luận văn thạc sĩ giải pháp liên kết kinh tế nông nghiệp giữa hà nội và một số tỉnh phụ cận - Pdf 60

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Hoàn toàn do tôi
thực hiện. Các số liệu và trích dẫn nêu trong đề tài luận văn đều được dẫn nguồn và
có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi. Những phân tích, đánh giá
trong đề tài chưa từng công bố trong cácnghiên cứu trước đây. Luận văn là quan
điểm của cá nhân tôi, không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học
Thương mại.
HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Diệu Linh


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn, lời đầu tiên học viên bày tỏ lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc nhất tới CôChu Thị Thủy - nhà khoa học hướng dẫn trực tiếp. đã tận tình
hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Quản lý kinh tế,
các thầy cô giáo trường Đại học Thương Mại đã trang bị cho tác giả những kiến
thức và kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập tại trường và nhiệt tình giúp đỡ
tác giả thực hiện đề tài này.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn văn phòng Sở Nông nghiệp Hà Nội đã cung
cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn của mình.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ,
động viên, tạo điều kiện để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn.
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng và nỗ lực của bản thân, nhưng do trình độ còn
hạn chế, cũng như kiến thức thực tế còn chưa nhiều, nên chắc chắn bài luận văn của
tác giả không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được những lời góp ý

Bảng 2.7: Tổng hợp điều tra khảo sát tư thương cung cấp sản phẩm
trồng trọt tại 3 chợ đầu mối Hà Nội.................................................62
HÌNH:

Hình 2.1: Cơ cấu kinh tế của Hà Nội 2011 -2016.......................43


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
ĐBBB
ĐTH
CNH
KTNN
CNH
HĐH
HTX
DN
ĐBSCL
GDP
LKKT
USD
UBND


Nghĩa của từ viết tắt
Đồng bằng bắc bộ
Đô thị hóa
Công nghiệp hóa

Mặc dù đã tạo ra được thành công trong bức tranh phát triển, cung ứng các sản
phẩm của ngành nông nghiệp nhưng Hà Nội mới đáp ứng được 59,2% nhu cầu về
lương thực, thực phẩm, hơn 40% sản phẩm còn lại là nhập từ các địa phương khác .
Sự hỗ trợ của nông nghiệp các tỉnh trong công việc cung cấp nông sản, hình thành
các vành đai lương thực, thực phẩm đến hình thành các vành đai rừng, hồ điều hòa
tạo lập môi trường, cảnh quan cho Thủ đô Hà Nội trở thành “Thành phố xanh, hòa
bình”… Ngược lại, nông nghiệp Thủ đô Hà Nội với ưu thế trung tâm khoa học đã đi
đầu trong việc tiếp cận các khoa học công nghệ, trong sản xuất các loại giống quý…
đối với nông nghiệp các lân cận.
Đối với Hà Nội, nông nghiệp giữa vai trò cung cấp nông sản đáp ứng nhu cầu
đa dạng, phong phú của hơn 6 triệu dân Thủ đô và một lượng không nhỏ khách
vãng lai. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa (ĐTH) nhanh làm thu hẹp đất sản xuất nông
nghiệp, vai trò này ngày càng bị thu hẹp. Không những vậy, ĐTH công nghiệp hóa


2

(CNH) đã và đang đặt ra những vấn đề về môi trường, lao động việc làm ở các
huyện ngoại thành cần có sự hỗ trợ, liên kết của các tỉnh xung quanh mới có thể giải
quyết được. Ngoài ra, với vị trí là trung tâm kinh tế, khoa học và công nghệ, nông
nghiệp Hà Nội có điều kiện rất thuận lợi tiếp cận các kết quả nghiên cứu của các
trung tâm nghiên cứu chuyên ngành cung cấp cho nông nghiệp, nông thôn Hà Nội
và làm hình mẫu cho nông nghiệp ở các địa phương, nhất là một số tỉnh phụ cận.
Từ những vấn đề thực tế nêu trên thúc đẩy liên kết kinh tế nông nghiệp giữa
Hà Nội và một số tỉnh phụ cận là cấp thiết và có ý nghĩa lớn. Qua quá trình học tập
chuyên ngành quản lý kinh tế và thực tập tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Hà Nội học viên nhận thấy lựa chọn vấn đề: “ Giải pháp liên kết kinh tếNông

nghiệp giữa Hà Nội và một số tỉnh phụ cận ’’ làm luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn
phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu và phần nào có được một số giải pháp để

