Rèn kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học dành cho HSG ngữ văn - Pdf 60

MỤC LỤC


Chuyên đề:
RÈN KĨ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO HSG NGỮ VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU
I.

Lí do chọn chuyên đề

Có thể nhận thấy rằng, ở nhà trường phổ thông, văn nghị luận văn học luôn chiếm
một vị trí quan trọng trong toàn thể chương trình Ngữ văn. Kiến thức và kỹ năng học
được trong quá trình học tập về văn nghị luận không chỉ giúp cho học sinh có khả năng
làm văn mà còn hình thành năng lực tư duy và sự thành công trong giao tiếp.Bên cạnh
đó làm văn nghị luận văn học từ lâu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cấu
trúc đề thi tuyển sinh các cấp, đề thi học sinh giỏi các cấp. Vì vậy, rèn luyện làm văn
nghị luận là một đòi hỏi thực sự cần thiết đối với học sinh trung học nói chung,đối với
học sinh giỏi nói riêng.
Việc rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh là một yêu cầu cần thiết, quan trọng
hoạt động dạy học Ngữ vănnhất là trong bối cảnh Bộ GD&ĐT chủ trương đổi mới
phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá các môn khoa học xã hội (trong đó có
Ngữ văn) theo tinh thần “... nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng
cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học sinh được bày tỏ
chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội”. Do đó, rèn kĩ năng làm văn
nghị luận với đặc trưng riêng của kiểu bài này hẳn là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng.
Bồi dưỡng học sinh giỏi văn là công việc khó khăn và đòi hỏi nhiều công sức của
thầy và trò.Dạy học sinh kĩ năng nghị luận văn học là một trong những khâu quan trong
có ý nghĩa đối với kết quả thi HSG văn. Nghị luận văn học tuy là một kiểu văn bản
không có gì xa lạ trong trường phổ thông nhưng về phía giáo viên, nhất là với các thầy
cô giáo tham gia bồi dưỡng HSG vẫn còn nhiều khó khăn khi đứng trước kiểu bài này.

bản sau đây:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
+ Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm


V. Cấu trúc của đềchuyên đề

Nội dung của chuyên đề bao gồm 3 phần:
Chương I. Một số vấn đề chung về văn nghị luận văn học và dẫn chứng trong văn
nghị luận.
Chương II: Rèn kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng
Chương III: Ứng dụng kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng qua một số dạng đề thi
học sinh giỏi thường gặp.


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
I.

Văn nghị luận và nghị luận văn học

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghị luận: Bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào
đó. Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích giải quyết một vấn
đề”.
Từ điển thuật ngữ văn học cũng nêu rõ: “Văn nghị luận: Thể văn nghị luận viết về
những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, xã hội, triết
học, văn hoá. Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê bình hay truyền bá
tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó.Đặc trưng cơ bản nhất của văn chính luận
là tính chất luận thuyết.Văn chính luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ
yếu bằng lập luận, lí lẽ”.

Nội dung và cấu trúc của một văn bản nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ
bản là: Vấn đề cần nghị luận (luận đề), luận điểm, luận cứ và lập luận.
+ Luận điểm: Là tư tưởng, quan điểm được nêu ra trong bài viết
+ Luận cứ (luận chứng): Bao gồm lí lẽ và dẫn chứng. Luận cứ giúp thể hiện tính
đúng đắn của một khẳng định được nêu ra trong bài nhằm khẳng định hay phản bác lại
một vấn đề nào đó.
+ Lập luận: Là cách sắp xếp bố cục chặt chẽ, hợp lí, giúp cho bài văn trôi chảy,
mạch lạc.
Yêu cầu của một bài văn nghị luận là phải đúng hướng, trật tự, mạch lạc, trong
sáng, sinh động, hấp dẫn, sáng tạo nhằm thuyết phục người đọc, người nghe đồng tình
với tư tưởng, quan điểm được nêu ra trong bài viết. Văn nghị luận phải có luận điểm rõ
ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục. Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị
luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, xã hội thì mới có ý
nghĩa.
Nhìn từ nội dung đề tài ta có thể chia văn nghị luận thành 2 loại lớn:


