ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
NGUYỄN VĂN HOÀN
ĐIỀU TRA KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÂY THUỐC
CỦA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUAN HÓA,
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
NGUYỄN VĂN HOÀN
ĐIỀU TRA KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÂY THUỐC
CỦA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUAN HÓA,
TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 8420101.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn: TS. Bùi Văn Thanh
TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ........................................................................................... 2
1.1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên Thế giới .........................................................2
1.2. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam ...........................................................7
1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thanh Hoá .......................................................13
1.4. Khái quát về khu vực nghiên cứu ...........................................................................15
1.5. Khái quát về dân tộc Thái .......................................................................................16
CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .............................................................................................................. 19
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ...............................................................................................19
2.2. Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu .........................................................19
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu............................................................................................19
2.2.3. Thời gian thực hiện..............................................................................................19
2.2.4. Đối tượng nghiên cứu ..........................................................................................20
2.3. Nội dung nghiên cứu ..............................................................................................20
2.4. Các phương pháp nghiên cứu .................................................................................20
2.4.1. Phương pháp điều tra cộng đồng .........................................................................20
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực vật học ................................................................21
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................... 24
3.1. Thành phần loài các cây thuốc được dân tộc Thái tại huyện Quan Hóa sử dụng ..24
3.1.1. Sự đa dạng trong các bậc taxon ...........................................................................24
3.1.2. Đa dạng về dạng thân của nguồn cây thuốc ở huyện Quan Hóa .........................31
3.1.3. Đa dạng về môi trường sống của nguồn cây thuốc ở huyện Quan Hóa ..............32
3.1.4. Các loài cây thuốc quý, hiếm thuộc diện bảo tồn ................................................34
3.2. Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Quan Hóa ..................35
3.2.1. Kinh nghiệm sử dụng các bộ phận làm thuốc .....................................................35
3.2.2. Các phương thức sử dụng cây thuốc ...................................................................37
TCN:
Trước Công nguyên
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ khu vực nghiên cứu .............................................................. 19
Hình 3.1. Cấu trúc thành phần các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu ...... 26
Hình 3.2. Cấu trúc thành phần các lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
.................................................................................................................. 27
Hình 3.3. Các họ giàu loài ................................................................................ 29
Hình 3.4. Cấu trúc dạng thân của cây thuốc tại khu vực nghiên cứu ............... 31
Hình 3.5. Phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống ............................ 33
Hình 3.6. Các bộ phận được sử dụng làm thuốc .............................................. 36
Hình 3.7. Các phương thức sử dụng thuốc ....................................................... 38
Hình 3.8. Các nhóm bệnh được điều trị ........................................................... 40
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Cấu trúc thành phần các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu ..... 24
Bảng 3.2. Đa dạng các lớp trong ngành Ngọc lan ............................................ 26
Bảng 3.3. Sự phân bố số lượng loài trong các họ............................................. 28
Bảng 3.4. Số lượng chi và loài của các họ giàu loài nhất ................................ 28
Bảng 3.5. Các chi giàu loài nhất ....................................................................... 30
Bảng 3.6. Đa dạng về dạng thân của cây thuốc ở khu vực nghiên cứu............ 31
Bảng 3.7. Sự đa dạng của cây thuốc theo môi trường sống ............................. 32
Bảng 3.8. Danh sách các loài cây thuốc thuộc diện bảo tồn ............................ 34
Bảng 3.9. Các bộ phận được sử dụng làm thuốc .............................................. 35
Bảng 3.10. Số các bộ phận được làm thuốc ở mỗi loài cây thuốc ................... 37
tộc Thái ở các vùng tuy nhiên chưa có công bố nào về tri thức sử dụng cây thuốc của
đồng bào Thái ở huyện Quan Hóa. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Điều tra kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc thái ở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa”
với những mục tiêu sau:
- Lập danh lục những loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quan
Hoá, tỉnh Thanh Hoá sử dụng.
