Phân tích các yếu tố tác động lên tăng trưởng kinh tế 63 tỉnh thành tại việt nam - Pdf 60

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

CAO THỊ THU TRANG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG LÊN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 63 TỈNH THÀNH
TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

CAO THỊ THU TRANG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG LÊN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 63 TỈNH THÀNH
TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính công (Hướng nghiên cứu)
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ HUYỀN



1.3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3

1.3.1.

Đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 3

1.3.2.

Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 3

1.4.

Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................ 3

1.5.

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3

1.6.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn .................................................. 3

1.6.1.

Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 3

1.6.2.

3.2.2. Mô hình kinh tế lượng không gian ........................................................... 31
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 37
4.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 1986 – 2016 ................................ 37
4.2. Tình hình của các yếu tố tác động tăng trưởng kinh tế hiện nay .................... 41


4.2.1. Tình hình sử dụng vốn.............................................................................. 41
4.2.2. Thực trạng lực lượng lao động ................................................................. 43
4.2.3. Thực trạng thể chế .................................................................................... 44
4.2.4. Nhận xét chung về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ............................. 45
4.3. Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu ...................................... 45
4.4. Sự tự tương quan không gian giữa các địa phương ........................................ 46
4.5. Lựa chọn ma trận và mô hình không gian ...................................................... 47
4.5.1. Kết quả tác động trực tiếp ........................................................................ 50
4.5.2. Kết quả tác động gián tiếp ........................................................................ 50
4.5.3. Kết quả tổng tác động ............................................................................... 51
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................ 53
5.1. Kết luận ........................................................................................................... 53
5.2. Kiến nghị......................................................................................................... 54
5.3. Hạn chế của đề tài nghiên cứu ........................................................................ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Đặc điểm kinh tế của từng thời kì ............................................................ 38
Bảng 4.2: Kết quả thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu. .............. 45
Bảng 4.3: Kiểm định Global Moran’s I của Tăng trưởng kinh tế ............................. 47
Bảng 4.4: Kết quả AIC của các ma trận không gian ................................................. 47
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Hausman và hệ số độ trễ không gian Rho ................. 48



ABSTRACT
The international and regional economic integration is increasingly expanding
with Vietnam, along with a series of opportunities and challenges. Efficient use of all
resources, anticipating opportunities as well as preventing and overcoming difficulties
to boost and develop Vietnam's economy is more important than ever. The study aims
to analyze the factors affecting the economic growth of 63 provinces and cities in
Vietnam. Simultaneously analyze spatial impact between factors. The study used
secondary databases from 2010 to 2016. Next, the study conducted running regression
models including POOL OLS, FEM and REM, SAR, SEM and SDM. The research
results indicate that population size, labor quality, political institutions and FDI have
significant impacts on local economic growth. The results also indicate that population
size and infrastructure in the surrounding localities have an impact on economic
growth in a particular province. The impact of urbanization and infrastructure on
regional economic growth is more local than that in a province. At the same time, the
study also identifies the political institutions that have a positive impact on local
economic growth. Based on the study, it can also be concluded that in order to promote
sustainable economic growth, the government needs to ensure that the provision of
public services is fair, efficient, and enhances the responsibilities of public service
executors. Besides, it ensures the implementation of social security in parallel with
economic development.
Keywords:

development,

institutions,

space


2

thế giới và khu vực lại ngày càng mở rộng thêm đối với Việt Nam, đi kèm theo đó
là hàng loạt cơ hội và thách thức. Tổng cục thống kê đã công bố vào cuối tháng 6
số liệu tăng trưởng trong nửa đầu năm 2019 của Việt Nam. Theo đó, tăng trưởng
GDP quý II ước đạt 6,71%. Với kết quả này, cộng thêm việc sau khi tính toán lại,
GDP quý I tăng trưởng 6,82%, chứ không phải chỉ là 6,79% như con số ước tính
trước đó, thì tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm ước đạt 6,76%.
Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) dự báo Việt Nam là nền kinh tế tăng
trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á năm 2019. Theo đó, tăng tăng trưởng của
Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2019 vào khoảng 6,8% dù nền nông nghiệp nước
này chịu ảnh hưởng nặng nề do hạn hán và dịch tả lợn châu Phi.Việt Nam vẫn ưu
tiên, tập trung duy trì đà tăng trưởng công nghiệp mạnh mẽ, phát triển sản xuất, dù
có nhiều ngành có dấu hiệu chững lại từ nửa cuối 2018. Theo đánh giá của ADB:
Yếu tố quan trọng giúp duy trì đà tăng trưởng của Việt Nam chính là lực hút FDI,
các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng 27% trong suốt 5 tháng đầu
năm 2019. Việc tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước, đón đầu cơ
hội cũng như phòng ngừa, hạn chế, khắc phục khó khăn để đẩy mạnh, phát triển
nền kinh tế nước ta là quan trọng hơn bao giờ hết. Do đó, tác giả đã quyết định
chọn đề tài “Phân tích các yếu tố tác động lên tăng trưởng kinh tế 63 tỉnh
thành tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố
ảnh hưởng, thứ tự mức độ ảnh hưởng cũng như gợi ý các giải pháp nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế trong thời kì đất nước hội nhập.
1.2.

Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện nhằm mục đích:
Phân tích các yếu tố tác động lên tăng trưởng kinh tế tại các địa phương tại

Việt Nam.

tìm ra mối quan hệ không gian trong tăng trưởng kinh tế và các yếu tố trong bài.
Tiếp đến, nghiên cứu tiến hành chạy các mô hình hồi quy bao gồm POOL OLS,
FEM và REM, SAR, SEM và SDM. Từ cơ sở các mô hình kể trên, nghiên cứu tiến
hành tổng hợp, đánh giá kết quả từ các kết quả từ các mô hình trên.
1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
1.6.1. Ý nghĩa khoa học
Góp phần làm rõ và hệ thống những lý luận về thể chế, sự phát triển kinh tế


4

và mối liên hệ giữa các yếu tố lên sự phát triển của kinh tế của các địa phương tại
Việt Nam. Thông qua việc hệ thống, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ cho ra góc nhìn và
sự hiểu biết một cách toàn diện về yếu tố thể chế, các yếu tố tác động lên phát triển
kinh tế.
Đóng góp tính mới trong việc tìm ra các yếu tố giúp tăng trưởng kinh tế các
địa phương và mối quan hệ không gian giữa các yếu tố đó.
1.6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua chạy mô hình hồi quy, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ chỉ ra được
tình hình thực tiễn trong mối quan hệ giữa thế chể và phát triển kinh tế tại các địa
phương ở Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ cho ra được mối liên
hệ không gian giữa quy mô dân số, cơ sở hạ tầng, trình độ giáo dục và chi phí nhân
công và sự phát triển kinh tế. Thông qua kết quả trên, nghiên cứu cũng gợi ý các
giải pháp, khuyến nghị nhằm giúp phát triển kinh tế cho chính địa phương của
mình cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền.
1.7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung
của luận văn được kết cấu thành 5 chương, cụ thể:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây:


Về phương diện tiêu dùng, được biểu hiện ở toàn bộ sản phẩm và dịch vụ
cuối cùng tính theo giá hiện hành của thị trường được tạo ra trên phạm vi
lãnh thổ hàng năm

-

Về phương diện tiêu dùng, tổng sản phẩm trong nước là toàn bộ giá trị mà
hộ gia đình, doanh nghiệp và tổ chức nhà nước thu được do giá trị gia tăng
đem lại


6

Tổng sản phẩm trong nước chủ yếu phản ánh khả năng sản xuất của một nền
kinh tế.
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Tổng sản phẩm quốc dân là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo
ta bởi công dân trong một nước trong năm, không phân biệt sản xuất được thực hiện
trong hay ngoài nước. Là thước đo sản lượng gia tăng mà người dân của một nước
thực sự thu nhập được.
GNP = GDP + Thu nhập ròng từ nước ngoài
Thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập bình quân đầu người là thương số giữa toàn bộ sản phẩm và dịch
vụ cuối cùng mà tất cả công dân một nước tạo ra trong năm với tổng số dân.
Thu nhập bình quân đầu người tỷ lệ thuận với quy mô sản lượng và tốc độ
tăng trưởng và tỷ lệ nghịch với dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế tự nhiên hằng
năm. Vì vậy, mặc dù thu nhập bình quân đầu người phản ánh sự tăng trưởng và phát
triển, nó vẫn chưa nói lên bản chất mà tăng trưởng kinh tế mang lại.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế

dân mà họ phục vụ” Jreisat (2002). Các khía cạnh này bao gồm các tổ chức của hệ
thống xã hội, kinh tế và chính trị, phân bổ các nguồn lực công cho các thành viên
của xã hội, việc thu hồi và thực thi quyền lực chính trị, tất cả đều quan trọng đối với
phát triển kinh tế - xã hội của một xã hội bất kỳ.
Như đã thảo luận bởi Keefer (2004), thuật ngữ thể chế công “rất đàn hồi và
đa chiều”. Tuy nhiên, Keefer (2004) cũng chỉ ra rằng hầu hết các định nghĩa đều liên
quan đến “mức độ mà các chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các
dịch vụ cốt lõi nhất định, chẳng hạn như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung
của pháp luật và mức độ mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một
động lực để đáp ứng tốt cho công dân”.
Vì bản chất đa chiều của thể chế công, một số định nghĩa đã xuất hiện trong
các tài liệu. Ngân hàng Thế giới định nghĩa thể chế công là “thực thi quyền lực
chính trị để điều hành hoạt động của một quốc gia”. Ngân hàng Phát triển châu Phi
(1999) mở rộng định nghĩa của Ngân hàng Thế giới để thích ứng với nền kinh tế


8

toàn cầu thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa. ADB định nghĩa thể chế công là “một
quá trình đề cập đến cách thức mà quyền lực được thực thi trong việc quản lý vấn đề
công của một quốc gia và mối quan hệ với các quốc gia khác”.
Điều quan trọng cần lưu ý là các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và ADB
dường như chú trọng nhiều hơn về hiệu quả của chính phủ trong việc cung cấp dịch
vụ cho các thành viên trong xã hội của họ. Tuy nhiên, như được thảo luận bởi
Keefer (2004), khái niệm rộng hơn về thể chế công nên bao gồm các cơ chế khuyến
khích chi phối các hành động của các tác nhân chính trị. Đây là vấn đề của hệ thống
chính trị và kinh tế.
Những nghiên cứu trước đây về phát triển kinh tế ngầm giả định rằng các
chính trị gia sẽ đưa ra quyết định tối đa hóa phúc lợi xã hội. Dethier (1999) đã đưa ra
quan điểm rằng “chính phủ không phải là nhà độc tài nhân từ mà là những người tìm

Chỉ số PAPI
Chỉ số PAPI là công cụ phản ánh tiếng nói người dân về mức độ hiệu quả
điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của
chính quyền các cấp. Chỉ số PAPI bao gồm 6 chỉ số lĩnh vực nội dung, 22 chỉ số nội
dung thành phần và hơn 90 chỉ tiêu thành phần về hiệu quả quản trị và hành chính
công của toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước.
Quy mô dân số
Dân số là một nguồn lực lượng sản xuất chính, là yếu tố khác tạo đầu ra cho
nền kinh tế, vì lao động cần thiết để làm việc với nguồn vốn đã có sẵn và không thể
thiếu được trong các hoạt đông kinh tế và lao động còn là một bộ phận của dân số, là
người được hưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển. Mọi quốc gia điều nhấn mạnh
đến mục tiêu “phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển”. Vì
vậy, dân số có vai trò là động lực của sự phát triển, là động lực quan trọng trong


10

tăng trưởng kinh tế. Vốn và lao động sẽ làm việc với nhau để tạo ra một mức POP
bình quân đầu người, được gọi là trạng thái ổn định.
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng có được từ sự tích lũy từ giai đoạn trước đó, huy động từ nhiều
nguồn khác nhau từ trong và ngoài nước, từ các tổ chức nhà nước hay tư nhân. Cơ
sở hạ tầng sẽ dùng vào việc đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất như máy móc thiết bị,
vật chất, chuyển giao công nghệ để tạo ra sản phẩm có giá trị cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, vốn vật chất, máy móc thiết bị, còn được tạo ra bằng cách tiết
kiệm và đầu tư. Các hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ tiết kiệm thu nhập
của họ từ vay mượn của người khác để đầu tư. Khi đầu tư tăng lên thì nhu cầu mua
sắm thiết bị cũng tăng. Khi có nhiều nhà máy, phương tiện vận tải được đưa vào sản
xuất sẽ làm gia tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế và từ đó thúc đẩy quá trình
tăng trưởng kinh tế.

có sự nhất trí nào trong việc so sánh giữa số lượng nhỏ các nghiên cứu mà đã khám
phá ra vai trò của mức lương trong sự tác động lên tăng trưởng kinh tế: kết quả từ
các quốc gia sở tại có mức lương cao hơn không khuyến khích.
Trong ODI (1997) trình bày rằng nghiên cứu thực nghiệm cũng tìm thấy mối
quan hệ chi phí nhân công có ý nghĩa thống kê, đặc biệt là đầu tư nước ngoài trong
các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và các công ty con được định hướng
xuất khẩu. Tuy nhiên, khi chí phí nhân công tương đối không đáng kể (khi tỉ lệ mức
lương ít khác biệt giữa các nước) thì kỹ năng của lực lượng lao động được mong chờ
có tác động quyết định đến tăng trưởng kinh tế.
2.2. Một số quan điểm về lý thuyết tăng trưởng kinh tế
2.2.1. Mô hình tăng trưởng của trường phái cổ điển
Adam Smith (1723-1970) trong học thuyết về “Giá trị lao động” cho rằng:


