VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ MINH HẢO
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ MINH HẢO
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN VĂN LUYỆN
HÀ NỘI, 2019
Trần Thị Minh Hảo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ
MA TÚY ........................................................................................................... 8
1.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra tội phạm ................................................................................. 8
1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội
phạm về ma túy ......................................................................................... 16
1.3. Quy định của pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm về ma túy ...... 22
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY CỦA VKSND
TỈNH QUẢNG NINH .................................................................................... 29
2.1. Tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ................. 29
2.2. Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội
phạm về ma túy của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh ............... 39
2.3. Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra các tội phạm về ma túy của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Quảng Ninh ................................................................................. 51
Chương 3: DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC
TỘI PHAM MA TÚY CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH
QUẢNG NINH............................................................................................... 59
3.1. Dự báo tình hình tội phạm về ma túy và yêu cầu với công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trong thời gian tới ..................... 59
KSND là sự khẳng định kết quả của quá trình điều tra và tạo tiền đề đúng đắn
cho quá trình xét xử. Thông qua các bản cáo trạng, bản luận tội sắc bén, có tác
dụng xử lý nghiêm minh, cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm. Qua đó, góp
phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống thanh
bình của nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm nói chung cũng như tình
hình TPVMT nói riêng tại Việt Nam vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là ở các
tỉnh biên giới, miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Quảng Ninh. Tại Quảng
Ninh, TPVMT xảy ra nhiều, chiếm 35,5% trong tổng số tội phạm được phát
hiện, khởi tố và luôn có chiều hướng gia tăng về số vụ, về tính chất nguy
hiểm, phương thức hoạt động ngày càng tinh vi và hậu quả gây ra ngày càng
nghiêm trọng.
Để đấu tranh với loại tội phạm này, Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ
đạo kiên quyết đấu tranh nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm ma
túy ra khỏi đời sống xã hội bằng việc ban hành Luật và nhiều văn bản hướng
dẫn luật tạo thành một hệ thống pháp luật về phòng, chống TPVMT.
1
Thực hiện chỉ đạo của Ngành KSND, VKSND tỉnh Quảng Ninh chủ
động tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và
TPVMT nói riêng. Trong đó, tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 21CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo,
chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới”; Kế
hoạch số 88/KH-VKSTC ngày 13/9/2012 của VKSND Tối cao về “Chiến
lược quốc gia phòng, chống và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và
định hướng đến năm 2030 trong ngành Kiểm sát nhân dân”. Đồng thời, triển
khai có hiệu quả Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của VKSND Tối
cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công
tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm”.
để xảy ra tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc phải gia hạn thời hạn điều
tra, vấn đề hợp tác quốc tế trong việc xử lý loại tội phạm này còn nhiều bất
cập... Đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc điều tra, xử lý các vụ án về ma túy.
Những hạn chế, thiếu sót nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau,
trong đó cơ bản là do nhận thức về công tác THQCT và KSĐT của VKSND
đối với các TPVMT còn chưa đầy đủ và thiếu thống nhất. Lý luận về hoạt
động THQCT trong giai đoạn điều tra các TPVMT chưa được xem xét,
nghiên cứu đầy đủ và toàn diện. Thực tiễn công tác THQCT ở giai đoạn điều
tra các TPVMT chưa được tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng
Ninh" làm luận văn thạc sĩ luật học, nhằm đáp ứng phương diện lý luận và
thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn điều tra các
TPVMT tại VKSND tỉnh Quảng Ninh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề
THQCT và các TPVMT. Cụ thể:
- Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở
Việt Nam từ 1945 đến nay, của VKSND tối cao, năm 1999.
3
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
giai đoạn điều tra của TS. Lê Hữu Thể (chủ biên), năm 2008.
- Hiểm họa ma túy và cuộc chiến mới của PGS.TS. Nguyễn Xuân Yêm
và TS Trần Văn Luyện, năm 2002.
- Đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy có yếu tố nước ngoài của
PGS.TS. Trần Văn Luyện và ThS. Nguyễn Xuân Tất Hòa, năm 2011.
- Luận văn thạc sĩ của Cao Việt Cường về Một số lý luận và thực tiễn
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục đích: Luận văn phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, những
quy định của pháp luật về hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra các
TPVMT. Đánh giá thực trạng của hoạt động này trên địa bàn Tỉnh; Dự báo
tình hình TPVMT và đề xuất các giải pháp bảo đảm, nâng cao chất lượng
THQCT ở giai đoạn điều tra các TPVMT tại VKSND tỉnh Quảng Ninh.
Về nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản như
khái niệm, đối tượng, nội dung, phạm vi của QCT, THQCT trong giai đoạn
điều tra của VKSND; khái niệm, đặc điểm, vai trò của THQCT trong giai
đoạn điều tra các TPVMT và các hoạt động khi THQCT trong giai đoạn này.