- Tổng hợp kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và ghi nhận một số bài thuốc của
đồng bào Thái ở huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên Thế giới
Trong lịch sử phát triển các dân tộc, các Quốc gia thì sự phát triển của xã hội
loài người trên Thế giới gắn liền với lịch sử phát hiện và sử dụng cây thuốc. Cây
thuốc là một trong những nhóm tài nguyên thực vật có giá trị quan trọng hàng đầu và
là tài sản vô cùng quý giá mà thiên nhiên ưu đãi cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Ngoài
việc được ghi chép lại trong sách vở thì y học cổ truyền còn được lưu truyền qua từng
thế hệ bằng lời nói và thực hành ở nhiều nơi trên thế giới.
Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi
chép lại trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700
cây thuốc, trong đó có Lô hội, Kỳ nam, Gai đầu... Họ cũng sử dụng cây Lô hội (Aloe
barbadensis) để chữa trị vết thương cho các chiến binh. Người Trung Quốc cổ đại đã
ghi nhận 365 vị thuốc và loài cây làm thuốc trong bộ Thần nông bản thảo (khoảng
5.000 năm trước đây) [31].
Nhiều thế kỷ TCN người Hy Lạp đã biết trồng và sử dụng thực vật làm thuốc.
Năm 79 - 23 (TCN), nhà tự nhiên học người La Mã: Plinus soạn thảo bộ sách: "Vạn
vật học" gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây có ích. Năm 60 - 20 (TCN), thầy thuốc
Đây là một gợi mở để có thể đưa hoạt chất này vào điều trị lâm sàng phổ biến thay vì
chỉ dừng lại ở dạng bài thuốc y học cổ truyền như hiện tại [54]. Trong một nghiên
cứu khác, Lin L. đã chỉ ra khả năng trị liệu của loài Polygonum multiflorum đối với
các bệnh Alzheimer, bệnh Parkinsons, tăng lipid máu, viêm và ung thư, do sự hiện
diện của các stilben, quinon, flavonoid, phospholipid và các hợp chất khác trong cây.
Tác giả cũng cảnh báo việc tách chiết các hoạt chất của loài này không triệt để có thể
dẫn đến một số tác dụng phụ gây độc cho gan và thận [54].
Người Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của các bộ tộc Hindu khoảng 2000
năm trước, trong đó có các loài cây gây buồn ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn... [52] Nhân
dân Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare) sao vàng sắc đặc để chữa
kiết lỵ và tiêu chảy. Không những vậy, một số nghiên cứu cũng chỉ ra cây thuốc được
sử dụng nhiều từ xa xưa đến hiện đại, từ những khu vực xa xôi hẻo lánh, những bộ
tộc thiểu số cho đến những khu vực nông thôn hay thành phố [49,50,62]. Trong hệ
thống y học của người Trung Quốc, 80% bài thuốc cổ truyền có sử dụng các loài thực
3
vật bậc cao. Họ cũng có nhiều áp dụng y học cổ truyền vào ứng dụng trong điều trị
lâm sàng [64,70]. Sử dụng thực vật làm thuốc khá phổ biến ở các nước Châu Á như
Hồng Kông, Hàn Quốc, Indonexia, Malaixia cũng như ở Ấn độ, Pakistan,
Bangladesh, SriLanka và Nepan (Husain, 1991). Tại Nhật Bản, có đến 42,7% dân số
sử dụng thuốc cổ truyền trong các hoạt động chữa bệnh với tổng giá trị của y học cổ
truyền lên đến 150 triệu USD/năm (1983). Tại Ấn Độ, có 400 loài trong tổng số 7.500
loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng với lượng lớn ở các xưởng sản xuất thuốc
nhỏ và khoảng 540 loài cây thuốc thường được sử dụng ở các bài thuốc khác nhau
trong hệ thống y học Ayuveda, Unani và Siddha. Xuất nhập khẩu cây thuốc của Ấn
Độ tăng 3 lần, trong thập niên 90 của thế kỉ XX; doanh thu từ hoạt động buôn bán
dược thảo trong nước và xuất khẩu đạt 1 tỷ USD/năm [51].