1. Nghị luận văn học
Là những bài văn bàn về các vấn đề văn chương - nghệ thuật, phân tích, bình luận
về vẻ đẹp của tác phẩm văn học, trao đổi về một vấn đề lí luận văn học hoặc làm sáng tỏ
một nhận định văn học.
2. Nghị luận xã hội
Theo từ điển từ và ngữ Hán Việt, nghị luận là dùng lí luận để phân tích ý nghĩa phải
trái, bàn bạc, mở rông vấn đề.Còn xã hội trước hết là một tập thể người cùng sống, gắn
bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan hệ khác. Cũng có thể hiểu xã hội là
những gì thuộc về quan hệ giữa người và người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học,
lịch sử, văn học, ngôn ngữ… Từ đó có thể hiểu nghị luận xã hội là những bài văn bàn về
các vấn đề xã hội- nhân sinh, một tư tưởng đạo lí, một lối sống cao đẹp, một hình tượng
tích cực hoặc tiêu cực của đời sống, một vấn đề của tự nhiên, môi trường. Mục đích cuối
cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa

thuyết phục, hấp dẫn cho hệ thống lập luận. Nếu không có dẫn chứng, những lí lẽ được
đưa ra dù hay và sắc sảo đến đâu thì vẫn không đủ sức thuyết phục và không thể tác
động mạnh mẽ đến người đọc, người nghe và bài văn nghị luận sẽ trở thành những lời
bàn luận mang tính chất là những khái niệm, lí thuyết suông, người đọc sẽ không tin vào
lí lẽ vì thiếu minh chứng, bài văn nghị luận sẽ trở thành diễn thuyết. Hoặc nếu chỉ nói
dựa trên quan điểm cá nhân thì bài viết sẽ rất đơn điệu.
Bên cạnh đó việc đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận giúp cho bài làm sinh động,
hấp dẫn; giúp cho vấn đề nghị luận trở nên rõ ràng và có chiều sâu hơn; bài làm văn dễ
triển khai được nhiều ý hơn, dài hơn. Muốn có điểm sáng tạo, theo nhiều giám khảo
chấm, yêu cầu đầu tiên là học sinh phải có liên hệ, dẫn chứng phong phú vào bài làm của
mình.
Dù đề bài yêu cầu thao tác nghị luận nào thì việc đưa dẫn chứng vào bài đều rất cần
thiết.Ví dụ đề bài thường yêu cầu giải thích, chứng minh hay bình luận.
Với thao tác giải thích, người viết đi sâu vào những câu nói có hàm ý súc tích nhằm
tìm hiểu cũng như lý giải các nội dung bên trong câu nói đó. Làm sáng tỏ, giảng giải một
cách tường tận vấn đề cho người đọc hiểu được thấu đáo cái đang được đề cập khi chúng
còn đang mơ hồ. Để vấn đề được sáng tỏ, ta phải bắt tay vào lý giải những từ ngữ, điển
tích, khái niệm, tìm hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa mở rộng, đi vào những
cách nói tế nhị để hiểu được rõ điều người ta muốn và cái lẽ khiến cho người ta nói như


vậy.
Trong thao tác giải thích, dùng lý lẽ để phân tích và lý giải là hoạt động chủ yếu.
Bên cạnh đó phải vừa dùng các dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập một cách hiểu
đúng đắn có tính biện chứng nhằm chống lại các cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ, hoặc
không hiểu hết ý
Yêu cầu đặt ra với thao tác chứng minh là làm sáng tỏ chân lý bằng các dẫn chứng
và lý lẽ. Khi ta đã chấp nhận cái chân lý thể hiện trong một phát ngôn nào đó, nhiệm vụ
là ta sẽ phải thuyết phục người khác cũng chấp nhận như mình bằng những dẫn chứng
rút ra từ thực tế cuộc sống xưa và nay, từ lịch sử , từ văn học (nếu đề yêu cầu) và kèm