Theory of Economic Integraion” (Lý thuyết về LKKT) của Besla Balassa, cho rằng:
LKKT hiểu là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các tổ chức kinh tế, các nền kinh
tế lại với nhau. Như vậy LKKT bản chất nhấn mạnh đến hình thức quản trị trong
tổng thể toàn bộ nền kinh tế hay là thể chế để LKKT phát triển.
Douglas C. North, (1998) với nghiên cứu “Istituation, institutional change
and economic performance’’ (Các thể chế, sự thay đổi thể chế và hoạt động kinh tế)
mới chỉ ra được nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đó chính là lượng tăng lên của chi phí
giao dịch - nguyên nhân do giao dịch của con người ngày càng mở rộng phát triển,
trở nên phức tạp; khả năng rủi ro, thất bại vì thế cũng tăng thêm.
2.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Tác giả Trần Đức Thịnh, (1984) với đề tài Luận án Tiến sĩ“ LKKT trong ngành
nuôi ong’’ cho rằng LKKT có hai nhiệm vụ đồng thời là thực hiện cơ chế quản lý
vàtổ chức sản xuất. Quá trình phát triển mở rộng sản xuất và tái sản xuất mở rộng dẫn
đến yêu cầu cần phải LKKT để phát huy và kết hợp mọi lực lượng kinh tế xã hội.
Nghiên cứu đề cập đến nguyên tắc cùng có lợi trong LKKT và đã đề cập đến nhiều
hình thức liên kết kinh tế. Một vài điểm hạn chế của nghiên cứu này là đồng nhất
LKKT với quan hệ kinh tế, LKKT với quan hệ quản lý kinh tế của nhà nước. Mặt
khác các hình thức liên kết được trình bày còn khiêm tốn do bị chi phối bởi thực tiễn
khi đó kế hoạch hóa tập trung bao trùm, tác động toàn bộ nền kinh tế nước ta.
Hoàng Kim Giao, (1989) với công trình nghiên cứu của mình đã trở thành nhà
nghiên cứu về LKKT đã nhấn mạnh “Các hình thức LKKT trong thời kỳ quá độ ở


4

nước ta, chú ý đến liên kết nông nghiệp, liên kết ngành lãnh thổ, liên kết các thành
phần kinh tế”. Nghiên cứu của tác giả về LKKT đã phản ánh và nhấn mạnh các mối
quan hệ kinh tế đặc biệt là các hình thức liên kết, trong lĩnh vực sản xuất kinh
doanh. Hạn chế của tác phẩm này là đã xem LKKT là toàn bộ mối quan hệ kinh tế
trong các hình thức tổ chức LKKT chứ chưa coi LKKT như một loại quan hệ kinh