12

nguồn gốc của sự tăng trưởng đó là lao động, vốn và đất đai, trong đó lao động là
quan trọng nhất và là nguồn gốc tạo ra của cải, là yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh
tế. Bên cạnh đó, ông khẳng định phân công lao động và chuyên môn hóa lao động là
cơ sở làm tăng năng suất lao động, tăng sản lượng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
Sau Adam Smith, David Ricardo (1772-1823) cũng cho rằng ba yếu tố đó là
lao động, vốn và đất đai tác động đến tăng trưởng. Khác với Adam Smith, Ricardo
cho rằng nhân tố đất đai là quan trọng nhất, góp phần vào tăng trưởng. Ricardo kết
luận đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng. Bên cạnh đó, giống với lý thuyết
“bàn tay vô hình” của Adam Smith trước đó, Ricardo cũng cho rằng sự can thiệp của
Chính phủ không làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
2.2.2. Mô hình tăng trưởng của Các Mác
Các Mác (1818-1883) là một nhà kinh tế học, nhà xã hội học, nhà triết học
xuất sắc. Khi lập luận về tăng trưởng kinh tế, Các Mác cho rằng: Các yếu tố tác
động đến tăng trưởng là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật; trong đó tương tự

2.2.5. Mô hình tăng trưởng của Robert Solow
Năm 1924, Solow đã phát triển mô hình tăng trưởng mang những ý tưởng
mới, được gọi là mô hình tăng trưởng Solow. Nếu như Harrob-Domar chỉ xét đến
vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô
hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và công nghệ vào phương trình tăng
trưởng. Theo đó, các nhân tố được phân thành 2 nhóm tương tự như trường phái tân
cổ điển. Đồng thời, ông cũng khẳng định lại vai trò quan trọng của yếu tố công nghệ
đối với tăng trưởng, chỉ có khoa học – công nghệ mới tạo nên sự tăng trưởng dài hạn
liên tục. Bên cạnh đó, Solow không hoàn toàn phủ định vai trò của Chính phủ. Vì


14

vậy, mô hình của Solow là sự cộng hưởng hoàn hảo giữa mô hình của trường phái
tân cổ điển và mô hình của Keynes thành một mô hình tăng trưởng mới.
2.2.6. Mô hình tăng trưởng hiện đại của Paul Samuelson
Dựa vào lý thuyết Keynes, các quốc gia đã lạm dụng khá nhiều các chính
sách kinh tế với mục đích hạn chế lạm phát và thất nghiệp, tăng mức sản lượng tiềm
năng của nền kinh tế, khiến khả năng tự điều chỉnh của thị trường bị hạn chế, đồng
thời bắt đầu xuất hiện một số khó khăn mới ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng.
Trong thời điểm đó, một trường phái mới ra đời ủng hộ xây dựng một nền kinh tế
hỗn hợp, trong đó quan hệ cung, cầu và những quan hệ cơ bản khác được xác định
bởi thị trường, còn nhà nước chỉ tham gia điều tiết vừa phải nhằm khắc phục và hạn
chế những thất bại của thị trường. Bên cạnh đó, Samuelson cho rằng phát triển kinh
tế phải dựa trên cả “hai bàn tay”, đó là thị trường và nhà nước và “Điều hành một
nền kinh tế mà thiếu 1 trong 2 thành phần chính phủ hoặc thị trường cũng như vỗ tay
bằng một bàn tay”.
Lý thuyết tăng trưởng hiện đại một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của
khu vực Nhà nước. Theo Samuelson, trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, Chính phủ
có 4 chức năng: thiết lập khuôn khổ pháp lý; thiết lập chính sách ổn định vĩ mô;

công nghệ nước ngoài) sẽ mang lại hiệu quả tăng trưởng kinh tế cao hơn là việc chỉ
cố gắng gia tăng lượng vốn hữu hình.
Các mô hình tăng trưởng nội sinh, đặc biệt là các mô hình xét đến vốn con
người đã góp phần giải thích đáng kể sự chênh lệch về thu nhập giữa các quốc gia.
Các mô hình này cho thấy được không có xu hướng các nước nghèo (ít vốn) có thể
đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập bình quân, cho dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm.
Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ ở lượng vốn vật chất (có



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status