Ở châu Phi, sự đa dạng của ngành thảo dược cổ truyền lớn hơn bất kỳ châu lục
Những quốc gia ở châu Âu dường như gắn liền với sự phát triển của nền y học
hiện đại. Y học dân tộc Bungari “Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một vị
thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta đã dùng cả hoa, lá và rễ làm thuốc tan huyết ứ
và bệnh phù thũng. Ngày nay người ta đã chứng minh rằng trong cánh hoa hồng có
chứa một lượng tanin, glucosid, tinh dầu đáng kể. Tinh dầu này không chỉ được dùng
để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh như chống trầm cảm, chống
viêm, điều hòa kinh nguyệt,...
Tuy không có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng và phong phú như ở những
châu lục khác nhưng cũng có một số nghiên cứu về việc sử dụng các loại thảo dược
của những người dân du mục trên dãy An-pơ. Vitalini S. (2013) khi tiến hành phỏng
vấn hơn 100 người dân địa phương, chủ yếu là những người lớn tuổi, đã ghi nhận
được 66 loài cây thuốc thuộc 35 họ. Trong đó có 3 loài lần đầu được ghi nhận công
dụng sử dụng làm thuốc ở khu vực núi cao (Sempervivum montanum L.,
Rhododendron ferrugineum L. và Panicum miliaceum L.) [66]. Năm 2015, Siviero,
A. đã ghi nhận nhiều hiệu quả của curcumin trong điều trị nhiều bệnh mãn tính và
trong một số loại ung thư in vitro và in vivo. Đồng thời trong nghiên cứu này tác giả
cũng đưa ra một số chiến lược phát triển dược phẩm để nâng cao hiệu quả sử dụng
của curcumin [63]. Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra thành phần các loài cây thuốc
được sử dụng bởi dân tộc Kurd và Zaza ở khu vực Đông Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ [60].
Tại Mỹ, quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới những năm gần đây cũng
5
có sự quan tâm nghiên cứu về vai trò của thành phần thực vật làm thuốc trong đời
sống con người [65].
Bên cạnh việc phát hiện những tác hại của cây độc đối với con người và gia
súc, người ta cũng đã sử dụng nhiều cây độc làm thuốc như cà độc dược, mã tiền,
hoàng đàn, trúc đào, ô đầu, bách bộ… bởi vì hoạt chất của những cây này có tác dụng
chữa bệnh khi dùng đúng bệnh và liều lượng. Các họ thực vật có nhiều cây độc là họ
Nguồn cây thuốc ở Việt Nam đặc biệt phong phú và đa dạng về thành phần
loài. Dường như tất cả các nhóm và ngành thực vật (kể cả nấm) đều có các loài được
sử dụng để làm thuốc. So với khoảng 11.000 loài thực vật bậc cao đã biết thì cây làm
thuốc chiếm tới trên 37,26% [46]. So với một số nhóm cây có ích khác như: cây gỗ
700 loài, cây chứa tinh dầu 657 loài, song mây và tre nứa trên 130 loài..., rõ ràng số
loài cây được sử dụng làm thuốc lớn hơn rất nhiều. Ngay từ thời cổ xưa nhân dân đã
biết sử dụng thực vật làm thuốc chữa bệnh. Ngày nay nền y học cổ truyền nước ta đã
phát triển khá mạnh. Để đạt được những thành tựu này, chúng ta không thể không kể
đến công của Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông… [31]
Cùng với tiến trình lịch sử, nền y học cổ truyền Việt Nam cũng dần phát triển
gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của các danh Y nổi tiếng đương thời. Đời nhà Lý
(1020 – 1224) có nhà sư Nguyễn Minh Công tức Nguyễn Chí Thành đã dùng nhiều
cây cỏ chữa bệnh cho nhân dân và nhà Vua, nên được Tấn phong “Quốc sư” Triều
Lý. Đời nhà Trần (1225 – 1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo
Vương - Trần Quốc Tuấn xây dựng một vườn thuốc lớn dùng cây thuốc để chữa bệnh
cho quân sỹ trên núi gọi là “Sơn Dược”, hiện vẫn còn di tích để lại tại một đồi thuộc
xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng. Năm 1429, Chu Tiên đã biên soạn
cuốn “Bản thảo cương mục toàn yến” là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bản. Có hai
danh y nổi tiếng cùng thời đó là Phạm Công Bân (thế kỷ XIII) và người thầy thuốc
nổi tiếng Tuệ Tĩnh. Tuệ Tĩnh tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV), ông là người
đã biên soạn ra bộ “Nam dược Thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong
đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phương thuốc đơn giản để trị 184
chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng. Ông còn viết cuốn “Hồng nghĩa giác tư y thư”,
tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách trị cho 37 chứng
sốt khác nhau. Trong “Nam dược thần hiệu” có ghi: Tô mộc (Caesalpinia sappan L.)