trong thời gian tới.
Các nghiên cứu về chuỗi giá trị trong ngành hàng, kể cả ngành hàng nông sản
như: “Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ LKKT của các Doanh nghiệp may
xuất khẩu ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Đông, (2010); Kinh nghiệm tham gia vào
chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản’’ PGS.TS Đinh Văn Thành,(2010); Liên kết
dọc trong chuỗi giá trị nông sản: nhìn từ vụ Bianfishco của Trần Tiến Khải. Mặc dù
không phải là những nghiên cứu trực tiếp đến liên kết kinh tế, nhưng những nghiên
cứu này cũng đề cập đến tính tất yếu của liên kết và những vấn đề có tính giải quyết
của liên kết để đạt đến sự tối ưu về giá trị của chuỗi ngành hàng nói chung, ngành
hàng nông sản nói riêng.
Chủ đề LKKT còn được các nhà khoa học khác khá quan tâm như: PGS.TS
Phan Công Nghĩa (2008) với đề tài cấp Bộ “Tăng cường LKKT giữa Hà Nội và các
tỉnh thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ’’ đã chỉ ra được mối liên kết
ttrong các ngành kinh tế; Hồ Quế Hậu,(2007) “Hoàn thiện mô hình LKKT giữa
doanh nghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải ở Việt Nam năm’’; PGS.TS Ngô
Thắng Lợi,(2010), “Phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm
2020”; Các công trình này đã phần nào đề cập đến các nội dung có liên quan về
LKKT nói chung và liên kết nông nghiệp nói riêng. Phản ánh được các lý luận, thực
trạng và đưa ra các kiến nghị giải pháp về LKKT và LKKT nông nghiệp. Tác động
của thế giới và thực tiễn tại Việt Nam về các khả năng LKKT và liên kết kinh tế
nông nghiệp (KTNN)…
Như vậy qua tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy: LKKT giữa
nông nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận là một bộ phận của LKKT nói chung,
tuy nhiên nó có những đặc điểm và vấn đề riêng của nó. Các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước không trực tiếp đề cập đến vấn đề LKKT nông nghiệp giữa thủ đô và
một số tỉnh phụ cận mà chỉ tập trung bàn về hình thức liên kiết, LKTT ngành nông
nghiệp…Từ nhiều giác độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích các


6

7

5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp tiếp cận
Đối tượng nghiên cứu là LKKT nông nghiệp Hà Nội và nông nghiệp các tỉnh
phụ cận. Vì vậy, đề tài tiếp cận LKKT nông nghiệp Hà Nội và một số tỉnh phụ cận;
trong đó, các vấn đề LKKT đã được tiếp cận là:
+ Tiếp cận LKKT giữa nông nghiệp Hà Nội và một số tỉnh phụ cận theo chiều
ngang và theo chiều dọc.
+ Tiếp cận theo 2 nhóm chủ thể liên kết: Liên kết giữa các chủ thể thông qua
các hoạt động quản lý của nhà nước (NN) như: quy hoạch, kế hoạch, các cam kết,
sự phối sự phối hợp quản lý và LKKT giữa các chủ thể kinh doanh (hộ nông dân,
các trang trại, các cơ sở chế biến, các HTX và các doanh nghiệp tư nhân…) thông
qua liên doanh liên kết, hợp đồng kinh tế…
*Tiếp cận theo không gian: tiếp cận mối liên kết theo không gian kinh tế 2
chiều, một bên là kinh tế nông nghiệp Thủ đô Hà Nội, bên kia là nông nghiệp của
một số tỉnh phụ cận.
Đề tài cũng đã xem xét các chủ thể LKKT vĩ mô, vi mô trong mối liên hệ giữa
kinh tế nông nghiệp Hà Nội và một số tỉnh phụ cận để tiếp cận và nghiên cứu một
cách trực tiếp các mối quan hệ liên kết theo không gian rộng của phạm vi nghiên cứu.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp chuyên giađược sử dụng trong việc
thu thập và lựa chọn các thông tin thứ cấp có liên quan đến luận văn. Bên cạnh đó,
các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: Tổng cục thống
kê; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Các báo cáo của Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, … thành phố Hà Nội và một số tỉnh phụ cận; các trang Web;
các sách, báo và tạp chí đã xuất bản...
Ngoài ra, đề tài đã khảo nghiệm các mô hình LKKT nông nghiệp giữa thủ đô
các nước với một số tỉnh phụ cận.
Đặc biệt, đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia để tiếp cận các tri thức và