ấy ra sao. Làm thế nào để học sinh có cách viết hợp lý, thuyết phục trước một đề văn, đó
cũng chính là một trong những nhiệm vụ chính của khâu rèn kĩ năng cho học sinh mà
trong đó rèn luyện kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng là rất quan trọng để góp phần
làm nên một bài văn mang tính thuyết phục cao.
Thực tế cho thấy, từ trước đến nay, phần lớn các giáo viên dạy các chuyên đề về
văn nghị luận cho HSG văn thường tập trung vào các kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý,
tìm ý, viết đoạn và liên kết đoạn mà chưa dành nhiều thời gian cho việc rèn kĩ năng chọn
và phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học. Nhiều bài làm của học sinh
không đạt yêu cầu do dẫn chứng nghèo nàn, thiếu chính xác và không theo trình tự…
Việc phân tích dẫn chứng thì lại chỉ là sự suy diễn một cách nôm na, thiếu chính xác,
không sâu sắc. Khi làm bài nghị luận văn học, các em học sinh đều có điểm giống nhau
là đã được trang bị kiến thức rất kĩ qua các giờ đọc - hiểu văn bản văn học, việc xem khả
năng của ai hơn ai dựa vào kỹ năng làm văn nghị luận văn học để tái hiện lại kiến thức
ấy thông qua cảm quan của cá nhân. Vì thế việc chọn và phân tích dẫn chứng cũng rất
quan trọng.
Những năm gần đây, có thể nhận thấy, trong đề thi học sinh giỏi quốc gia môn Ngữ
văn, phần câu hỏi nghị luận văn học thường có dạng đưa ra nhận định và yêu cầu học
sinh bình luận. Trong đó có thể quan sát thấy hầu hết các đề đều không nêu yêu cầu cụ
thể, không giới hạn về ngữ liệu phân tích, chứng minh. Yêu cầu chung của các dạng đề
này là bằng trải nghiệm văn học, sự hiểu biết về các tác phẩm văn học của mình để chọn
dẫn chứng là các tác phẩm nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Để giải quyết các dạng đề này, yêu
cầu học sinh phải biết kết hợpvận dụng thao tác giải thích để xác định vấn lí luận văn
học được nêu ra và lựa chọn đúng, hợp lí dẫn chứng chứng minh. Phần phân tích và


chứng minh trong bài văn nghị luận chiếm một vị trí quan trọng quyết định việc bài văn
có được triển khai đúng hướng vấn đề có được sáng rõ hay không và chỉ ra cho người
chấm thấy được khả năng cảm thụ văn chương của học sinh như thế nào. Điều đó cho
thấy sự cần thiết của hệ thống dẫn chứng.Nhận thức được tầm quan trọng của việc lựa
chọn dẫn chứng, ngữ liệu phân tích, chứng minh trong bài văn sẽ khiến cả giáo viên và

Trở lại hai ví dụ ở trên, ta thấy ở ví dụ 1, dẫn chứng mở rộng chính là các tác
phẩm khác trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh.Ở ví dụ 2, người viết
có thể liên hệ với nhiều nhà thơ khác cùng viết về mùa thu để so sánh, đối chiếu,
làm nổi rõ những nét đặc sắc của mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến.
2 Nguyên tắc chọn dẫn chứng
2.1 Dẫn chứng phải phù hợp với luận điểm
Đây là yêu cầu về chất của dẫn chứng.Dẫn chứng phù hợp là đúng với yêu cầu
cần giải quyết, không lạc khỏi vấn đề và những yêu cầu của đề bài.Có rất nhiều
trường hợp học sinh viết luận điểm một đường mà đưa ra dẫn chứng một nẻo dẫn
đến trường hợp “lạc trôi”.
Ví dụ:
Âm nhạc là nghệ thuật gắn bó với con người từ khi lọt lòng mẹ cho tới lúc từ
biệt cuộc đời. Ngay từ lúc chào đời, em bé đã được ôm ấp trong lời ru nhẹ nhàng
của người mẹ; lớn lên với những bài hát đồng dao; trưởng thành với những điệu hò
lao động, những khúc tình ca vui buồn, với biết bao sinh hoạt nghệ thuật ca hát từ
thôn xóm đến thành thị. Người Việt Nam chúng ta, cho tới lúc hết cuộc đời vẫn còn
tiếng nhạc vẳng theo với những điệu hò đưa linh hay điệu kèn đưa đám.
Để làm sáng tỏ cho luận điểm: Âm nhạc là nghệ thuật gắn bó với con người
từ khi lọt lòng mẹ cho tới lúc từ biệt cuộc đời, người viết đã sử dụng các dẫn chứng
rất phù hợp để nói lên sự gắn bó của âm nhạc với cuộc sống con người rừ lúc chào
đời cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.