7
vị mặn, tính bình không độc, trừ huyết xấu, trị đau bụng thương phong, sưng lở; Sử
500 vị thuốc Nam dùng trong dân gian để chữa bệnh. Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ,
nhà văn hoá yêu nước lớn của nước ta cũng có tác phẩm truyện thơ “Ngư tiều y thuật
vấn đáp” có nhắc đến những kinh nghiệm dân gian về sử dụng các loại thảo dược.
Đến năm 1858, Trần Nguyên Phương đã kể tên và mô tả công dụng của trên 100 loài
cây thuốc trong cuốn “Nam bang thảo mộc” [38].
Trong thời kỳ Thực dân Pháp đô hộ nước ta, với vai trò là “Mẫu quốc”, Pháp
cũng có nhiều sự đầu tư xây dựng các công trình kiến trúc, cơ sở hạ tầng mang đậm
nét văn hoá phương Tây, trong đó cũng có cả những công trình nghiên cứu. Một số
nhà Thực vật học, Dược học người Pháp đã có những nghiên cứu về hệ thực vật Việt
Nam nói chung cũng như về các loài cây thuốc nói riêng, nhưng mục đích chủ yếu là
để phục vụ khai thác tài nguyên. Điển hình là Crevost và Petelotđã xuất bản bộ
“Catalogue des produits de I’zndochine” (1928-1935) trong đó ở tập V đã mô tả 368
cây thuốc và vị thuốc. Đến năm 1952, Petelot bổ sung và xây dựng bộ “Les plantes
m’edicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị
thuốc thảo mộc trên 3 nước Đông Dương [38].
Từ ngày hòa bình lặp lại ở miền Bắc và sau ngày giải phóng miền Nam thống
nhất đất nước, Đảng và nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến dược liệu, khuyến khích
điều tra nghiên cứu nguồn cây thuốc nước nhà. Rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên
cứu quan tâm đến vấn đề này và bỏ công sức ra nghiên cứu tìm hiểu. Đáng chú ý là
tác phẩm “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” của Viện Dược liệu đã nghiên cứu về các
mặt danh pháp, phân loại thực vật, phân bố sinh thái, trồng trọt, hóa học chuyển biến,
dược lý công dụng những cây thuốc đã được khai thác và sử dụng lâu đời trong dân
gian. Từ năm 1962-1965, GS. TS. Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, đến năm 1969 tái bản thành 2 tập, giới thiệu trên 500
vị thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc, động vật và khoáng vật. Năm 2004, Viện Dược
liệu xuất bản tài liệu “Những cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” đã thống
kê được ở Việt Nam có: 11.000 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 3.800 loài
thực vật bậc cao và thấp (kể cả nấm) được dùng làm thuốc [8]. Sách đã giới thiệu 63
loại bệnh được chữa trị bằng cây thuốc. Năm 2012, Võ Văn Chi tái bản cuốn “Từ
Ninh (1994), Lê Trần Đức (1995) các nhà khoa học Việt Nam bước đầu đã biết được
hợp chất Taxol từ các loài Thông đỏ (Taxus spp.) có tác dụng chống ung thư. Việc
10
ứng dụng những kinh nghiệm dân gian và nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam nói
chung, các dân tộc ít người nói riêng là rất cần thiết, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên
cây thuốc, bảo tồn nguồn gen, cùng những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc chữa bệnh
phong phú trong y học cổ truyền [28].