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP THỦ ĐÔ VÀ MỘT SỐ TỈNH PHỤ CẬN
1.1. Khái niệm liên kết kinh tế nông nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận
1.1.1. Khái niệm LKKT theo vùng
Theo ngôn ngữ Latinh “liên kết kinh tế” được viết: “Intergration” hiểu là sự
kết hợp, hòa hợp, hợp nhất.
Trong đề tài cấp nhà nước của giáo sư Hoàng Kim Giao về “ Liên kết kinh tế”
cho rằng: “Có thể hiểu LKKT là một pham trù kinh tế phản ánh các mối quan hệ
kinh tế về hiệp tác, liên doanh, liên hiệp hóa trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của
quá trình tái sản xuất xã hội giữa các ngành kinh tế, giữa các cơ sở sản xuất kinh
doanh, giữa các vùng kinh tế và các địa phương, giữa các thành phần kinh tế trong
nước và các nước với nhau nhằm phát triển hơn nữa sức sản xuất và đạt hiệu quả
kinh tế cao hơn”.
GS.TS Nguyễn Đình Phan quan niệm rằng: “LKKT là một phạm trù biểu hiện
sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân, các tổ chức, hoặc giữa các quốc gia trong
các lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế nhằm thực hiện những mục tiêu nhất
định với hiệu quả kinh tế cao nhất. Các quan hệ đó có thể diễn ra trong phạm vi
từng nước hoặc giữa các tổ chức, cá nhân, Nhà nước thuộc các nước khác nhau để
mở rộng thành LKKT giữa các nước”.
Quyết định 38/HĐBT ngày 10/4/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về LKKT
trong sản xuất, lưu thông,… ghi: “LKKT là những hình thức phối hợp hoạt động do
các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ
trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của mình, nhằm
thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng có lợi nhất”.
Từ các quan niệm trên có thể hiểu: LKKT là hình thức phối hợpc giữa hai hay
nhiều chủ thể quản lý kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế nhằm mang lại lợi
ích nhiều hơn cho tất cả các bên tham gia. Mục tiêu của LKKT là nhằm phát huy


công và hợp tác lao động trong liên minh. Liên kết ở tầm vĩ mô là tiền đề tốt để thúc
đẩy thiết lập và mở rộng các quan hệ LKKT ở tầm vi mô, tầm doanh nghiệp. Cho


11

dù là liên kết ở tầm nào đi nữa, thì mục đích suy nhất của nó cũng là tiết kiệm chi
phí và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hạn chế nhờ hạn chế cạnh tranh và phát huy
hiệu quả theo quy mô
1.1.2. Khái niệm LKKT nông nghiệp theo vùng
LKKT nông nghiệp theo vùng có phạm vi hẹp hơn LKKT theo vùng về nội
dung của các ngành, lĩnh vực liên kết. Nếu liên kết kinh theo vùng là sự liên kết rộng
của tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, còn LKKT ở tất cả các ngành kinh
tế thì LKKT nông nghiệp chỉ diễn ra trong ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng hoặc
theo nghĩa hẹp), nhưng ở phạm vi ngành hàng nông sản. Với phân tích đó, có thể
hiểu: LKKT nông nghiệp theo vùng là mối quan hệ liên kết trong việc sản xuất, chế
biến, tiêu thụ, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ chế chính sách… trong vùng
hướng tới mục tiêu triển khai các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tạo ra của cải
cho xã hội, mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường.
Nông nghiệp là ngành có nhiều đặc điểm có tính đặc thù, trong đó đặc điểm
về đối tượng sản xuất là cơ thể sống và hoạt động diễn ra trên không gian rộng là
những đặc điểm chi phối đến quá trình LKKT nông nghiệp theo vùng và đào tạo
nên những đặc điểm khác biệt của liên kết nông nghiệp theo vùng so với sự liên
kết theo vùng của các ngành khác theo cùng không gian, trong cùng những điều
kiện kinh tế - xã hội khác.
Đặc điểm nổi bật của LKKT nông nghiệp theo vùng phụ cận là tính chất liên
kết chặt chẽ, nhất là trong điều kiện của sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Tính chất
chặt chẽ của LKKT nông nghiệp vùng phụ cận vì sự giao thương nông sản, với tính
chất là các sản phẩm tươi sống. Nếu sự phối hợp giữa các chủ thể sản xuất, chế biến
và tiêu thụ nông sản không chặt chẽ sẽ làm cho chất lượng sản phẩm bị giảm sút, an