5
Đánh giá thực trạng THQCT trong giai đoạn điều tra TPVMT của
VKSND tỉnh Quảng Ninh, nêu lên những thành quả đạt được, những hạn chế,
vướng mắc và nguyên nhân. Dự báo tình hình TPVMT và yêu cầu với công
tác đấu tranh phòng, chống các TPVMT. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm đảm
bảo đảm, nâng cao chất lượng THQCT ở giai đoạn điều tra các TPVMT của
VKSND tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn của việc THQCT ở giai đoạn điều tra các TPVMT trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc THQCT trong giai
đoạn điều tra các TPVMT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong 05 năm, từ năm
2014 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu :
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; các quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và ngành Kiểm sát
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các TPVMT ở VKSND tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Dự báo và giải pháp nâng cao hiệu quả THQCT trong giai
đoạn điều tra các TPVMT của VKSND tỉnh Quảng Ninh.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
1.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra tội phạm
1.1.1. Khái niệm quyền công tố
Công tố là một biện pháp chuyên chính của mọi Nhà nước trong lịch
sử. Thực hiện đầy đủ quyền công tố nhà nước nhằm bảo vệ chế độ, trật tự kỉ
cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Theo Đại từ
điển tiếng Việt, “Công” có nghĩa là “thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư”,
còn “Tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách
công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người”,“Công tố” có
nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa
án” [51, tr 459]. Theo Từ điển Luật học thì “Quyền công tố là quyền buộc tội
nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội… Quyền công tố chỉ được xem xét
trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà từ cội nguồn lịch sử của nó đã gắn
liền, không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền)
chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố
tụng hình sự” [50, tr 188].
Như vậy, công tố thể hiện mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời với
pháp luật hình sự. Trong đó, Nhà nước là chủ thể quyền lực (quyền lực công),
thực hiện việc buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội. QCT, vì thế
một quyền năng nhằm thực hiện chức năng KSTTPL, nhằm đảm bảo mọi hành
vi vi phạm pháp luật và tội phạm đều bị phát hiện, xử lý theo pháp luật. Quan
điểm này đã đánh đồng giữa khái niệm QCT Nhà nước với thẩm quyền của VKS
trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự… dẫn tới việc xác định quá rộng
khái niệm, nội dung và phạm vi của QCT, làm mất đi ranh giới, tính đặc thù của
TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác. Đây cũng là quan điểm đã được đưa vào
chương trình giảng dạy chính thức tại trường Cao đẳng kiểm sát.
Với quan điểm thứ ba thì “Quyền công tố là quyền của Nhà nước, được
Nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt Nam là cơ quan VKS) thực hiện việc
truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan công tố
9
có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội
phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ
sự buộc tội trước phiên tòa” [36, tr40]. Theo quan điểm này, QCT chỉ có trong
TTHS, là quyền nhân danh Nhà nước nhằm phát hiện tội phạm và truy cứu
TNHS đối với người phạm tội.
Tác giả đồng tình quan điểm thứ ba về khái niệm QCT, vì quan điểm này
đã xác định được QCT chỉ có thể do một cơ quan thực hiện (ở Việt Nam là cơ
quan VKS); QCT tồn tại song song, độc lập với quyền tài phán của Tòa án, là
quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó trước
phiên tòa.
Như vậy có thể hiểu: Quyền công tố là quyền thuộc về Nhà nước, do
VKSND thực hiện, thể hiện ở việc phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội bằng các hoạt động cụ thể như thu thập chứng cứ buộc tội,
truy tố bị can và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa.
Đối tượng của quyền công tố
Vì QCT là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội (thực hiện
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác hoặc xâm phạm tới hoạt động
quản lý Nhà nước. Xuất phát từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung
QCT theo luật định, việc sử dụng những quyền năng này để thực hiện việc
truy cứu TNHS đối với người phạm tội chính là THQCT.
Ở nhiều nước trên thế giới, QCT được giao cho Viện Công tố thực
hiện, riêng nước ta và một số nước theo đường lối XHCN, QCT được giao
cho VKSND cùng với chức năng KSTTPL. Căn cứ vào quy định của Hiến
pháp và pháp luật nước ta cũng như trong thực tiễn, QCT được giao duy nhất
cho VKSND và chủ thể THQCT ở Việt Nam là VKSND. Cụ thể, Điều 107
Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền
công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp" [29]. Thể chế hóa quy định của Hiến
pháp, tại Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã xác định “Thực hành
quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện
việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ
khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá
11
trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [30]. Điều 20 BLTTHS
năm 2015 cũng quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát
hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội,
pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp
thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội,
pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội” [31]. Như vậy, THQCT là
hoạt động của VKSND trong TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước
đối với người phạm tội. Việc VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý nhằm
truy cứu TNHS đối với người phạm tội chính là THQCT.
Đối với các trường hợp này, cơ quan tố tụng không được áp dụng các biện
pháp THQCT. Như vậy, phạm vi THQCT hẹp hơn so với phạm vi QCT.