Những năm gần đây, đã có nhiều tác giả thực hiện những công trình điều tra,
nghiên cứu về hiện trạng, tình hình sử dụng các loài cây thuốc. Các công trình này đã
góp phần bổ sung dữ liệu cho nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú của nước ta từ
Nam ra Bắc. Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã có nhiều công trình nghiên
cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam. Các công trình nghiên cứu này đã cập nhật và bổ sung cho dữ liệu về cây thuốc
dân tộc ở Việt Nam [2,3,15].
Năm 2016, Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Trung Thành đã công bố kết quả
nghiên cứu về tri thức sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên
với 745 cây thuốc cùng 180 bài thuốc. [27]
Kết quả nghiên cứu cây thuốc ở khu BTTN Hòn Bà, tỉnh Khánh Hoà của Trần
Thị Ngọc Diệp đã ghi nhận 515 loài chiếm 11,52% số loài cây thuốc ở Việt Nam
[13].
Năm 2017, Đỗ Thanh Tuân công bố 346 loài cây thuốc được dùng cho 28
nhóm bệnh ở hai huyện ven biển Thái Thuỵ và Tiền Hải của tỉnh Thái Bình. Đồng
thời, tác giả cũng phân lập và xác định 15 hoạt chất từ cây Tầm bóp (Physalis
angulata) có khả năng ứng dụng dược liệu [43]. Nguyễn Thị Lương khi nghiên cứu
kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào Chăm và K’Ho ở khu BTTN Núi Ông
tỉnh Bình Thuận đã ghi nhận 158 loài thực vật được sử dụng làm thuốc, trong đó có
6 loài thuộc diện cần được bảo vệ [32]. Đặc biệt công bố của Đặng Ngọc Phái về số
khi sinh (hầu như người đàn ông sau 35 tuổi đều biết) như huyết trắng, sa tử cung…
Người Chăm nổi tiếng chữa bệnh về dạ dày, thấp khớp, suy nhược thần kinh, gãy
xương… bài thuốc ngừa thai cho phụ nữ bằng lá cây gừng núi và bài thuốc giải độc
lá ngón của cộng đồng người dân tộc Giẻ Triêng ở xã Đăk Choong, huyện Đăk Glei;
chữa bệnh hắc lào bằng cây kiến cò và chữa đau khớp bằng cây thuốc của dân tộc
Mường ở xã Đăk Long, huyện Đăk Glei; chữa bệnh đau lưng bằng quả chuối hột rừng
của dân tộc Gia Rai... [33]
12
Khoảng hai mươi năm trở lại đây, nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ thiên
nhiên, trong đó bao gồm các loại thảo dược có xu hướng tăng nhanh. Việc khai thác
quá mức đã dẫn đến tình trạng suy giảm nghiêm trọng các loài cây thuốc, trong đó
nhiều loài đứng trước nguy cơ bị tuyệt diệt. Khu vực núi Ba Vì có hơn 500 loài thuốc
nam, người dân tộc Dao ở đây biết được khoảng 300 loài cây dùng cho những bài
thuốc cổ truyền. Thế nhưng nguồn cây thuốc hiện đang dần cạn kiện, một số loài
thậm chí không thể tìm lại được nữa để làm thuốc. Đặc biệt ở những khu vực giáp
ranh với Trung Quốc, tình trạng “chảy máu” những cây thuốc do những thương lại
Trung Quốc thu mua với số lượng lớn cũng góp phần không nhỏ vào việc làm suy
giảm nguồn tài nguyên quý giá này. Thậm chí, nhiều người dân tộc khai thác cây
thuốc mà không hiểu rõ mục đích và công dụng.