2.2 Dẫn chứng phải tiêu biểu, chọn lọc
Ngoài việc đưa dẫn chứng phong phú, người viết còn cần biết chọn lọc dẫn
chứng, ưu tiên những dẫn chứng điển hình và tiêu biểu.Thông thường, học sinh
thường chọn những dẫn chứng quen thuộc.Những dẫn chứng đã được người ta nói
nhiều, viết nhiều nên đâm ra nhàm chán, thiếu tính hấp dẫn.Chưa kể những dẫn
chứng đó chưa phải là dẫn chứng tiêu biểu nên không đủ sức thuyết phục.
Ví dụ: “Thơ là thơ, đồng thời là họa, là nhạc, là chạm khắc theo một cách

Ví dụ 1: Với đề văn “Sức hấp dẫn từ truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch
Lam”, người viết cần phải chọn các chi tiết về nội dung và cả hình thức nghệ thuật
để làm sáng tỏ sức hấp dẫn của tác phẩm, nếu chỉ là một trong hai yếu tố thì dẫn
chứng chưa đầy đủ và toàn diện.
Ví dụ 2: Anh (chị) có suy nghĩ như thế nào về ý kiến: “Điều còn lại đối với
mỗi nhà văn chính là cái giọng nói của riêng mình”. Đối với đề văn trên, người viết
chủ động chọn dẫn chứng, để đảm bảo tính toàn diện của dẫn chứng thì nên đa dạng
trong các dẫn chứng. Chọn dẫn chứng về thơ, truyện, dẫn chứng văn học Việt Nam,
văn học nước ngoài.
Tuy nhiên đủ không có nghĩa là nêu dẫn chứng tràn lan hay mang tính chất
quân bình, mà ta nên tìm cách kết hợp diện với điểm, vừa đảm bảo đầy đủ các mặt,
vừa tập trung vào một số điểm mấu chốt.
Dẫn chứng chính xác là phải đúng với thực tế hoặc đúng ý, đúng nguyên bản,
tác giả.Nếu không đảm bảo được yếu tố chính xác, dẫn chứng sẽ không làm sáng rõ
được luận điểm. Đối với dẫn chứng là thơ, người viết cần trích dẫn đúng nguyên
văn.Đối với văn xuôi thì tóm lược ý nhưng cần đảm bảo tính chính xác về nội dung,
tác giả, tác phẩm. Có không ít trường hợp trích dẫn sai dẫn chứng, chẳng hạn như
trường hợp trích dẫn ngữ liệu từ bài thơ “Tràng giang” của tác giả Huy Cận: “Nắng
xuống, trời lên cao chót vót” (Đúng phải là “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”);
câu thơ “Lòng quê dợn dợn vời con nước” thì các bạn học sinh thường đổi hai từ


“dợn dợn” thành “dờn dợn”, hoặc nhầm lẫn về chi tiết, cốt truyện trong “Vợ chồng
A Phủ”: Mị vốn là người yêu của A Phủ nhưng bị A Sử bắt về làm vợ.
Những sai sót này ảnh hưởng khôngnhỏ đến tính thuyết phục của bài văn nghị
luận. Do đó, chúng ta cần nắm dẫn chứng một cách chính xác, rõ ràng.
3 Sắp xếp dẫn chứng
Khi đã chọn lựa được dẫn chứng, thì việc sắp xếp dẫn chứng cũng rất quan
trọng.Người viết phải biết đặt dẫn chứng cho trúng, sắp xếpcái nào trước, cái nào
sau.Tùy mục đích, yêu cầu nghị luận, có thể sắp xếp dẫn chứng theo trình tự thời