các mối quan hệ của nông nghiệp thủ đô và vai trò phối hợp của nông nghiệp các
tỉnh phụ cận. Bởi vì, nông nghiệp thủ đô có những điều kiện thuận lợi phát triển.
Thủ đô là thị trường lý tưởng với nhu cầu nông sản cao, sức mua lớn đối với nông
nghiệp các tỉnh phụ cận.
+ Tính Thủ đô với các đặc điểm trên là sự khác biệt trong các mối quan hệ liên
kết giữa nông nghiệp thủ đô với nông nghiệp các tỉnh phụ cận, trong đó tính chủ
động của nông nghiệp thủ đô, tính phối hợp trong liên kết; sự khắt khe của chất
lượng nông sản của thị trường có sức mua cao, bộ mặt của cả nước trong mối quan


13

hệ giao dịch quốc tế là những đặc điểm tạo sự khác biệt trong LKKT theo vùng
nông nghiệp.
1.2. Nguyên tắc của LKKT giữa nông nghiệp thủ đô với
nông nghiệp các tỉnh phụ cận
LKKT nông nghiệp theo vùng và LKKT giữa nông nghiệp thủ đô và một số
tỉnh phụ cận đều là liên kết giữa các chủ thể kinh tế. Vì vậy, chúng dựa trên những
nguyên tắc của LKKT và có những biểu hiện đặc thù ở những cấp độ liên kết kinh
tế cụ thể như sau:
(i) Đảm bảo tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh
Liên kết dưới bất kỳ hình thức và mức độ nào thì vẫn phải đảm bảo sản xuất
và kinh doanh của các chủ thể tham gia không ngừng được phát triển, doanh thu
ngày càng tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao. LKKT phải được
nâng cao trình độ và công nghệ, mở rộng mặt hàng, sản xuất ngày càng phù hợp với
nhu cầu thị trường, giá thành hạ, đem lại lợi nhuận cho các chủ thể trên cơ sở giá
bán và chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận.
Theo nguyên tắc của sự liên kết chung trên, LKKT nông nghiệp theo vùng,
đặc biệt là LKKT giữa nông nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận cần phải được
tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Bởi vì, tính chất sản xuất hàng hóa của nông nghiệp

LKKT xét về bản chất là sự hợp tác trong hoạt động kinh tế. Hợp tác được
thực hiện dựa trên nguyên tắc tự nguyện. Các bên tham gia chủ động, tự giác trong
mối quan hệ hợp tác nhằm phát huy hết thế mạnh, đồng thời bù đặp những hạn chế
của mình, không phân biệt thành phần kinh tế, quy mô lớn nhỏ, trong nước hay ngoài
nước…
Nguyên tắc này quy định trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong việc thực
hiện liên kết kinh tế, cùng hưởng lợi đồng thời cũng chia sẻ những rủi ro nếu có
trong quá trình liên kết kinh tế. Từ đó các hoạt động hợp tác, LKKT giữa các chủ
thể tham gia được thực hiện một cách thuận lợi, trôi chảy, thành công và đem lại
hiệu quả cao khi các chủ thể tự nguyện tìm đến với nhau, tự thỏa mãn quan hệ hợp
tác, liên kết làm ăn với nhau lâu dài trên tinh thần bình đẳng, cùng chịu trách nhiệm
đến cùng về các thành công cũng như thất bại, rủi ro.
Đối với LKKT giữa nông nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận ngoài sự tự
nguyện thì cần phải tự chịu trách nhiệm là một trong các nguyên tắc quan trọng.