Trên thực tế, mọi tác động đến tự nhiên đều hết sức phức tạp, nếu không được
tiến hành dựa trên cơ sở khoa học sẽ gây ra sự mất thăng bằng trong tự nhiên, dẫn
đến những hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, cần có những nghiên cứu, điều tra về hiện
trạng cây thuốc dân tộc cũng như tri thức bản địa về việc sử dụng cây thuốc nhằm tạo
cơ sở cho việc bảo tồn cây thuốc cũng như bản sắc văn hoá, tri thức dân tộc Việt
Nam.
1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thanh Hoá
Dương sử dụng, con số này là 551 loài ở huyện Con Cuông [38]. Lê Thị Hương và
cộng sự ghi nhận 191 loài cây thuốc của đồng bào Thái ở xã Châu Cường, huyện Quỳ
Hợp [28]. Gần đây nhất, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thượng Hải (2017) ghi nhận
583 loài cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng người Thái huyện Quế Phong, tỉnh
Nghệ An [19].
Đáng chú ý, Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Huệ (2009) khi nghiên cứu về
đồng bào Thái ở xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân đã thống kê được 178 loài của 75
họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao, phát hiện được 6 loài quí hiếm trong đó có 3 loài
thuộc danh lục đỏ cây thuốc đồng thời bổ sung 57 loài cho từ điển cây thuốc Việt
Nam của Võ Văn Chi [26]. Như vậy việc điều tra cây thuốc của đồng bào các dân tộc
miền núi Thanh Hóa đã và đang được tiến hành nhưng còn đơn lẻ, rời rạc. Vì vậy cần
phải tiến hành điều tra, nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống trên qui mô
toàn tỉnh để thu thập cây thuốc, bài thuốc có giá trị để bảo tồn, không bị mai một.
14
Nhà nước cần có những chính sách đãi ngộ và kêu gọi hợp lý để mọi người đều có ý
thức bảo vệ kho tàng kinh nghiệm quý báu này. Xã hội ngày càng phát triển, đời sống
người dân được nâng cao nên mọi người càng chú trọng đến sức khỏe của bản thân.
Do vậy, cần có sự kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại để bổ sung cho nhau
phục vụ sức khỏe cho mọi người ngày một tốt hơn.
1.4. Khái quát về khu vực nghiên cứu
Địa lý, hành chính
Quan Hóa là huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa có vị trí địa lý
từ 20018’09” đến 20040’11” vĩ độ bắc và từ 104042’08” đến 105011’21” kinh độ đông.
Phía Bắc giáp với huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình.
Phía Tây giáp với huyện Mường Lát và một phần giáp với huyện Sầm Tớ (tỉnh Hủa
Phăn nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào). Phía Nam giáp với huyện Quan Sơn
với tổng số 1490 nhà. [6]
1.5. Khái quát về dân tộc Thái
Dân tộc Thái ở Việt Nam
Địa bàn cư trú của người Thái Việt Nam chủ yếu ở Tây Bắc, một số ít ở Tây
Thanh Hóa, Nghệ An. Người Thái có nền kinh tế truyền thống mạnh về nông nghiệp
làm ruộng nước. Theo đó, họ có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng cọn,
bắc máng lấy nước. Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp. Người
Thái cũng phát rẫy, làm nương, trồng lúa cạn và hoa màu, cùng nhiều thứ cây quả, củ
khác. Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải và có một số nơi làm
đồ gốm.
Người Thái ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa,
hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật
gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái
thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
16
Về phương tiện vận chuyển thì gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng
dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng
trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én [71].
Văn hóa dân gian của người Thái vô cùng phong phú. Đó là những thần thoại,
cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao… Người Thái cũng có có các điệu xoè, các
loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú. Những tác phẩm thơ
ca nổi tiếng của dân tộc Thái như Xống chụ xon xao, Khum Lú nàng úa đều là những
di sản văn hóa quý báu mà người Thái còn bảo lưu cho tới nay trong cộng đồng.
Người Thái sớm có chữ viết nên nhiều vốn cổ văn học, luật tục được ghi chép
lại trên giấy bản và lá cây. Người Thái rất thích ca hát, đặc biệt là Khắp tay. Đó là lối
ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có đệm đàn và múa. Nhiều điệu múa như múa xòe,