ấn vùng miền khá rõ nét. Bởi vậy khi chọn và sắp xếp dẫn chứng, người viết cũng
có thể sắp xếp theo trình tự không gian này để tạo ra được sự đa dạng phong phú
trong bài viết của mình. Ví dụ với những vấn đề nghị luận có tính chất tổng hợp,
khái quát cao như “Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thơ ca 1945-1975” hay
“Tình yêu quê hương đất nước trong các sáng tác từ 1945-1975” người viết có thể
sắp xếp dẫn chứng theo trình tự không gian vùng miền này.
Bên cạnh đó, trình tự không gian còn hiểu rộng hơn đó là không gian giữa dân
tộc này và dân tộc khác, giữa văn học trong nước và văn học nước ngoài.Một bài
văn nghị luận đảm bảo tính toàn diện phải luôn có sự đăng đối trong việc lựa chọn
dẫn chứng.Trật tự sắp xếp thông thường là trích dẫn văn học trong nước trước sau
đó là trích dẫn văn học nước ngoài. Ví dụ, khi làm các đề văn về phong cách văn
học, người viết sẽ chọn các tên tuổi lớn của Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề nghị
luận như Xuân Diệu, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu nhưng cũng không nên quên
các tác giả văn học nước ngoài như Victo Hugo, Banzac, Sekhov.
3.3 Sắp xếp dẫn chứng theo trình tự các khía cạnh của vấn đề
Có những vấn đề nghị luận muốn làm sáng tỏ thì phải mổ xẻ từng khía cạnh
bởi thế việc trình bày dẫn chứng cũng theo trình tự các khía cạnh của vấn đề. Ví dụ


muốn làm rõ phong cách nghệ thuật của nhà văn Thạch Lam trong tác phẩm “Hai
đứa trẻ” người viết sẽ phải sắp xếp hệ thống dẫn chứng theo từng khía cạnh cụ thể
như:
- Miêu tả thế giới nội tâm, gợi xúc động những hình thái mơ hồ, mong manh
trong lòng người.(Những dòng viết về tâm trạng của nhân vật Liên với bao buồn vui lẫn
lộn, nhiều xao xác bâng khuâng. Trời tối dần, Liên ngồi nhìn phố huyện, không hiểu sao
là chị thấy lòng “buồn man mác". Ngồi đợi tàu trong màn đêm, dưới ngàn sao lấp lánh,
và ánh sáng của những con đom đóm nhấp nháy, tâm hồn Liên "yên tĩnh hẳn”. Tàu đến,
Liên vội đánh thức em dậy, hai chị em nhìn đoàn xe vút qua, nhìn theo cái chấm nhỏ đèn
xanh, xa mãi dần khuất sau rặng tre. Liên cầm tay em, "lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa
xăm. Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo". Liên nhớ lại kí ức tuổi thơ và ước vọng.

Như vậy, có rất nhiều hình thức trích dẫn trong một văn bản nghị luận, người viết
cần căn cứ vào yêu cầu của đề vào hệ thống luận điểm và cách lập luận để lựa chọn hình
thức trích dẫn phù hợp.Trong một bài viết có thể phối hợp nhiều hình thức trích dẫn tạo
nên sự sinh động, hấp dẫn cho bài văn tránh tình trạng đơn điệu, nhàm chán khi chỉ sử
dụng một cách đưa dẫn chứng.