15

Điều này cũng xuất phát từ vai trò của các sản phẩm nông nghiệp, với tư cách là các
sản phẩm thiết yếu, đáp ứng nhu cầu sống còn của các tầng lớp dân cư của thủ đô và
các tỉnh phụ cận. Vì vậy, trong phạm vi liên kết mỗi chủ thể phải thực hiện tốt và
đảm bảo tính trung thực trong dây chuyền sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Không phải ngẫu nhiên, yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm được xem xét
trong liên kết kinh tế được coi như là khâu kiểm định trách nhiệm của từng tổ chức
và cá nhân trong ngành hàng nông sản.
1.3. Vai trò của LKKT giữa nông nghiệp thủ đô với một số tỉnh phụ cận
(i) Vai trò đối với kinh tế
LKKT nói chung, giữa nông nghiệp thủ đô với nông nghiệp và một số tỉnh phụ
cận nếu thực hiện đúng các nguyên tắc trên sẽ mang lại những lợi ích kinh tế cho
các bên tham gia. Cụ thể:

đáp ứng nhu cầu về nông sản ngày càng cao của dân cư. Thủ đô với tư cách là trung
tâm chính trị, văn hóa và kinh tế (đối với một số quốc gia)… nên có thu nhập và
nhu cầu về đời sống vật chất tinh thần cao. Nhu cầu về nông sản của thủ đô không
chỉ tăng về số lượng và chủng loại mà còn cao về chất lượng. Vì vậy, LKKT giữa
nông nghiệp thủ đô với nông nghiệp một số tỉnh phụ cận còn giúp doanh nghiệp mở
rộng thị trường, chinh phục các thị trường mới, nhất là thị trường khu vực với chi
phí tối thiểu.
- LKKT giữa nông nghiệp thủ đô với nông nghiệp một số tỉnh phụ cận nói
riêng còn giúp doanh nghiệp san sẻ rủi ro trong hoạt động sản xuất, nhất là trong
điều kiện thị trường toàn cầu với nhiều biến động phức tạp.
(ii) Vai trò đối với xã hội
LKKT giữa nông nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận nếu thực hiện đúng các
nguyên tắc trên không chỉ lại những lợi ích kinh tế cho các đối tượng tham gia, mà
còn mang lại lợi ích về mặt xã hộitrên các mặt như:
+ Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông nghiệp, cả khi
doanh nghiệp hay địa phương gặp thuận lợi và khó khăn.
+ Đáp ứng khả năng cung ứng và tiêu dùng hàng hóa trên thị trường góp phần
bình ổn thị trường, nhất là thị trường thủ đô.
+ Gắn kết các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp với nhau.
+ Thực thi một cách đồng nhất các chính sách của nhà nước.


17

Những lợi ích đó có thể tác động dây chuyền từ những lợi ích về mặt kinh tế
mang lại, nhưng cũng có những lợi ích về mặt xã hội do chính những ưu việt của
LKKT mang lại.
(iii) Vai trò đối với môi trường
Lợi ích của LKKT giữa nông nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận được thể
hiện trên các mặt như: Khai thác được lợi thế của từng địa phương; hạn chế những

