vốn của DNNN.
Thứ nă , cơ chế quản lý tài sản lưu động trong DNNN.
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển
trong quá trình kinh doanh. Dựa vào việc nghiên cứu chu kì vận động của tiền
mặt, có thể chia tài sản lưu động thành tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản
cao, phải thu và dự trữ tồn kho...Việc quản lý tài sản lưu động có ảnh hưởng

15


rất quan trọng đối với hiệu quả sử dụng vốn của DNNN. Hiện nay có hai cách
quản lý tài sản vốn lưu động là quản lý dự trữ tồn kho và quản lý tiền mặt và
các chứng khoán thanh khoản cao.
Tiền mặt là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở
ngân hàng. Tiền mặt là tài sản không sinh lãi. Vì vậy, cần phải quản lý sao cho

giá thành sản phẩm. Khi sản phẩm được tiêu thụ, bộ phận tiền này được trích
lại thành một quỹ nhằm để tái sản xuất tài sản cố định. Công việc này gọi là
khấu hao tài sản cố định. Trong trường hợp này, nhà sản xuất cần tính toán
mức khâu hao cho phù hợp, tương thích với điều kiện của doanh nghiệp.
- Quản lý cho thuê, thế chấp, nhượng bán thanh lý tài sản.
+ Cho thuê thế chấp tài sản: “DNNN được quyền cho các tổ chức, cá
nhân trong nước thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng
của mình. Đối với tài sản cho thuê hoạt động, DNNN phải tính khấu hao theo
chế độ quy định.
+ Nhượng bán, thanh lý tài sản:
DNNN được nhượng bán các tài sản không dùng nữa do lạc hậu về kĩ
thuật, để thu hồi vốn cho mục đích kinh doanh có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó,
DN được quyền thanh lý những tài sản kém phẩm chất hư hỏng, không có khả
năng phục hồi, tài sản lạc hậu kỹ thuật, không có nhu cầu sử dụng, hoặc sử
dụng không có hiệu quả, không thể nhượng bán nguyên dạng được.
- Xử lý tổn thất tài sản: Tài sản tổn thất do nguyên nhân chủ quan của tập
thể cá nhân thì người gây tổn thất phải bồi thường theo quy định của pháp
luật; mức độ bồi thường do doanh nghiệp quy định. Tài sản đã mua bảo hiểm
nếu tổn thất thì các tổ chức bảo hiểm bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm...
1.4.2. Nhân tố khách quan
- Thị trường: Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động
kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại DN. Trong đó, thị trường vốn
quyết định tới việc huy động vốn của DNNN còn thị trường hàng hóa quyết
định tới việc sử dụng vốn. Thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến
doanh thu và lợi nhuận của DNNN. Nếu các thị trường này phát triển ổn định

17


sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy DNNN tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần.

18


DNNN phải vận chuyển nguyên vật liệu về kho sẽ làm tăng chi phí sản xuất
làm giảm lợi nhuận của DNNN...
Các DNNN trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đặt ra nhiều mục
tiêu và tuỳ thuộc vào giai đoạn hay điều kiện cụ thể mà có những mục tiêu
được ưu tiên thực hiện, nhưng tất cả đều nhằm mục đích cuối cùng là tối đa
hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, đạt được mục tiêu đó doanh nghiệp mới có
thể tồn tại và phát triển được.
Một DNNN muốn thực hiện tốt mục tiêu của mình thì phải hoạt động
kinh doanh có hiệu quả. Trong khi đó yếu tố tác động có tính quyết định đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là hiệu quả sử dụng vốn của DNNN. Do
vậy doanh nghiệp cần phải có những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, đặc biệt trong điều kiện hiện nay.
Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, DNNN coi nguồn vốn
cấp phát từ ngân sách nhà nước đồng nghĩa với “cho không”, nên khi sử dụng
nhiều doanh nghiệp không cần quan tâm đến hiệu quả, kinh doanh thua lỗ đã có
Nhà nước bù đắp. Điều đó gây ra tình trạng vô chủ trong quản trị và sử dụng vốn
dẫn đến lãng phí vốn và hiệu quả kinh doanh thấp. Theo số liệu thống kê cho
thấy việc sử dụng tài sản cố định chỉ đạt 50%- 60% công suất thiết kế, phổ biến
chỉ hoạt động 1 ca trên ngày, vì vậy hệ số sinh lời của đồng vốn thấp.
Khi nước ta chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp buộc phải chuyển
mình theo cơ chế mới, mới có thể tồn tại và phát triển. Cạnh tranh giữa các
DNNN với các thành phần kinh tế khác trở lên gay gắt. Bởi vậy, tăng cường
quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có vị trí quan trọng hàng dầu của
doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho
DNNN. Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi DNNN phải luôn đề

Ở Trung Quốc: Chính phủ Trung Quốc xây dựng mô hình quản lý tài sản
nhà nước tập trung thông qua việc thiết lập hệ thống Ủy ban Quản lý và Giám
sát tài sản nhà nước (SASAC) ở cả cấp Trung ương và các địa phương.

20


SASAC được thành lập tháng 3/2003 với tư cách là cơ quan cấp bộ
đặc biệt thuộc Chính phủ Trung Quốc. Nhiệm vụ chính của SASAC vừa là
đại diện chủ sở hữu của các DNNN, hoặc cổ đông nhà nước của các
doanh nghiệp có vốn nhà nước, vừa giám sát để giải quyết các vấn đề
trong hoạt động hàng ngày tại các DNNN, tập đoàn kinh tế nhà nước trên
3 lĩnh vực: giám sát về nhân sự chủ chốt, giám sát các vấn đề trọng yếu
của doanh nghiệp và giám sát tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Hiện tại,
SASAC có khoảng 600 cán bộ theo dõi 146 tập đoàn kinh tế và các tổng
công ty. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của SASAC đã bộc lộ nhiều điểm
hạn chế. Do là một cơ quan hành chính thực hiện việc quản lý doanh
nghiệp, mô hình vận hành của SASAC không tuân theo cơ chế thị trường
nên đã dẫn đến không ít những hạn chế về hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
SASAC không có báo cáo tài chính riêng và không công khai, minh bạch
thông tin hoạt động như mô hình các doanh nghiệp nên không có tiêu chí
để đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức này. SASAC thiếu tự chủ
trong lựa chọn người lãnh đạo đứng đầu các DNNN và chế độ đãi ngộ dẫn
đến hạn chế trong bộ máy nhân sự quản lý.
Trong mô hình hoạt động của SASAC tồn tại mối quan hệ cộng sinh
giữa SASAC với các DNNN và tập đoàn kinh tế lớn. SASAC có xu hướng
bảo hộ cho cho các DNNN duy trì sức mạnh độc quyền và ngày càng mở rộng
hơn để gia tăng tầm ảnh hưởng của mình. Với sự tồn tại của SASAC, các
DNNN độc quyền chậm thay đổi khi mà họ vẫn tiếp tục được hưởng ưu đãi từ
những nguồn lực có lợi cho mình và như vậy, các DNNN và các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status