2 Cách phân tích dẫn chứng
2.1 Các lỗi thường mắc phải khi phân tích dẫn chứng
Việc lựa chọn và trích dẫn dẫn chứng là vấn đề quan trọng đầu tiên nhưng yếu tố
quyết định sự thuyết phục của lập luận là phân tích dẫn chứng.Nêu dẫn chứng phải kèm
theo phân tích, bình phẩm. Nếu không bài nghị luận sẽ biến thành bảng liệt kê dẫn
chứng đơn thuần. Có phân tích bình phẩm thì từ dẫn chứng ta mới làm toát lên được vấn
đề cần nói.Tuy nhiên, trong các bài nghị luận văn học, người viết thường mắc khá nhiều
lỗi trong việc phân tích dẫn chứng khiến cho bài văn nghị luận không đạt yêu cầu đề ra.
2.1.1 Diễn xuôi và kể lể dẫn chứng
Diễn xuôi dẫn chứng là tình trạng rất phổ biến trong bài làm của học sinh.Các em
trích dẫn được nhưng lại sa vào diễn giải ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh, kể lại nội dung
đoạn trích.Đối với tác phẩm truyện, học sinh thườngkể lại các chi tiết, sự kiện khiến bài
văn phân tích thiên về văn tự sự.Chẳng hạn đối với những đề văn về tác phẩm “Vợ nhặt”
học sinh bắt đầu bằng việc kể: “Tràng vốn xuất thân từ xóm ngụ cư, làm nghề đẩy xe bò
thuê. Gia cảnh rất nghèo khó.Đã vậy anh còn xấu xí.Đầu thì nhẵn thín, cái mặt thì
“quai hàm bạnh, mắt nhỏ tý gà gà”, lưng thì “to như lưng gấu”. Một hôm Tràng kéo xe
bò lên dốc tỉnh, mệt quá Tràng hò một câu chơi cho đỡ mệt thì có một người con gái
chạy ra đẩy xe cho Tràng. Người con gái đó vừa đẩy xe vừa cười tít mắt. Tràng sung
sướng lắm vì từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa có ai cười với hắn một cách tình từ
đến thế…
Đối với tác phẩm thơ thì không ít học sinh sa vào “diễn nôm” lại ý nghĩa của
những câu thơ. Tuy cần phải cắt nghĩa, giảng giải để hiểu rõ thêm, để thấy được những
đặc sắc riêng của câu thơ, bài thơ, nhưng không có nghĩa là học sinh chỉ việc diễn nôm



Hoặc với đề văn sau: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” (Gor-ki). Anh/ chị hãy
làm sáng tỏ ý kiến trên qua những chi tiết đặc sắc trong truyện ngắn 1930-1945”. Rõ
ràng đề văn chỉ yêu cầu phân tích một khía cạnh của tác phẩm đó là các chi tiết nhưng
rất nhiều học sinh con mông lung trong việc phân tích dẫn chứng dẫn đến bê hết toàn bộ
kiến thức về tác phẩm vào bài văn nghị luận.
Khi phân tích dẫn chứng trong văn nghị luận, người viết cần đảm bảo tính hệ
thống. Nghĩa là các dẫn chứng phải được phân tích theo một trình tự, quy luật nhất định.
Tính hệ thống sẽ giúp cho người viết tránh được tình trạng phân tích dẫn chứng một
cách tràn lan và mất kiểm soát.
2.2 Phân tích dẫn chứng
2.2.1 Các bước phân tích
Để phân tích một dẫn chứng vừa đủ vừa đúng, người viết có thể thực hiện theo
nhiều cách. Dưới đây là 3 cách cơ bản với các bước phân tích dẫn chứng thường gặp
trong văn nghị luận.
Cách 1:
+ Có một lời dẫn nhỏ
+ Đưa ra dẫn chứng
+ Phân tích dẫn chứng ( cách cảm nhận, đánh giá, nhận xét của em về dẫn chứng
đó)
Ví dụ:Ở “Thu vịnh”, người đọc nhận ra những nét bút tinh tế tuy chỉ chấm phá
mà thâu tóm được cái thần của mùa thu. Hồn thu nhẹ nhàng toả ra từng câu chữ:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Cảnh thu hiện ra với những nét đặc sắc nhất. Nguyễn Khuyến đã kịp ghi lại cái
xanh ngắt đặc trưng của trời thu - cái màu xanh mà không mùa nào có được. Cái xanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status