Quá trình giải quyết một vụ án hình sự theo TTHS Việt Nam có nhiều
giai đoạn. Trong quá trình này, giai đoạn điều tra là giai đoạn thứ hai góp
phần quan trọng trong việc phát hiện chính xác, kịp thời mọi tội phạm và
người phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan
người vô tội.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, điều tra là “tìm hiểu, xét hỏi để biết rõ sự
thật” [51, tr 638]; còn theo Từ điển Luật học thì “Điều tra là công tác trong
tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách
khách quan, toàn diện và đầy đủ” [50, tr 257]. Có thể hiểu điều tra vụ án hình
sự là giai đoạn TTHS thứ hai mà trong đó cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào
các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các
biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các
tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng
như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu TNHS, đồng
thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và
trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là chuyển toàn
bộ các tài liệu của vụ án đó cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị
truy tố bị can.
13
Cũng theo TTHS, trong giai đoạn điều tra, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn
trong việc THQCT và KSHĐTP. Trong giai đoạn này, thường có sự nhầm lẫn
giữa hoạt động THQCT và KSHĐTP hoặc nhầm tưởng VKS chỉ tiến hành
KSHĐTP trong giai đoạn này. Theo quy định của pháp luật và trên thực tiễn,
THQCT trong giai đoạn điều tra là các hoạt động nhằm vào việc buộc tội và
các biện pháp tác động vào quyền nhân thân của người phạm tội như hạn chế
điều tra; khi cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; Quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp
ngăn chặn khác; Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; Hủy bỏ
các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT. Cuối cùng là những
hoạt động kết thúc THQCT trong giai đoạn điều tra, gồm việc ra quyết định truy
tố bị can hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Phạm vi THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự: Việc xác
định đúng phạm vi THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra là rất cần thiết,
đó là cơ sở quan trọng để phân biệt với hoạt động KSHĐTP và các hoạt động
thực hiện chức năng khác nhằm thực hiện đúng thẩm quyền trong quá trình
điều tra vụ án hình sự. Theo điều 165 BLTTHS quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn điều tra, bên cạnh việc thực hiện
những hoạt động của giai đoạn điều tra, VKS còn thực hiện những hoạt động
của giai đoạn khởi tố (quyết định khởi tố). Theo đó phạm vi THQCT của
VKS trong giai đoạn điều tra bao trùm lên hoạt động khởi tố, điều tra. Như
vậy phạm vi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi tiếp
nhận thông tin tội phạm, KTVA và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều
tra, đề nghị VKS truy tố người phạm tội hoặc đình chỉ điều tra vụ án theo quy
định của pháp luật.
THQCT trong giai đoạn điều tra mang ý nghĩa quan trọng, thể hiện vai
trò của VKSND trong quá trình điều tra vụ án hình sự. Hoạt động này nhằm
bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp
thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội;
Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các
quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và
15
nhân phẩm một cách trái pháp luật; đảm bảo việc truy cứu TNHS đối với bị
Quán triệt quan điểm này và để cụ thể hóa các hành vi phạm tội về ma
túy, BLHS của Việt Nam dành một chương riêng với các điều luật tương ứng
với các tội danh cụ thể. Trải qua quá trình vận dụng, thi hành, BLHS đã được
sửa đổi, bổ sung nhiều lần để phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống
tội phạm nói chung và phòng, chống tội phạm về ma túy nói riêng. Ngày
27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHS, có
hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016, trong đó tội phạm về ma túy được quy định tại
Chương XX với 13 điều luật, từ Điều 247 đến Điều 259.
Qua nghiên cứu cho thấy, các TPVMT gồm nhiều loại hành vi khác
nhau được quy định trong BLHS nhưng đều có chung hai đặc điểm, đó là:
- Tính nguy hiểm cho xã hội của các TPVMT thể hiện ở sự đe dọa
nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của con người, cũng
như đe dọa đến hạnh phúc gia đình và trật tự công cộng nói chung;
- Đối tượng là các chất ma túy (hoặc liên quan đến chất ma túy), các
chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính
phủ ban hành.
Từ sự phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về các TPVMT như
sau: Tội phạm về ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong BLHS do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm
phạm đến chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước ta về các chất ma túy, các
tiền chất để sản xuất chất ma túy và những hoạt động liên quan trực tiếp đến
quá trình quản lý, sử dụng các chất ma túy và các tiền chất đó.
Cấu thành tội phạm của các TPVMT giống nhau ở các dấu hiệu về khách
thể, chủ thể và mặt chủ quan. Giữa chúng chỉ khác nhau về mặt khách quan.
- Về khách thể của các TPVMT: Các TPVMT xâm phạm đến hai khách
thể quan trọng, đó là xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về
các chất ma túy, các tiền chất để sản xuất chất ma túy và những hoạt động liên
quan trực tiếp đến quá trình quản lý, sử dụng các chất ma túy và các tiền chất
đó và xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội [21, tr.488].
Khái niệm THQCT trong giai đoạn điều tra các tội phạm về ma túy:
Từ những sự phân tích về khái niệm THQCT và tội phạm về ma túy nêu
trên, có thể xác định: THQCT trong giai đoạn điều tra các TPVMT chính là việc
18