Nông nghiệp là ngành có sự gắn chặt với các điều kiện tự nhiên do hoạt động
ngoài trời, trên không gian rộng lớn. Vì vậy, LKKT nông nghiệp theo vùng là yêu
cầu khách quan và từ yêu cầu này đã nảy sinh các nội dung của quản lý nhà nước
đối với ngành hàng nông nghiệp. Có thể xem xét nội dung của các mối quan hệ liên
kết nông nghiệp theo vùng và giữa nông nghiệp thủ đô và các tỉnh phụ cận qua các
hoạt động cụ thể sau:
- Liên kết trong quy hoạch về tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển nông
nghiệp theo vùng.
Quy hoạch nông nghiệp theo vùng là bố trí các nguồn lực vào ngành hàng
nông sản theo vùng hoặc giữa các tỉnh, thành phố liền kề của vùng. Mục tiêu quy
hoạch nông nghiệp theo vùng là phối hợp sử dụng có hiệu quả nguồn lực, tránh
những xung đột trong khai thác nguồn lực. Cơ sở của sự phối hợp là khai thác lợi
thế của từng địa tỉnh và hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững.
Để thực hiện liên kết nông nghiệp theo vùng, đặc biệt là liên kết giữa nông
nghiệp thủ đô với các tỉnh phụ cận hoặc các tỉnh thuộc vùng cần thành lập các cơ
quan quản lý vùng hay các tổ chức có tính chất nghiên cứu và tư vấn của vùng. Ví
dụ: Đối với vùng ĐBSH, Chương trình phát triển vùng đã được hình thành. Văn
phòng dự án Quy hoạch ĐBSH dưới sự quản lý của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư và cơ
quan chủ trì là Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường. Dưới sự chủ trì của các tổ
chức đó là bản Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH thời kỳ
1996 -2010 đã được triển khai và phê duyệt. Tiếp đó ngày 23 tháng 5 năm 2013,
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
vùng ĐBSH đến năm 2020.Trong các bản quy hoạch đó, các vấn đề về kinh tế - xã
hội, đặc biệt là vấn đề về LKKT nông nghiệp giữa các tỉnh, thành phố trong vùng
ĐBSH đã được đề cập và định hướng phát triển.
Có thể nói, quy hoạch theo phạm vi vùng là nền móng cho định hướng phát
triển nông nghiệp của các tỉnh, thành phố của vùng. Đặc biệt đó là cơ sở quan trọng


19


20

Đối với các hoạt động bảo vệ thực vật, thú y: LKKT giữa nông nghiệp các tỉnh
dẫn đến các nguồn lực và kết quả hoạt động nông nghiệp được trao đổi giữa các địa
phương. Đây là nguy cơ về sự lan truyền về sâu, bệnh đối với cây trồng và dịch
bệnh đối với gia súc, gia cầm. Phối hợp trong tổ chức phòng bệnh và khống chế khi dịch
bệnh phát sinh là những hoạt động liên kết chủ yếu trong phòng chống dịch bệnh.
Đối với quản lý tài nguyên nước và các nguồn lực khác: Sự phối hợp giữa các
cơ quan quản lý nhà nước của thủ đô và một số tỉnh phụ cận được thể hiện ở bố trí
khai thác các nguồn lực thông qua quy hoạch chung, giám sát triển khai thực hiện
quy hoạch nhằm sử dụng có hiệu quả, đặc biệt là giảm thiểu ô nhiễm, duy trì nguồn nước.
Xét trên phương diện này sự liên kết được mở rộng đối với các địa phương
thuộc lưu vực các dòng sông, các quốc gia, các địa phương thuộc lưu vực sông Mê
Kông, lưu vực sông Hồng; có sự phối hợp của nhiều ngành như thủy điện và thủy
nông trong mở nước phục vụ sản xuất nông nghiệp vào vụ Đông Xuân hàng năm…
Đối với nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ: Sự liên kết
bắt nguồn từ ưu thế của nông nghiệp thủ đô so với một số tỉnh lân cận. Với ưu thế là
trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ, với sự tập trung của các trường đại học,
các viện nghiên cứu, nông nghiệp thủ đô có điều kiện tiếp cận công nghệ mới và tập
trung vào tiếp nhận các tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào hoạt động sản xuất
nông nghiệp.
Với ưu thế này, nông nghiệp thủ đô cần liên kết, chuyển giao cho một số tỉnh
phụ cận, giúp nông nghiệp các tỉnh phát triển, làm tròn sứ mạng sản xuất nông sản
đáp ứng yêu cầu cư dân thủ đô với số lượng và chất lượng cao.
Để hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ vào các khâu của
sản xuất nông nghiệp, đến các chủ thể kinh doanh nông nghiệp không thể thiếu vai
trò quản lý nhà nước và sự liên kết trong hoạt động quản lý nhà nước giữa nông
nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận.
Tổ chức liên liến kết trong quản lý nhà nước đối với nghiên cứu và chuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status